Hà Nội, Ngày 28/03/2020

Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách công ở Việt Nam

Ngày đăng: 25/03/2020   03:27
Mặc định Cỡ chữ
Trong chu trình chính sách công, thực thi chính sách có vai trò thực hiện mục tiêu chính sách, kiểm nghiệm chính sách trong thực tế, và góp phần cung cấp luận cứ cho việc hoạch định, ban hành chính sách tiếp theo. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công, trong đó có ba yếu tố chủ yếu là chất lượng chính sách; đối tượng bị tác động bởi chính sách (đối tượng chính sách) và chủ thể thực thi chính sách. Trên cơ sở khái lược các nghiên cứu có liên quan, bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công, từ đó đề xuất một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi chính sách công ở Việt Nam.
 

1. Một số nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hiệu quả thực thi chính sách công

Sau thập niên 70 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu về chính sách công đã xuất phát từ các góc độ khác nhau để nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách công, từ đó hình thành nên các mô hình khác nhau. Có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình như sau:

Trong bài viết "Quá trình thực thi chính sách" (1973), T.B. Smith cho rằng, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công, bao gồm: 1) chất lượng chính sách, cụ thể là mục tiêu chính sách có phù hợp với thực tế hay không, nội dung của chính sách có phù hợp, và phương án chính sách có rõ ràng, khả thi hay không? 2) cơ quan hoặc tổ chức thực thi chính sách, tức năng lực của cơ quan hoặc tổ chức chịu trách nhiệm thực thi chính sách như thế nào? 3) đối tượng chính sách, tức mức độ tiếp nhận chính sách của đối tượng chính sách như thế nào? 4) nhân tố môi trường, tức môi trường văn hóa, xã hội, chính trị và kinh tế ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách[1].

Hai tác giả D.S. Meter và C.E. Van Horn cho rằng, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách, những yếu tố này vừa bao gồm nhân tố của bên trong vừa bao gồm nhân tố bên ngoài (môi trường). Theo hai ông, có 6 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công, đó là: 1) mục tiêu và nội dung của chính sách có cụ thể, khả thi hay không? 2) nguồn lực chính sách, tức nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin…) phục vụ cho thực thi chính sách có đầy đủ hay không? 3) sự trao đổi, phối hợp giữa các tổ chức và thành viên trong tổ chức trong quá trình thực hiện; 4) năng lực của cơ quan thực thi chính sách; 5) môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội; 6) nhận thức và thái độ của nhân viên thực thi chính sách[2].

Hai tác giả McLaughlin và Milbrey Walin cho rằng, việc thực thi có hiệu quả chính sách công dựa trên các yếu tố như: 1) mức độ thống nhất, đồng thuận về mặt nhu cầu và quan điểm giữa chủ thể thực thi chính sách và đối tượng chính sách; 2) mức độ tương tác, chia sẻ thông tin theo hướng bình đẳng giữa chủ thể thực thi chính sách và đối tượng chính sách; 3) sự linh hoạt về mục tiêu và phương thức thực hiện chính sách theo sự thay đổi của môi trường của chủ thể thực thi chính sách; 4) lợi ích và định hướng giá trị của đối tượng chính sách[3].

Hai tác giả Paul A. Sabatier và Daniel A. Mazmanian cho rằng, có ba nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách, đó là: 1) tính chất của vấn đề chính sách; 2) chất lượng chính sách, nguồn lực cho chính sách, sự tương tác và phối hợp giữa các cơ quan trong thực thi chính sách, năng lực của nhân viên thực thi chính sách, sự tham gia của xã hội; 3) các yếu tố bên ngoài thuộc về môi trường như môi trường kinh tế, sự tham gia của truyền thông đại chúng, mức độ ủng hộ và sự tham gia của công chúng và các đoàn thể xã hội[4].

Trong cuốn sách "Thực thi chính sách công" (1980), George C. Edwards cho rằng, sự tác động của bốn nhân tố chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp và/hoặc gián tiếp đến hiệu quả thực thi chính sách công, đó là: 1) tuyên truyền và truyền thông chính sách nhằm làm cho người thực thi chính sách hiểu rõ chính sách; 2) nguồn lực cho thực thi chính sách (nhân lực, thông tin, vật lực…); 3) thái độ, sự ủng hộ và sự quyết tâm của người thực thi chính sách; 4) cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của cơ quan hành nhà nước[5].

Cũng có quan điểm cho rằng, có ba nhóm nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công, đó là: 1) đặc tính của vấn đề chính sách (tính chất của vấn đề chính sách, tính đa dạng về mặt hành vi của đối tượng chính sách, số lượng đối tượng chính sách, số lượng hành vi của đối tượng chính sách mà chính sách cần điều chỉnh); 2) nhân tố của bản thân chính sách (tính đúng đắn của chính sách, tính rõ ràng cụ thể của chính sách, mức độ đầy đủ về nguồn lực cho thực thi chính sách, việc bố trí cơ quan và nhân viên thực thi chính sách); 3) nhân tố bên ngoài chính sách (mức độ ủng hộ của đối tượng chính sách, tố chất và thái độ làm việc của người thực thi, năng lực của cơ quan thực thi chính sách, sự phối hợp và trao đổi giữa các cơ quan tổ chức, giám sát chính sách, môi trường chính sách)[6].

2. Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công

Nhìn chung, các nghiên cứu nêu trên đã phân tích sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố đối với hiệu quả thực thi chính sách công. Kế thừa và phát triển các nghiên cứu nêu trên, có thể thấy các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công như sau:

Thứ nhất, tính chất của vấn đề chính sách. Tính chất của vấn đề chính sách, tính đa dạng hay đơn nhất về mặt hành vi của đối tượng chính sách, số lượng nhân khẩu thuộc đối tượng chính sách và số lượng hành vi của đối tượng chính sách cần điều chỉnh đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực thi chính sách công. Theo đó, vấn đề chính sách càng phức tạp, thì mức độ khó khăn, phức tạp trong thực thi càng lớn. Chẳng hạn, chính sách mang tính tổng hợp, liên quan đến nhiều lĩnh vực thì mức độ khó khăn trong thực thi càng lớn, hiệu quả thực thi chính sách do đó cũng bị ảnh hưởng. Các quan hệ quyền lực trong quá trình thực thi chính sách càng nhiều, liên quan đến nhiều cơ quan và nhiều người, mục tiêu chính sách càng cao, mức độ điều chỉnh lợi ích càng lớn, thì mức độ khó khăn trong thực thi cũng càng lớn. Số lượng hành vi cần điều chỉnh của đối tượng chính sách càng nhiều thì mức độ khó khăn trong thực thi chính sách càng lớn vì điều này làm cho việc xây dựng và ban hành hệ thống quy định điều chỉnh hành vi càng trở nên khó khăn hơn, do đó, hiệu quả thực thi chính sách sẽ bị ảnh hưởng. Số lượng đối tượng chính sách nhiều hay ít cũng ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách. Thông thường, chính sách càng rõ ràng, đối tượng mà chính sách điều chỉnh càng ít thì việc thực thi càng dễ, hiệu quả càng cao. Ngược lại, việc thực thi càng khó khăn và hiệu quả cũng thấp hơn. Mức độ điều chỉnh của chính sách đối với hành vi của đối tượng lớn hay nhỏ cũng ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách. Việc điều chỉnh một hành vi, một thói quen nào đó của đối tượng chính sách là mục tiêu hướng đến của chính sách. Tuy nhiên, nếu yêu cầu về sự thay đổi hành vi, thói quen đó không lớn thì hiệu quả chính sách cao, nếu mức độ thay đổi hành vi và thói quen lớn thì hiệu quả sẽ thấp hơn.

Thứ hai, tính đúng đắn và cụ thể của chính sách (hay chất lượng chính sách). Chất lượng chính sách ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực thi chính sách công. Sự ảnh hưởng của chất lượng chính sách đối với hiệu quả thực thi chính sách thể hiện ở hai điểm chủ yếu: 1) tính đúng đắn của chính sách. Tính đúng đắn của chính sách là tiền đề cơ bản cho việc thực thi có hiệu quả chính sách. Chính sách đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan và sự phát triển xã hội, thể hiện lợi ích công, thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại lợi ích thiết thực cho đối tượng chính sách thì sẽ có được sự thừa nhận, ủng hộ của đối tượng chính sách, người thực thi và xã hội, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả thực thi. Trái lại, sẽ không có được sự thừa nhận, ủng hộ của đối tượng chính sách. Chính sách đúng đắn thể hiện ở sự đúng đắn về nội dung, phương hướng cũng như việc hoạch định chính sách dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn đầy đủ. 2) Tính rõ ràng, cụ thể của chính sách. Tính rõ ràng, cụ thể của chính sách là yêu tố then chốt để thực thi chính sách có hiệu quả, là căn cứ cho hoạt động thực thi chính sách của chủ thể thực thi chính sách, cũng là cơ sở để tiến hành đánh giá và giám sát quá trình thực thi chính sách. Để thực thi thuận lợi một chính sách nào đó, về mặt kỹ thuật, chính sách đó cần phải rõ ràng, cụ thể, tức sự rõ ràng về phương án chính sách, mục tiêu chính sách, biện pháp chính sách và các bước triển khai. Đồng thời, tính rõ ràng và cụ thể của chính sách còn yêu cầu mục tiêu chính sách cần phù hợp với thực tế và có thể thực hiện được, có thể tiến hành so sánh và đo lường được. Phương án chính sách cần chỉ rõ kết quả đạt được, đồng thời cần xác định rõ thời gian hoàn thành. Trong thực thi chính sách, sự thiếu rõ ràng, cụ thể của chính sách sẽ dẫn đến sự khó khăn trong thực hiện, từ đó ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả thực thi chính sách.

Thứ ba, nguồn lực thực thi chính sách. Nguồn lực cho thực thi chính sách có đầy đủ hay không cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách. Ngay cả khi chính sách được ban hành rất rõ ràng, cụ thể, nhưng nếu cơ quan thực thi chính sách thiếu nguồn lực cần thiết, thì kết quả của việc thực thi chính sách đó cũng không thể đạt được mục tiêu chính sách như mong muốn. Vì thế, bảo đảm nguồn lực cho thực thi chính sách là yếu tố không thể thiếu để thực thi chính sách có hiệu quả. Nguồn lực cho thực thi chính sách bao gồm: nguồn lực kinh phí, nguồn lực con người (nguồn nhân lực), nguồn lực thông tin, nguồn lực thiết bị... Theo đó, cần phân bổ kinh phí đủ mức cho thực thi chính sách; đảm bảo nhân lực thực thi chính sách cả về số lượng và chất lượng, nhất là đảm bảo kỹ năng quản lý và kỹ năng hành chính cho đội ngũ nhân viên thực thi chính sách. Bên cạnh đó, cần đảm bảo nguồn thông tin đầy đủ để cơ quan thực thi chính sách xây dựng được kế hoạch hoạt động khả thi, phù hợp với thực tế cũng như kiểm tra, giám sát quá trình thực thi. Ngoài ra còn đảm bảo nguồn lực cơ sở vật chất, trang thiết bị cho thực thi chính sách và nguồn lực quyền lực cho thực thi chính sách.

Thứ tư, sự tương tác, trao đổi và phối hợp giữa các cơ quan và cá nhân trong thực thi chính sách. Sự tương tác và trao đổi giữa các cơ quan và cá nhân trong thực thi chính sách là một yếu tố quan trọng để thực thi chính sách có hiệu quả. Sự tương tác và trao đổi nhằm mục đích làm cho các cơ quan và cá nhân có liên quan nắm rõ nội dung của chính sách cũng như kế hoạch thực thi, từ đó tạo ra sự thống nhất trong nhận thức đối với mục tiêu chính sách và các vấn đề có liên quan. Sự tương tác và trao đổi có hiệu quả là một trong những điều kiện quan trọng để thực thi thành công chính sách. Điều này là vì, theo chiều dọc, sự tương tác và trao đổi làm cho cấp dưới nắm bắt được mục tiêu và yêu cầu chính sách của cấp trên, còn cấp trên cũng có thể nắm bắt được tình hình triển khai thực hiện của cấp dưới hay cấp thực thi trực tiếp; theo chiều ngang, việc thực thi chính sách thường liên quan đến nhiều cơ quan và nhiều người với chức năng, nhiệm vụ cụ thể, nhưng trong quá trình hợp tác giữa các cơ quan và thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công không tránh khỏi việc nảy sinh một số vấn đề, thậm chí là sự mâu thuẫn và xung đột. Vì vậy, sự tương tác, chia sẻ ý kiến và trao đổi theo chiều ngang có tác dụng giải quyết một số vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện sự hợp tác, phối hợp giữa các cơ quan. Từ mối quan hệ giữa chủ thể thực thi chính sách với đối tượng chính sách, mức độ ủng hộ và tiếp nhận của đối tượng chính sách được quyết định bởi sự tương tác giữa chủ thể thực thi chính sách và đối tượng chính sách. Do đó, việc chủ thể thực thi chính sách thông qua các kênh và phương thức khác nhau để truyền tải nội dung chính sách cho đối tượng chính sách, làm cho đối tượng chính sách hiểu rõ ý nghĩa và mục đích của chính sách cũng sẽ làm tăng lên sự tiếp nhận và ủng hộ của đối tượng chính sách đối với chính sách.

Cùng với tương tác và trao đổi, điều phối chính sách cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách. Sự điều phối là một phương thức nhằm tăng cường sự phối hợp giữa các bên, hạn chế những mâu thuẫn, xung đột, sự không đồng thuận giữa các bên. Điều phối thực thi chính sách gồm ba cấp độ: 1) điều phối nội bộ cơ quan thực thi, tức là sự điều phối của người lãnh đạo hay thủ trưởng cơ quan đối với các bộ phận chức năng và các thành viên trong cơ quan; 2) điều phối giữa các cơ quan thực thi chính sách bao gồm điều phối giữa cấp trên với cấp dưới và giữa các cơ quan cùng cấp; 3) điều phối giữa cơ quan thực thi chính sách với các cơ quan, tổ chức đoàn thể xã hội trong quá trình thực thi chính sách.

Thứ năm, sự tiếp nhận và ủng hộ của đối tượng chính sách. Đối tượng chính sách ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực thi chính sách. Chính sách có đạt được mục đích đề ra hay không, không chỉ phụ thuộc vào chất lượng chính sách và năng lực của chủ thể thực thi chính sách, mà còn phụ thuộc vào thái độ của đối tượng chính sách. Theo đó, nếu đối tượng chính sách tiếp nhận và ủng hộ chính sách thì việc thực thi chính sách sẽ thuận lợi. Còn nếu đối tượng chính sách không tiếp nhận chính sách, không ủng hộ chính sách thì việc thực thi sẽ khó khăn, từ đó làm cho chi phí thực thi chính sách tăng lên. Việc chỉ có một bộ phận đối tượng chính sách tiếp nhận chính sách cũng làm cho quá trình thực thi chính sách trở nên khó khăn hơn. Do đó, sự tiếp nhận và ủng hộ của đối tượng chính sách là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công. Mục tiêu chính sách thường đa dạng, nhưng thường được thể hiện là sự phân phối và điều chỉnh đối với lợi ích của một bộ phận người cũng như tiến hành kiểm soát hay làm thay đổi hành vi đối với một bộ phận người. Mức độ hưởng ứng và tiếp nhận chính sách của đối tượng chính sách vừa liên quan đến sự tính toán về mặt chi phí – lợi ích của đối tượng chính sách, vừa liên quan đến mức độ điều chỉnh của chính sách đối với hành vi của đối tượng chính sách. Một chính sách được ban hành, nếu mang lại lợi ích thiết thực cho đối tượng chính sách hoặc mức độ điều chỉnh của chính sách đối với hành vi của đối tượng chính sách không lớn thì thường dễ được đối tượng chính sách tiếp nhận, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Trái lại, nếu đối tượng chính sách cho rằng, chính sách đó không mang lại lợi ích cho họ, thậm chí ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của họ, hoặc mức độ điều chỉnh của chính sách đối với hành vi của đối tượng chính sách là lớn thì đối tượng chính sách thường ít tiếp nhận chính sách, thậm chí là cản trở thực hiện chính sách. Vì vậy, để tăng cường sự tiếp nhận của đối tượng chính sách, việc hoạch định chính sách cần phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, thể hiện được lợi ích cơ bản của người dân hoặc xác định mức độ phù hợp trong điều chỉnh hành vi đối với đối tượng chính sách.

Thứ sáu, phẩm chất và năng lực của những người thực thi chính sách. Bất cứ chính sách nào cũng cần dựa vào chủ thể thực thi chính sách để thực hiện. Việc người thực thi chính sách am hiểu, nắm vững chính sách, đầu tư cho việc thực thi chính sách, có tinh thần đổi mới, sáng tạo, trách nhiệm với công việc và có trình độ quản lý tương đối cao là điều kiện quan trọng để thực thi chính sách có hiệu quả. Trong thực tế, ở mức độ nhất định, việc thực thi chính sách không đạt mục tiêu như mong muốn là do phẩm chất và năng lực của người thực thi chính sách. Việc người thực thi chính sách thiếu tri thức và năng lực cần thiết, không nắm vững chính sách, không nắm được yêu cầu cơ bản của chính sách sẽ dẫn đến sự sai sót, thậm chí là sai lầm trong tuyên truyền và thực thi chính sách.

Thứ bảy, tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành của cơ quan thực thi chính sách. Tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành của cơ quan hành chính (cơ quan thực thi chính sách) ảnh hưởng rất quan trọng đến hiệu quả thực thi chính sách. Ở đây gồm hai phương diện cốt lõi: 1) Mức độ tiêu chuẩn hóa, quy chuẩn hóa trong vận hành và hoạt động của cơ quan hành chính. Tiêu chuẩn hóa, quy chuẩn hóa quá trình hoạt động và vận hành của cơ quan hành chính được hiểu là hệ thống các quy tắc, quy định được hình thành nhằm xử lý có hiệu quả các công việc thường ngày của tổ chức. Nếu các quy định, quy tắc phù hợp được thiết lập đồng bộ sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động thực thi chính sách. Bởi vì, việc xác lập các quy định, quy tắc phù hợp để điều chỉnh hoạt động của tổ chức sẽ giúp tổ chức tiết kiệm thời gian giải quyết công việc, thực hiện được yêu cầu công bằng trong phục vụ, từ đó có lợi cho việc thực thi chính sách; 2) Mức độ phân tán hay tập trung về quyền thực thi. Nếu quyền thực thi chính sách phân tán, thể hiện ở việc nhiều cơ quan đều có quyền thực thi chính sách thì sẽ dẫn đến sự khó khăn trong điều phối cũng như sự lãng phí về nguồn lực, từ đó không có lợi cho thực thi chính sách. Vì thế, việc xác định quyền lực tập trung đủ mức cho cơ quan thực thi chính sách sẽ giảm thiểu tình trạng trách nhiệm không rõ trong thực thi chính sách.

Thứ tám, môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Một nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách đó là, môi trường chính sách bao gồm môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Việc thực thi bất cứ chính sách nào cũng đều nằm trong sự ảnh hưởng và chế ước của môi trường. Môi trường thích hợp sẽ có lợi cho việc thực thi chính sách. Môi trường không thích hợp sẽ cản trở việc thực thi chính sách. Cụ thể, nếu trình độ kinh tế phát triển, nhất là kinh tế thị trường phát triển thì cơ quan thực thi chính sách càng có điều kiện để thu hút nguồn lực cho thực thi chính sách; trình độ văn hóa và sự hiểu biết của người dân sẽ tạo thuận lợi cho việc thực thi chính sách và ngược lại; dự luận xã hội, tính tự chủ và sự phát triển của các tổ chức xã hội cũng ảnh hưởng đến thực thi chính sách…

3. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi chính sách công ở Việt Nam

Khi phân tích nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trên một số lĩnh vực, Đảng ta đều đưa ra đánh giá, đó là: "tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu"[7]. Từ việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả thực thi chính sách công, có thể rút ra một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi chính sách ở Việt Nam như sau:

Một là, muốn nâng cao hiệu quả thực thi chính sách công, cần nâng cao chất lượng chính sách. Trong thực tiễn chính sách công ở Việt Nam, bên cạnh những chính sách đảm bảo chất lượng, cũng có không ít chính sách chất lượng không cao[8]. Chính điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả thực thi một số chính sách trong thực tế. Chất lượng không cao của một số chính sách thể hiện trên một số khía cạnh, như phương án và mục tiêu chính sách thiếu cụ thể, không rõ ràng, thiếu tính khả thi, mục tiêu chính sách quá cao, một số phương án chính sách được đề ra không phù hợp với thực tiễn. Chất lượng của một số chính sách không cao do nhiều nguyên nhân, trong đó gồm ba nguyên nhân chủ yếu: i) chưa coi trọng đúng mức việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách; ii) năng lực hoạch định chính sách của cơ quan hoạch định chính sách; iii) dân chủ hóa trong hoạch định chính sách chưa được coi trọng đúng mức, sự tham gia của người dân và hoạt động tư vấn, giám định và phản biện của các tổ chức chưa đáp ứng yêu cầu. Do đó, để góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, cần coi trọng nâng cao chất lượng chính sách theo hướng, coi trọng nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách, nâng cao năng lực của cơ quan hoạch định chính sách và dân chủ hóa quá trình hoạch định chính sách.

Hai là, để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, cần đảm bảo nguồn lực đủ mức cho thực thi chính sách. Trong thực tiễn thực thi chính sách công ở Việt Nam,  nhiều chính sách liên quan trực tiếp đến lợi ích và cuộc sống của đông đảo người dân như bảo vệ môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm... thực hiện chưa như mong muốn. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó, có nguyên nhân là việc phân bổ và đảm bảo nguồn lực chưa đủ mức. Do đó, để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách công, cần phân bổ nguồn lực đủ mức cho thực thi chính sách; thực hiện sự ưu tiên trong phân bổ nguồn lực để thực thi một số chính sách liên quan đến lợi ích và cuộc sống của nhiều người dân. Để đảm bảo nguồn lực cho thực thi chính sách, ngoài sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn lực do nhà nước đầu tư, cần thực hiện xã hội hóa tối đa cũng như sự tham gia của người dân và xã hội để có thêm nguồn lực cho thực thi chính sách.

Ba là, muốn nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, cần tăng cườngsự tương tác và phối hợp trong thực thi chính sách. Việc chưa coi trọng đúng mức sự tương tác và phối hợp giữa cấp trên với cấp dưới, giữa các cơ quan với nhau và giữa cơ quan thực thi chính sách với đối tượng chính sách cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiệu quả thực thi chính sách chưa như mong muốn. Điều này thể hiện ở chỗ: ở một số nơi, cấp trên thiếu sâu sát với cấp dưới, thiếu sự kiểm tra, giám sát, điều chỉnh đối với hoạt động thực thi chính sách của cấp dưới nên đã dẫn đến hệ quả tiêu cực; sự phối hợp giữa các cơ quan theo chiều ngang còn chưa tốt, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cơ quan còn chưa rõ dẫn đến sự chồng chéo, trùng lắp về nhiệm vụ cũng như không rõ về trách nhiệm. Chẳng hạn, “chỉ trên một dòng sông nhưng Bộ Giao thông vận tải phụ trách bảo đảm lưu thông luồng lạch, Bộ Tài nguyên và Môi trường phụ trách tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phụ trách quản lý thủy lợi. Đến khi “cát tặc” hoành hành thì không Bộ nào có trách nhiệm xử lý. Điều này là do chỉ một dòng sông mà có đến 3 bộ quản lý, từ đó dẫn đến việc không bên nào nhận trách nhiệm về mình[9]. Trong mối quan hệ giữa cơ quan thực thi chính sách với đối tượng chính sách, một số cơ quan vẫn thực hiện cách làm truyền thống là sử dụng biện pháp hành chính – mệnh lệnh; sự đối thoại, tương tác và nắm bắt thông tin kịp thời từ đối tượng chính sách trong quá trình thực thi chính sách của một số cơ quan chưa được coi trọng. Do đó, để góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, cần thông qua nhiều biện pháp để tăng cường sự tương tác và phối hợp giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các cơ quan cùng cấp và giữa cơ quan thực thi chính sách và đối tượng chính sách.

Bốn là, để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, cần thông qua các biện pháp khác nhau để tăng cường sự tiếp nhận và ủng hộ của đối tượng chính sách. Thực tiễn cho thấy, khi nào có được đồng thuận và ủng hộ của người dân thì chính sách được triển khai thuận lợi cũng như việc thực thi chính sách mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn một số chính sách chưa có được sự ủng hộ đúng mức của đối tượng chính sách. Nguyên nhân là do về mặt nội dung, một số phương án chính sách chưa xuất phát từ quyền và lợi ích của đối tượng chính sách, công tác tuyên truyền chính sách còn một số bất cập, chưa coi trọng đúng mức sự tham gia của đối tượng chính sách trong quá trình thực thi cũng như xây dựng, ban hành kế hoạch thực hiện... Do đó, để góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, cần coi trọng việc nâng cao mức độ tiếp nhận của đối tượng chính sách đối với chính sách thông qua việc thật sự tôn trọng và đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của đối tượng chính sách; đổi mới và tăng cường công tác tuyên truyền chính sách; tăng cường sự tham gia của đối tượng chính sách trong quá trình cụ thể hóa chính sách hay ban hành kế hoạch thực thi chính sách. Chẳng hạn như để tăng cường sự ủng hộ của người dân đối với các dự án xây dựng nông thôn mới, cần đảm bảo tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Năm là, để góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách công, cần nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chính sách. Một nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiệu quả thấp trong thực thi một số chính sách công ở Việt Nam đó là, năng lực và phẩm chất còn bất cập của một bộ phận cán bộ, công chức. Một bộ phận cán bộ, công chức còn yếu về năng lực và kỹ năng quản lý chính sách, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống là yếu tố tiêu cực ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực thi chính sách công hiện nay. Do đó, để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách công hiện nay, cần đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ tất cả các khâu của công tác cán bộ, công chức nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đảm bảo về phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Sáu là, để góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách công, cần coi trọng xây dựng tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn, có cơ chế vận hành phù hợp. Có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình thực thi chính sách công ở Việt Nam, trong đó chủ thể quyết định trực tiếp hiệu quả thực thi chính sách chính là bộ máy hành chính. Do đó, để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, cần đặt nhiệm vụ trọng tâm vào việc kiện toàn, đổi mới bộ máy hành chính theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ - pháp quyền; xây dựng tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn theo hướng quản lý hay phụ trách đa ngành, đa lĩnh vực, khắc phục tình trạng phân tán về nguồn lực, quyền lực và trách nhiệm không rõ trong thực thi chính sách./.

‐‐-------------------------------

Ghi chú: 

[1] T.B. Smith (1973): “The policy implementation process”, Policy Sciences, June, Volume 4, Issue 2, pp. 197–209.

[2] D.S. Van Meter and C.E.Van Horn (1975): “The Policy Implementation Process – A Conceptual Framework”, Administration and Society, Vol.6, No.4, Feb.

[3] McLaughlin and Milbrey Walin (1976): “Implementation as Mutual Adaptation – Change in Classroom Organizations” in Walter and Richard F.Elmore (eds.), Social Program Implementation, New York: Academic Press, pp. 167-180.

[4] Paul A.Sabatier and Daniel A.Mazmanian (1979 - 1980): Policy Implementation – A Famework of Analysis, Policy Studies Journal, Vol. 8, No. 4.

[5] George C.Edwards (1980): Implementing Public Policy, Washington, D.C.: Congressional Quaterly Press, p. 143.

[6] Xie-ming (2010): Khái luận chính sách công, Nxb. Đại học Nhân dân Trung Quốc, Bắc Kinh, Trung Quốc, tr. 296-304 (tiếng Trung).

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[9] Tạp chí Cộng sản điện tử (2018): Thể chế với phát triển kinh tế ở Việt Nam - Động lực hay rào cản, ngày 09/01/2018.

 

TS Nguyễn Trọng Bình - Giảng viên Học viện Chính trị khu vực IV

Theo: lapphap.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Sự ra đời và sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giai cấp, dân tộc và xã hội 

Ngày đăng 26/03/2020
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Từ khi thành lập cho đến nay, Đảng luôn thể hiện rõ là một đảng cách mạng chân chính, hội tụ sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam suốt 90 năm qua đã minh chứng cho tầm vóc bản lĩnh, trí tuệ của Đảng trên con đường lãnh đạo xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Phòng, chống các biểu hiện “diễn biến hoà bình” trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức

Ngày đăng 24/03/2020
Nhận thức đúng đắn về nội dung, thủ đoạn thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu của chúng là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của các cơ quan trong hệ thống chính trị hiện nay. Để làm tốt nhiệm vụ này; đẩy lùi nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức cần có giải pháp đồng bộ, toàn diện, trong đó đào tạo, bồi dưỡng là một giải pháp quan trọng. Tuy nhiên, không chỉ cần bồi dưỡng về năng lực mà còn cần nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ. Điều này đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải thực sự là những người có bản lĩnh, đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp, không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Sự lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Ngày đăng 17/03/2020
Trên cơ sở lý luận, thực tiễn - lịch sử những thập niên đầu của thế kỷ XX và quá trình vận động, phát triển của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua (1930-2020), trong đó có 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, bài viết khẳng định con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của nhân dân Việt Nam.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

Ngày đăng 13/03/2020
Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc, đưa ra những quan điểm sai trái với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trọng tâm là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; ý đồ phá hoại của các thế lực thù địch, phản động và tình hình bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đề xuất giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Phương thức xây dựng và phát huy vai trò của các think tank trong đời sống chính trị - xã hội ở Trung Quốc và một số gợi mở đối với Việt Nam

Ngày đăng 12/03/2020
Ở Trung Quốc, hoạt động của các think tank có vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng cũng như năng lực quản trị của Nhà nước. Vai trò của các think tank trong đời sống chính trị ở Trung Quốc chủ yếu là thúc đẩy đổi mới lý luận chính trị; phản ánh các vấn đề xã hội và nêu ra những sáng kiến chính sách; tham gia soạn thảo đường lối, chính sách; tư vấn phương án chính sách; phản biện phương án chính sách; giám sát, đánh giá việc thực thi chính sách và đánh giá quản trị công; truyền thông chính trị và định hướng dư luận xã hội; góp phần đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho khu vực công; phối hợp với các chủ thể khác thực hiện chính sách ngoại giao công. Các think tank ở Trung Quốc có thể phát huy được vai trò quan trọng là do nhiều nhân tố, trong đó đặc biệt là sự quan tâm phát huy vai trò think tank của Đảng và Nhà nước Trung Quốc.