Hà Nội, Ngày 25/10/2021

Bàn về các tiêu chí xác định nghiệp đoàn, nhóm xã hội, mạng lưới xã hội

Ngày đăng: 07/10/2021   03:51
Mặc định Cỡ chữ
Thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế và trở thành thành viên của các tổ chức khác nhau, như: Công ước số 98 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về quyền tổ chức và thương lượng tập thể, Hiệp định Thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác xuyên Thái bình Dương (TPP)… Theo đó, cùng với tổ chức công đoàn, xuất hiện loại hình tổ chức nghiệp đoàn để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động trong các cơ sở sản xuất và xã hội. Từ đó cho thấy việc định hình khái niệm với các tiêu chí (hay đặc điểm cơ bản) của nghiệp đoàn là cần thiết, làm cơ sở cho việc điều chỉnh pháp luật khi có tranh chấp lao động cũng như quản lý đối với loại hình tổ chức này trên thực tế.  
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Tiêu chí xác định nghiệp đoàn

Cho đến nay chưa có nhận thức thống nhất đối với khái niệm nghiệp đoàn, mỗi quan niệm dựa trên cách tiếp cận của mình để đưa ra quan niệm phù hợp. Theo Từ điển tiếng Việt: nghiệp đoàn "là tổ chức của những người cùng nghề nghiệp, để bảo vệ lợi ích chung"(1). Ở một góc độ khác "nghiệp đoàn" tồn tại cùng với khái niệm "nghiệp chủ" và hai chủ thể của khái niệm có phần đối lập với nhau về lợi ích trên thực tế. Hoặc theo quy định của Nhật Bản và Cộng hòa Liên bang Đức thì nghiệp đoàn tương tự như công đoàn của Việt Nam… 

Thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế và trở thành thành viên của các tổ chức khác nhau, như: Công ước số 98 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về quyền tổ chức và thương lượng tập thể, Hiệp định Thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EVFTA), hay Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)… Theo đó, cùng với tổ chức Công đoàn, xuất hiện loại hình tổ chức nghiệp đoàn (NĐ) để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động trong các cơ sở sản xuất và xã hội. Từ đó cho thấy việc định hình khái niệm với các tiêu chí (hay đặc điểm cơ bản) của NĐ là cần thiết, làm cơ sở cho việc điều chỉnh pháp luật khi có tranh chấp lao động cũng như quản lý đối với loại hình tổ chức này trên thực tế.  

Tuy chưa có sự thống nhất nhưng căn cứ vào những quan niệm hiện có như: Từ điển tiếng Việt; Điều lệ Công đoàn Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 174/QĐ-TLĐ ngày 03/02/2020 của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam; Hướng dẫn số 03/HD-TLĐ ngày 20/02/2020 thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam; Luật về quan hệ lao động quốc gia của Hoa Kỳ và một số tư liệu, bước đầu có thể định hình khái niệm NĐ như sau: là tổ chức có tên gọi cụ thể theo ngành, nghề, được thành lập trên cơ sở pháp lý xác định với số lượng thành viên tối thiểu theo quy định, nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi chính đáng của người lao động tự do theo địa bàn hoặc trong doanh nghiệp, có hình thức tổ chức và cách thức hoạt động phù hợp quy định pháp luật.

Quan niệm nêu trên cho thấy các tiêu chí xác định NĐ là:

Thứ nhất, là tổ chức có tên gọi cụ thể theo ngành, nghề mà NĐ đó hoạt động. Ví dụ: NĐ bốc xếp chợ Bình Tây, NĐ nghề cá Việt Nam; 

Thứ hai, được thành lập trên cơ sở pháp lý xác định với số lượng thành viên tối thiểu theo quy định(2). Tiêu chí này cho thấy điều kiện thành lập NĐ đơn giản hơn so với những tổ chức khác, nhất là những tổ chức thuộc hệ thống chính trị ở nước ta.

Thứ ba, nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi chính đáng của người lao động tự do theo địa bàn hoặc trong doanh nghiệp. Tiêu chí này không chỉ thể hiện mục đích hoạt động của NĐ mà còn là dấu hiệu để phân biệt giữa NĐ với  tổ chức công đoàn và một số hội cùng lĩnh vực hoạt động; 

Thứ tư, có hình thức tổ chức và cách thức hoạt động phù hợp với quy định pháp luật. NĐ là tổ chức, do vậy cho dù là đơn giản thì cũng có hình thức tổ chức nhất định như số lượng thành viên tối thiểu, người sáng lập, nhiệm vụ của thành viên… Có nhiều cách phân loại khác nhau đối với hoạt động của tổ chức như: phân loại theo chủ thể hoạt động có cá nhân, tổ chức; phân loại theo mục đích hoạt động: bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động… cho dù theo loại nào thì yêu cầu đối với các hoạt động là phù hợp với quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam. Mặt khác, phải theo nguyên lý luật quốc gia có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự hình thành và phát triển của luật quốc tế và luật quốc tế có tác động tích cực nhằm phát triển và hoàn thiện luật quốc gia. Theo đó, phù hợp với quy định pháp luật bao gồm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế mà Việt Nam tham gia.

So sánh quan niệm trên về NĐ với công đoàn của Việt Nam cho thấy có sự tương đồng như: cùng là tổ chức, mục đích thành lập và chức năng là bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động… Nhưng cũng có những khác biệt rất lớn như:

Một là, về tính chất của tổ chức. Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội, có tính chất giai cấp của giai cấp công nhân và tính chất quần chúng. NĐ là tổ chức xã hội của người lao động có cùng ngành, nghề;

Hai là, về vị trí, vai trò. Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội khác nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh; phát huy truyền thống đoàn kết quốc tế, vì hoà bình, dân chủ, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội;

Ba là, về trách nhiệm, quyền hạn. Công đoàn Việt Nam trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân trên cơ sở gắn với lợi ích của quốc gia, dân tộc; có chức năng đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;

Bốn là, về phạm vi tổ chức. Công đoàn có ở các tổ chức, cơ quan, đơn vị. Trong khi đó, NĐ hoạt động theo địa bàn hoặc theo đơn vị sử dụng lao động.

Tiêu chí xác định nhóm xã hội

Cũng giống như các khái niệm khác trong khoa học, nhóm xã hội được nghiên cứu từ nhiều giác độ khác nhau, theo đó có những cắt nghĩa tương ứng:

J.P.Chaplin tác giả của Từ điển Tâm lý học được Dell xuất bản ngày 01/9/1985 cắt nghĩa: Nhóm là sự tập hợp các cá nhân mà ở đó họ có một số đặc điểm chung hoặc cùng theo đuổi một số mục đích giống nhau;

Hoặc John.C.Bringham, R.Schlenker tác giả của cuốn Ý thức hệ và định kiến, cho rằng: Nhóm là một tập hợp của hai hoặc nhiều người, giữa các thành viên có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau về hành vi. Nhóm là một đơn vị tồn tại có tổ chức, các thành viên nhóm có cùng chung những lợi ích và các mục đích … 

Thực tiễn Việt Nam, chúng tôi cho rằng khái niệm "nhóm xã hội" cần phản ánh được các đặc điểm sau đây: có một số lượng thành viên tối thiểu (từ hai người trở lên); các thành viên của nhóm có chung mục đích hoạt động và cùng chia sẻ trách nhiệm để đạt tới mục đích đó, vì lợi ích tập thể và vì sự tiến bộ chung; mỗi thành viên trong nhóm có vị trí, vai trò nhất định gắn với một công việc cụ thể của nhóm và có thể thay đổi theo những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể; mối quan hệ giữa các thành viên tương đối bền vững, phụ thuộc vào nhau, sự việc xảy ra với người này có ảnh hưởng tới người khác; hoạt động của các thành viên trong nhóm có sự tương tác, chia sẻ, ảnh hưởng đến nhau trực tiếp hoặc gián tiếp; sự tác động giữa các thành viên trong nhóm có thể dựa trên những quy tắc, tiêu chuẩn riêng.

Từ đó có thể đưa ra quan niệm "nhóm xã hội" là tập hợp tương đối bền vững từ hai người trở lên, cùng chung mục đích hoạt động, mỗi thành viên có vị trí, vai trò khác nhau nhưng mối quan hệ và hoạt động của họ dựa trên sự chia sẻ trách nhiệm, vì lợi ích chung, có sự tương tác, ảnh hưởng đến nhau trực tiếp hoặc gián tiếp và có thể thay đổi theo những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. 

Tiêu chí xác định mạng lưới xã hội

"Mạng lưới xã hội" - Social network được Nhà nhân học người Anh J.A. Barnes đưa ra năm 1954 khi phân tích các mối liên hệ giữa các thành viên trong cộng đồng tổ chức xã hội tại Bremnes. Theo Barnes, mạng lưới xã hội là “Các mối quan hệ của con người”(3).  

Một số tác giả khác của nước ngoài cho rằng, mạng lưới xã hội là nguồn lực gắn liền với quan hệ xã hội và vốn xã hội; vốn xã hội nằm trong quan hệ xã hội; vốn xã hội ở trong mạng lưới xã hội; mạng lưới xã hội là một thành tố của vốn xã hội; cần quan sát vốn xã hội thông qua mạng lưới xã hội(4)…

Các nghiên cứu trong nước cũng được nhiều tác giả đề cập như: GS.TS Lê Ngọc Hùng cho rằng, mạng lưới xã hội là “Phức hợp các mối quan hệ của các cá nhân trong các nhóm, các tổ chức, các cộng đồng. Các mạng lưới xã hội bao gồm các quan hệ đan chéo, chằng chịt lẫn nhau từ quan hệ gia đình, thân tộc, bạn bè, láng giềng, cho tới các quan hệ trong tổ chức, đoàn thể…”(5). PGS.TS Vương Xuân Trinh thì cho rằng: Mạng lưới xã hội - Social network là cấu trúc xã hội do cá nhân hay tổ chức tạo lập qua các điểm nút (Node) được gắn bó bằng một hay nhiều kiểu phụ thuộc lẫn nhau như bạn bè, họ hàng, mối quan tâm chung, trao đổi về tài chính cũng như sự ghét bỏ, quan hệ giới, hoặc các mối quan hệ về niềm tin, tri thức hay uy tín(6). 

Mỗi quan niệm đều phản ánh đúng đối tượng nghiên cứu, tuy vậy với góc độ tiếp cận khái quát, chúng tôi thể hiện sự chia sẻ nhiều hơn với quan niệm của PGS.TS Vương Xuân Trinh. Theo đó, nêu thêm một số so sánh với khái niệm NĐ và nhóm xã hội là đối tượng trao đổi của bài viết này:

Thứ nhất, mạng lưới xã hội không chỉ thể hiện cấu trúc phức tạp của xã hội, mà còn thể hiện các mối quan hệ khác nhau phức tạp hơn nhiều so với NĐ và nhóm xã hội;

Thứ hai, so với nhóm xã hội và NĐ thì mạng lưới xã hội có những điểm tương đồng như chủ thể đều là con người trong xã hội; 

Thứ ba, điểm khác biệt thể hiện trên một số phương diện như NĐ là tổ chức, còn nhóm xã hội, mạng lưới xã hội tồn tại với đúng tính chất và tên gọi của nó; chủ thể mối quan hệ nội tại đa dạng hơn…

Một số nội dung trao đổi trên, hy vọng sẽ góp phần cung cấp thông tin và tạo lập cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền tham.khảo trong quá trình xây dựng, ban hành, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật liên quan nhằm quản lý một cách tốt nhất và phát huy tối đa các nguồn lực xã hội cho sự phát triển chung của đất nước./. 

------------------------------------

Ghi chú:

(1), (2) Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2007.

(3) Barnes, J. A.1954. "Class  and Committees  in  a  Norvegian  Island  Parish". Human Relations, VII, 1: 39-58.

(4) Đào Ngọc Tuấn: Mạng lưới xã hội của nhóm sĩ quan cấp úy quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Luận án tiến sĩ, chuyên ngành Xã hội học, Hà Nội, 2017.

(5) Lê Ngọc Hùng: Lý thuyết và phương pháp tiếp cận mạng lưới xã hội: Trường hợp tìm kiếm việc làm của sinh viên. Tạp chí Xã hội học, số 2 (82), 2003, tr.67-75.

(6) Tạp chí Dân tộc học, số 2 - 2019, tr.3.

 

TS Tạ Ngọc Hải - Phó Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

ThS Trần Thị Bích Ngọc - Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Công tác xây dựng và triển khai thực hiện các quy định của Đảng về kiểm soát tài sản thu nhập của cán bộ, đảng viên

Ngày đăng 21/10/2021
Những năm qua, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập (TSTN) của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện kê khai đã được các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp quan tâm triển khai thực hiện nghiêm túc đã góp phần nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng và phòng, chống tham nhũng (PCTN), lãng phí, tiêu cực.

Pháp chế và nhà nước pháp quyền

Ngày đăng 19/10/2021
Có quan điểm cho rằng trong nhà nước pháp quyền, pháp chế sẽ dần lạc hậu, mất đi; nhưng cũng có nhiều quan điểm khẳng định pháp chế vẫn tiếp tục hiện hữu. Bài viết nghiên cứu về vấn đề này trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn về sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống với yếu tố mới trong lĩnh vực nghiên cứu về nhà nước và pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Nhận diện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng

Ngày đăng 15/10/2021
Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, trong điều kiện hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ, đảng viên nếu không vững vàng về chính trị, không thống nhất về tư tưởng, không trong sạch về đạo đức, lối sống, không kiên định về hành động... nhất định không đảm đương được nhiệm vụ, toàn Đảng không thể đứng vững, chế độ bị đe dọa. Vì vậy, ngăn chặn, đẩy lùi, loại bỏ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, quét sạch tham nhũng, chủ nghĩa đầu hàng… trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp... là việc rất cấp bách và rất quan trọng, mệnh hệ tới sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ ta, là công việc và danh dự của dân tộc ta. Đó là tư tưởng hành động của những quyết sách của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, là nguyện vọng của Nhân dân. Trân trọng giới thiệu chủ đề “Thanh trừ suy thoái, ‘tự chuyển hóa”; quét sạch tham nhũng, chủ nghĩa đầu hàng.

Đào tạo nhân tài trong thời kỳ mới

Ngày đăng 14/10/2021
Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài theo định hướng trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, việc đào tạo nhân tài có ý nghĩa chiến lược. Trên cơ sở khái quát kinh nghiệm tuyển mộ, chiêu dụng nhân tài trong lịch sử dân tộc, bài viết đề xuất một số phương hướng xây dựng lộ trình đào tạo nhân tài của Việt Nam hiện nay, trong đó việc xác định rõ các tiêu chí về chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới các khâu đào tạo nhân tài, như: đổi mới hình thức tìm kiếm, phát hiện người tài; xây dựng cơ chế thu hút người tài; đào tạo nhân tài gắn với sử dụng... có ý nghĩa then chốt.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý cần tự bảo vệ để không mắc vào những "cạm bẫy"

Ngày đăng 11/10/2021
Vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”. Đây là một vấn đề mới, thể hiện một bước trong quá trình triển khai, quán triệt, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: Đó là “cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(1).  

Tiêu điểm

Bổ sung khen thưởng với đại biểu Quốc hội và người nước ngoài

Sáng 23/10/2021, Quốc hội đã nghe Tờ trình và Báo cáo Thẩm tra dự thảo Luật Thi đua, Khen thưởng (sửa đổi) do Bộ Nội vụ (Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương) chủ trì soạn thảo. Đây cũng là dự án Luật đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ dư luận, với nhiều điểm mới được sửa đổi, bổ sung. Cuộc phỏng vấn sau đây với đồng chí Phạm Thị Thanh Trà - Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương, sẽ cụ thể hơn về những điểm mới của dự thảo Luật Thi đua, Khen thưởng (sửa đổi).