Hà Nội, Ngày 16/05/2021

Bàn về hoạt động giám sát của HĐND quận, thị xã khi tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại TP Hà Nội

Ngày đăng: 29/04/2021   09:48
Mặc định Cỡ chữ
Từ ngày 01/7/2021, TP Hà Nội chính thức triển khai "Ðề án thí điểm quản lý theo mô hình chính quyền đô thị" theo Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội tại 177 phường thuộc 12 quận và thị xã Sơn Tây. Theo đó, bắt đầu từ nhiệm kỳ 2021-2026, 177 phường thuộc 12 quận và thị xã Sơn Tây của TP Hà Nội sẽ không tổ chức HĐND phường.

Tại Điều 1 của Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội quy định, chính quyền địa phương ở TP Hà Nội, huyện, quận, thị xã, xã, thị trấn là cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND. Chính quyền địa phương ở các phường thuộc quận, thị xã tại TP Hà Nội là UBND phường. Như vậy, bắt đầu từ nhiệm kỳ 2021-2026, 177 phường thuộc 12 quận và thị xã Sơn Tây của TP Hà Nội sẽ không tổ chức HĐND phường.

Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp nói chung được quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Riêng nhiệm vụ giám sát còn được quy định cụ thể trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND năm 2015. Vậy khi TP Hà Nội thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, không tổ chức HĐND phường thì hoạt động giám sát sẽ được thực hiện như thế nào?

Vướng mắc trong thực hiện

Theo Luật quy định: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý[1]”. Giám sát là hoạt động có mục đích, luôn gắn với chủ thể, đối tượng nhất định và được tiến hành theo quy định. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại TP Hà Nội, để HĐND quận, thị xã thực hiện được đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động giám sát của HĐND hiện còn vướng mắc.

Về đối tượng giám sát. Bên cạnh việc giám sát đối với các cơ quan cùng cấp (UBND, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự quận, thị xã) theo như quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND năm 2015 thì HĐND quận, thị xã còn thực hiện giám sát đối với UBND, chủ tịch UBND phường. Như vậy, đây là một nhiệm vụ rất khó khăn của HĐND quận, thị xã trên địa bàn TP Hà Nội vì cùng một lúc phải thực hiện giám sát với hai nhóm đối tượng. So với các HĐND cấp huyện khác, HĐND quận, thị xã trên địa bàn TP Hà Nội sẽ phải “gánh” thêm nhiều việc khi số lượng đối tượng bị giám sát của HĐND quận, thị xã tăng (HĐND của 12 quận và thị xã thực hiện giám sát thêm 177 UBND phường). Điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND quận, thị xã.

Về hình thức giám sát. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND năm 2015 quy định 5 hình thức giám sát cơ bản của HĐND. Nhưng với đặc thù của TP Hà Nội hiện nay thì HĐND quận, thị xã không thể sử dụng hết cả 5 hình thức để giám sát UBND phường. HĐND quận, thị xã chỉ có thể giám sát UBND phường thông qua 3 hình thức: xem xét báo cáo công tác, xem xét việc trả lời chất vấn của các đối tượng bị chất vấn và giám sát chuyên đề. Tuy nhiên với 3 hình thức này, vì số lượng đối tượng giám sát tăng nên đối tượng báo cáo, chất vấn cũng sẽ tăng, khiến cho kỳ họp của HĐND có thể bị kéo dài, hoặc HĐND sẽ bị lúng túng khi giám sát nếu không có quy định cụ thể.

Khi Luật đã trao cho HĐND quận, thị xã thẩm quyền giám sát thì cũng có nghĩa HĐND quận, thị xã được giám sát UBND phường bằng công cụ là xem xét văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên hiện nay, UBND phường không còn thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật[2] nên HĐND quận, thị xã không thể sử dụng hình thức giám sát này với UBND phường. Đồng nghĩa với việc, trong quá trình xem xét kết quả giám sát, HĐND quận, thị xã cũng không còn thẩm quyền bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định của UBND phường. Đối với các quyết định không phải là văn bản quy phạm pháp luật, thẩm quyền đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND phường được giao cho chủ tịch UBND quận, thị xã[3].

Đối với hình thức lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm: hiện nay, HĐND chỉ tiến hành lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND bầu hoặc phê chuẩn (trong đó có chủ tịch, phó chủ tịch và ủy viên UBND cùng cấp). Tuy nhiên Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND phường ở Hà Nội do Chủ tịch UBND quận, thị xã quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật, tạm đình chỉ công tác[4]. Như vậy, HĐND quận, thị xã không thể tiến hành lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm với các chức danh này.

Tóm lại, HĐND quận, thị xã không thể sử dụng mọi công cụ giám sát mà Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND năm 2015 đã trao cho mình để giám sát UBND phường. Đối với những công cụ không thể sử dụng được (xem xét văn bản quy phạm pháp luật, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm), HĐND quận, thị xã chỉ có thể giám sát UBND phường thông qua việc giám sát hoạt động của UBND cùng cấp (UBND quận, thị xã). Nghĩa là HĐND sẽ giám sát gián tiếp chứ không phải trực tiếp đối với UBND phường. Điều này vô hình trung làm giảm vai trò giám sát của HĐND quận, thị xã, trong khi hiệu quả của các hình thức giám sát khác cũng vẫn còn khá khiêm tốn.

Về nội dung giám sát. Hiện nay, khi chưa thí điểm bỏ HĐND phường, công tác giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND và hoạt động của các cơ quan nhà nước khác được thường trực HĐND, các ban của HĐND phường thực hiện có hệ thống, sâu sát. Tuy nhiên, khi thực hiện thí điểm, có khả năng HĐND quận, thị xã sẽ gặp khó khăn trong giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức và công dân trên địa bàn phường do đến nay vẫn chưa có quy định cụ thể về thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ đối với cơ quan giám sát. Hơn nữa, nội dung giám sát rất rộng. Với đội ngũ nhân lực của HĐND quận, thị xã như hiện nay sẽ khó khăn cho HĐND trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Dù Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã biểu quyết thống nhất trình Quốc hội xem xét, quyết định tăng số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách của HĐND TP Hà Nội nhiệm kỳ 2021-2026 lên 19 người (tăng 9 người so với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015), nhưng số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách của HĐND quận, thị xã vẫn giữ nguyên, trong khi đội ngũ này là những người trực tiếp tiến hành hoạt động giám sát đối với UBND phường.

Một số đề xuất

Hiện nay các quy định về hoạt động giám sát của HĐND quận, thị xã tại TP. Hà Nội khi thí điểm mô hình chính quyền đô thị vẫn giống như hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện nói chung trên cơ sở quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND năm 2015. Để hoạt động giám sát thực sự phát huy hiệu quả, thể hiện được tính đặc thù của mô hình chính quyền đô thị, TP Hà Nội cần tiếp tục hoàn thiện văn bản triển khai thi hành Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội. Một số đề xuất cụ thể như:

Một là, HĐND TP Hà Nội cần sớm ban hành các quy định đặc thù về tổ chức và hoạt động của HĐND quận, thị xã trên cơ sở các quy định của Quốc hội, Chính phủ, tránh việc HĐND quận, thị xã lúng túng trong triển khai các hoạt động của mình.

Hai là, ban hành các quy định để phân biệt giữa giám sát của HĐND quận, thị xã đối với UBND quận, thị xã và giữa giám sát của HĐND quận, thị xã đối với UBND phường. Hiện nay, các quy định về hoạt động giám sát của HĐND quận, thị xã với 2 đối tượng này chưa có sự phân biệt rõ ràng.  

Ba là, cần quy định tăng số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách của HĐND quận, thị xã để đảm bảo hiệu quả hoạt động của HĐND.

Bốn là, quy định rõ các hình thức giám sát của HĐND quận, thị xã đối với UBND phường. Bên cạnh đó, cấp có thẩm quyền cũng cần quy định cụ thể về thẩm quyền, nhiệm vụ đối với cơ quan giám sát để có thể phát huy vai trò giám sát, vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

Năm là, bổ sung thêm các quy định về chế tài hậu giám sát để đảm bảo cho UBND phường thực hiện theo đúng chức trách, nhiệm vụ được giao, tránh trường hợp UBND phường chủ quan, lơ là trong hoạt động khi không có HĐND phường giám sát./.

-------------------------

[1] Khoản 1, Điều 2, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND năm 2015.

[2] Khoản 2, Điều 5, Nghị quyết số 97/2019/QH14.

[3] Khoản 3, Điều 4, Nghị quyết số 97/2019/QH14.

[4] Khoản 1, Điều 4, Nghị quyết số 97/2019/QH14 và khoản 1, khoản 3, điều 3, Nghị định số 32/2021/NĐ-CP.

 

ThS Nguyễn Thùy Dương, Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong TP Hà Nội

Theo: xaydungdang.org.vn

Tin tức cùng chuyên mục

5 kinh nghiệm của Đắk Lắk trong sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế

Ngày đăng 13/05/2021
Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, có diện tích tự nhiên là 13.125km2, dân số gần 1,9 triệu người với 49 dân tộc anh em, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 35,7% dân số toàn tỉnh. Đảng bộ tỉnh có 20 đảng bộ trực thuộc, trong đó có 13 đảng bộ huyện, 1 đảng bộ thành phố, 1 đảng bộ thị xã; 1 đảng bộ khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh; 3 đảng bộ lực lượng vũ trang và 1 đảng bộ cơ sở Trường Đại học Tây Nguyên; có 701 tổ chức cơ sở đảng (với 409 đảng bộ và 292 chi bộ). Thời gian qua, Đắk Lắk triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, số 19-NQ/TW rất bài bản, khoa học, cẩn trọng và đã đạt được những kết quả bước đầu.

Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững

Ngày đăng 12/05/2021
Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành nguồn nhân lực của quốc gia, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay, phát triển nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Do đó, việc nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực, trong đó có nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và là một tất yếu khách quan. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặt ra nhằm góp phần thực hiện thành công mục tiêu đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch với những đổi mới mạnh mẽ về công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ

Ngày đăng 05/05/2021
Trong công tác xây dựng ngành Ngoại giao trong sạch, vững mạnh, cố Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã có công lao rất lớn. Với tầm nhìn chiến lược sáng suốt, sắc sảo; tư duy và cách làm rất mới mẻ, sáng tạo, đột phá, ông đã tạo ra một cuộc đổi mới toàn diện, thực sự cách mạng, xây dựng nên nền tảng mà đến nay Bộ Ngoại giao vẫn tiếp tục phát huy.

Có đúng là đổi mới đã cạn kiệt nguồn lực?

Ngày đăng 19/04/2021
Công cuộc đổi mới 35 năm qua đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Chính vì thế, mọi biểu hiện của đổi mới luôn được nhiều người chăm chú theo dõi, phân tích, đánh giá, nhận định. Trong các nhiệm kỳ Đại hội Đảng vừa qua, công cuộc đổi mới luôn được Đảng ta xác định rõ ngay trong chủ đề của Đại hội. Đại hội XI của Đảng xác định "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới…"[1]. Đại hội XII cũng nhấn mạnh "… đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới"[2]. Chủ đề của Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: "…tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới…"3.

Một số vấn đề lý thuyết về đánh giá cán bộ

Ngày đăng 15/04/2021
Việc đánh giá cán bộ (hay đánh giá nhân sự) có thể được hiểu là một quy trình gồm nhiều bước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để xác định mức độ công việc mà cán bộ hoàn thành cả về số lượng và chất lượng, trên cơ sở những mục tiêu cần đạt được do cơ quan, tổ chức đề ra.