Hà Nội, Ngày 28/03/2020

Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam

Ngày đăng: 16/01/2020   04:51
Mặc định Cỡ chữ
Bài viết phân tích quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam, qua đó đề xuất giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở, với phạm vi, đối tượng điều chỉnh phù hợp, cụ thể hơn.

1. Pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở

Xét trên phương diện tổ chức, pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở (pháp luật dân chủ ở cơ sở) bao gồm hệ thống các quy định về tổ chức và hoạt động của các thiết chế tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu trong một lĩnh vực cụ thể. Trên phương diện thủ tục, pháp luật dân chủ ở cơ sở là sự hợp thành của các phương pháp, trình tự, bước đi, hậu quả pháp lý do pháp luật ghi nhận để đảm bảo tính hợp pháp của quá trình thực hiện mục tiêu trong một lĩnh vực nhất định. Vì vậy, pháp luật dân chủ ở cơ sở là tổng thể các nguyên tắc, thể chế, thiết chế và các điều kiện đảm bảo, gắn kết với nhau, hợp thành hệ thống, do pháp luật quy định, nhằm xác lập các quyền và khả năng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ tại cơ sở.

Ở Việt Nam, các thiết chế dân chủ ở cơ sở được biểu hiện trước hết ở các thiết chế đại diện của nhân dân do Hiến pháp và các đạo luật quy định (Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật công đoàn…). Đây là các thiết chế do nhân dân lập ra và thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực của nhân dân. Thông qua hoạt động của các thiết chế này, người dân tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội và kiểm soát hoạt động của Nhà nước, buộc hoạt động thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước vận hành trong quỹ đạo phục vụ nhân dân.

2. Cơ sở xây dựng pháp luật dân chủ ở cơ sở

Ở nước ta, trước khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, chưa có một thể chế dân chủ chính thức nào, mà chỉ tồn tại những giá trị dân chủ nhất định thể hiện trong những không gian mang tính chất “dân chủ làng xã”. 

Tuy nhiên, ước vọng về dân chủ và thực hiện dân chủ luôn là chủ đề nhận thức của các nhà tư tưởng trong các phong trào cách mạng về giải phóng dân tộc. Điều này đã thể hiện rõ trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là tư tưởng về một nền dân chủ đích thực, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, xem dân chủ như là phương cách hữu hiệu để đem lại tự do, hạnh phúc, cơm ăn, áo mặc cho người dân, đem lại sự phát triển phồn vinh và ổn định cho đất nước… “Nhà nước của dân, do dân và vì dân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân”.., “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”, “quyền hành”, “trách nhiệm, lực lượng” là “của dân”, “đều ở nơi dân”. 

Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đề cập tới vai trò “người chủ đất nước” của mọi người dân. Người luôn chú trọng tạo dựng một môi trường dân chủ để dân dám “mở miệng” và chủ trương: “Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết”… Đồng thời, Người thường xuyên và kiên quyết chống lại những biểu hiện mất dân chủ, xâm phạm tới quyền dân chủ của nhân dân như tệ quan liêu, tham ô, lãng phí, chuyên quyền độc đoán, xa dân...

Xuất phát từ những tư tưởng nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ khi thành lập, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu: “Đảng không có lợi ích nào khác ngoài đem lại lợi ích cho nhân dân. Dân chủ là động lực và mục tiêu phấn đấu của Đảng”. Vì vậy, trong cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đã khẳng định: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Văn kiện các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII của Đảng luôn khẳng định nhất quán quan điểm về việc xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa và đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã chỉ ra tiêu chí, mô hình nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mô hình này rõ nét hơn trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh “do nhân dân làm chủ”. 

Nhận thức về dân chủ, tiến bộ xã hội qua các thời kỳ trước đây, Đảng đã thể hiện qua những luận điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, Đảng luôn thẳng thắn thừa nhận những thiếu sót, sai lầm trong việc thực hành dân chủ trong quá trình lãnh đạo đất nước, nhất là thời kỳ kế hoạch hóa, tập trung;

Thứ hai, Đảng đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những thiếu sót, khuyết điểm xuất phát từ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của việc thực hành dân chủ;…

Thứ ba, trên cơ sở nhận ra những thiếu sót, hạn chế và tìm ra nguyên nhân dẫn đến những thiếu sót, hạn chế trong công tác lãnh đạo, nhất là trong công tác tổ chức, Đảng ta đã đề ra những chủ trương đúng đắn về xây dựng, phát huy dân chủ, đó là:

- Lấy dân làm gốc, tập trung và phát huy quyền làm chủ của nhân dân;

- Coi việc thực hành dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới;

- Thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm đó nhằm bảo đảm dân chủ trong quá trình ra quyết định;
- Chú trọng thực hành dân chủ trong Đảng nhằm chăm lo, củng cố sự liên hệ giữa Đảng và nhân dân, khắc phục bệnh quan liêu, cùng với việc thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ.

3. Quá trình xây dựng và tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở

Cụ thể hóa những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Hiến pháp năm 1946 đã ghi rõ: “Nhà nước Việt nam là một Nhà nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam…” (Điều thứ nhất). Hiến pháp 1959 tiếp tục khẳng định: “Tất cả quyền lực trong nhà nước Việt Nam đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân…” (Điều 4); “Tất cả các cơ quan nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và chịu sự kiểm soát của nhân dân” (Điều 6); Hiến pháp năm 1980 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, người chủ tập thể là nhân dân lao động, bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể, tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa và những người lao động khác…” (Điều 3). Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” (Điều 3); “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” (Điều 6); “Ở Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật…” (Điều 14); “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25); “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước” (Điều 28); “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” (Điều 30).

Hiến pháp năm 2013 cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước: “… tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” (Điều 28, khoản 2).

Những quy định nêu trên cho thấy xu hướng củng cố nền tảng hiến định cho việc đẩy mạnh tiến trình dân chủ ở Việt Nam, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung khổ luật pháp để thực thi trong thực tế về quyền dân chủ của nhân dân. Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện nhất quán các nguyên tắc tiến bộ, định hướng cho việc cụ thể hóa về xây dựng và thực hiện các quyền dân chủ của người dân cũng như các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của các thiết chế dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện nhằm đảm bảo việc thực hành dân chủ ở cơ sở ngày càng tốt hơn.

Để xác lập cơ sở pháp luật về dân chủ ở cơ sở, ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 30/CT-TW về việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Chỉ thị số 30/CT-TW được ban hành trong bối cảnh “quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều ngành; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân mang tính phổ biến. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa được cụ thể hóa và việc thể chế hóa thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống”.

Thể chế hóa nội dung Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X đã ban hành Nghị quyết số 45/1998/ NQ-UBTVQH10 ngày 26/02/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10 đã khẳng định phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và lấy đó làm cơ sở để “giao Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”.

Theo Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn phải đảm bảo tăng cường sự tham gia của nhân dân (lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, những vấn đề được đưa ra để nhân dân thảo luận và quyết định, nhân dân giám sát và kiểm tra); quyền tiếp cận thông tin của nhân dân và trách nhiệm giải trình của cơ quan chính quyền địa phương (báo cáo các quyết định để nhân dân biết và thực hiện, báo cáo thu chi ngân sách và quyết toán, tiếp dân và báo cáo kết quả giải quyết…).

Sau khi Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10 được thông qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 về Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã. Với sự ra đời của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, Nhà nước ta đã tạo ra một công cụ pháp lý về thực hiện dân chủ ở cơ sở, trao cho các tầng lớp nhân dân ở cơ sở những quyền dân chủ thực sự, bao gồm: quyền được biết các nội dung liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân ở cơ sở; quyền được bàn và quyết định trực tiếp, bàn và biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định đối với những vấn đề quan trọng của địa phương; quyền được tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; quyền giám sát đối với tất cả các nội dung mà nhân dân được công khai để biết, được tham gia ý kiến và quyết định trực tiếp.

Sau 5 năm thực hiện Nghị định số 29/1998/ NĐ-CP, căn cứ Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn và Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 28/3/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Chính phủ đã ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003), thay thế Nghị định số 29/1998/ NĐ-CP. Về cơ bản, Nghị định số 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ vẫn giữ nguyên những nội dung cốt lõi về các quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở, chỉ sửa đổi, bổ sung một số điều cho phù hợp, đi vào thực chất, cụ thể hơn theo hướng tăng cường vai trò, trách nhiệm của bộ máy chính quyền cấp xã trong việc thực hiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: phát huy dân chủ là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình phát triển nước ta. Do đó, năm 2007, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI đã thông qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11) thay thế Nghị định số 79/2007/ NĐ-CP.

Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 gồm 6 chương, 28 điều, là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất từ trước đến nay và có phạm vi điều chỉnh toàn diện hơn về việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, trong đó quy định các vấn đề cơ bản như: nguyên tắc thực hiện dân chủ ở cấp xã; trách nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã; các hành vi bị nghiêm cấm; những nội dung công khai để nhân dân biết và hình thức công khai; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định và những nội dung nhân dân tham gia giám sát.

Để có cơ sở đánh giá việc thực hiện dân chủ ở cơ sở sau 12 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII), ngày 04/3/2010, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 65-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Bộ Chính trị khóa XI ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới liên quan đến nhiều nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Tuy nhiên, để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trước những yêu cầu của hội nhập và đổi mới mạnh mẽ các lĩnh vực của đời sống xã hội thì Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 vẫn là văn bản duy nhất, trong khi nhiều vấn đề của đời sống xã hội cần có luật điều chỉnh, cụ thể: về phương diện hoạt động, mức độ bất cập của các thiết chế thực hiện dân chủ cơ sở hiện nay như cơ quan đại diện cho quyền lực của nhân dân ở địa phương là Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân tại cơ sở về hoạt động vẫn mang tính hình thức và thiếu hiệu quả, nhất là vị thế của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên đối với chính quyền mặc dù đã có chuyển biến nhất định, nhưng chất lượng giám sát và phản biện xã hội còn rất thấp, hiệu quả chưa cao, ít có tiếng nói phản biện hữu hiệu đối với các chính sách của Nhà nước đối với nhân dân.

Bên cạnh đó, ở các địa phương lại có xu hướng biến thiết chế thôn/tổ dân phố thành một cấp chính quyền tại cơ sở mà chưa có sự xây dựng mang tính khoa học trong mô hình tổ chức bộ máy cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của các vùng, miền, đặc điểm dân cư. Ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng hoạt động còn mang tính hình thức, hiệu quả không cao, phụ thuộc vào chính quyền cơ sở trong vấn đề ngân sách, kinh phí; về thẩm quyền vẫn thiếu cơ sở pháp lý để thực hiện. Ngoài ra, người dân chưa nhận thức rõ vị trí, tính chất hoạt động của thiết chế nêu trên mặc dù trên phương diện thực tế, người bị giám sát lại là người có quyền quyết định những điều kiện làm việc cho người có quyền giám sát…

Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng  và xây dựng một đạo luật về dân chủ ở cơ sở với phạm vi rộng hơn, đối tượng điều chỉnh cụ thể hơn và hiệu lực đối với các thiết chế dân chủ ngày càng phù hợp để điều chỉnh và bảo đảm cho các thiết chế dân chủ được thực hiện hiệu quả trên thực tế./.

 

PGS.TS Nguyễn Thị Phượng - Học viện Hành chính Quốc gia

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đường lối hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước

Ngày đăng 11/03/2020
Tư tưởng chủ yếu của đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta là: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nâng cao vị thế đất nước, vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo trong các cơ quan nhà nước ở Việt Nam

Ngày đăng 10/03/2020
Phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo của các cơ quan nhà nước để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp là việc xây dựng nền tảng hệ giá trị nhằm thúc đẩy sự đam mê, khát vọng, động lực kinh doanh, sự tự tin, biết chấp nhận rủi ro để bắt đầu một sự nghiệp, phát triển sản phẩm mới, thị trường mới; nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh của mọi cá nhân, tổ chức đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn tự soi, tự sửa

Ngày đăng 28/02/2020
Trong công tác xây dựng đội ngũ, Đảng ta luôn động viên cán bộ, đảng viên tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Trang bị, rèn luyện phẩm chất, bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Ngày đăng 21/02/2020
Trước yêu cầu của thời kỳ nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phẩm chất, bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược đang trở thành một trong những vấn đề cấp thiết. Bài viết khẳng định tầm quan trọng và đề xuất giải pháp trang bị, rèn luyện phẩm chất, bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Thành tựu và những bài học kinh nghiệm trước Đại hội Đảng XIII

Ngày đăng 17/02/2020
Chúng ta đã bước vào năm 2020, năm cuối cùng để hoàn thành các chương trình, mục tiêu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng. Nếu đánh giá giai đoạn 10 năm của hai nhiệm kỳ vừa qua bằng các số liệu và sự kiện, có thể nhận thấy sự tương phản rõ ràng của những gam màu sáng - tối, qua đó cũng thấy sáng rõ những bài học kinh nghiệm quý báu...