Hà Nội, Ngày 13/11/2019

Tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh trong tác phẩm Dân vận

Ngày đăng: 14/10/2019   04:13
Mặc định Cỡ chữ
“Tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh trong tác phẩm Dân vận” là nhan đề bài viết GS.TS Hoàng Chí Bảo - Chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương dành riêng cho Tạp chí Tổ chức nhà nước (Bộ Nội vụ) nhân dịp kỷ niệm 70 năm Bác Hồ viết tác phẩm “Dân vận” (15/10/1949 – 15/10/2019). Thông qua bài viết của GS. TS Hoàng Chí Bảo, bạn đọc có thể thấy “Dân vận” - một bài báo có dung lượng nhỏ, chỉ hơn 600 chữ, nhưng lại thực sự là một tác phẩm lớn, thể hiện tầm cao tư tưởng, đạo đức cao đẹp và phong cách đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

1. Mục đích và động cơ vĩ đại thúc đẩy Dân vận

Ngày 15/10/1949, cách đây vừa đúng 70 năm, bài báo của Bác Hồ có tựa đề “Dân vận” được đăng trên báo “Sự thật”, số 120 với bút danh X.Y.Z. Vào lúc đó, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta còn đang ở giai đoạn đầu theo đường lối trường kỳ kháng chiến, với phương châm vừa kháng chiến vừa kiến quốc, với niềm tin mãnh liệt “kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, đã truyền cảm hứng tới toàn thể dân tộc ta qua những bài nói, bài viết nổi tiếng của Người(1).

Dân vận là vận động toàn thể nhân dân làm cách mạng, ra sức hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc chống đế quốc thực dân và phong kiến, xây dựng chế độ mới để thực hiện quyền làm chủ của người dân trong chính thể cộng hòa dân chủ Việt Nam, làm cho ai ai cũng được hưởng quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc như bản Tuyên ngôn độc lập đã nêu lên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp viết và đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, khai sinh cho nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đó là Tuyên ngôn dựng nước, lập quốc trong thời đại mới, vừa kế tục vừa phát huy tới đỉnh cao truyền thống lịch sử anh hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam, của chủ nghĩa yêu nước truyền thống và chủ nghĩa nhân văn hiện đại, thấm nhuần sâu sắc tư tưởng giải phóng và phát triển dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

Người từng nói, những giờ phút viết và đọc Tuyên ngôn là những giờ phút sung sướng và hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Người. Trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài trong những ngày đầu của chính quyền non trẻ mới ra đời, Người khẳng định: Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho dân tộc và nhân dân tôi, hạnh phúc cho đồng bào tôi, đó là tất cả những gì tôi muốn, đó là tất cả những gì tôi hiểu(2). Đủ thấy khát vọng độc lập tự do và suốt đời phấn đấu hy sinh vì hạnh phúc của nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãnh liệt, sâu sắc và nhất quán biết nhường nào trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của Người. Nghiên cứu các văn phẩm lý luận và hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng của Người chúng ta nhận thấy, chữ “Dân” có tần số lớn nhất, tư tưởng “Dân vận” dựa trên nền tảng của “Dân chủ” và “Đoàn kết” là dòng tư tưởng nổi bật, nổi trội, thu hút toàn bộ tâm trí và hành động của Người. Động cơ, mục đích thúc đẩy Người suốt đời thực hành dân chủ, dân vận, đoàn kết và đại đoàn kết cũng như suốt đời nêu gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư chính là tấm lòng yêu nước và thương dân vô hạn của Người. Một trăm năm về trước, tròn một thế kỷ, trong những năm tháng tuổi trẻ, Người đã mang tên là Nguyễn Ái Quốc (1919). Là Chủ tịch nước, nguyên thủ quốc gia 24 năm liền (1945 - 1969), Người đã thực hành Ái Quốc như thực hành một lý tưởng chính trị cao đẹp bằng một lẽ sống, một triết lý nhân sinh cao thượng và cảm động - đó là Ái Dân. Chỉ tính riêng 10 năm cuối đời, từ lúc 70 tuổi (1960) đến khi qua đời (1969), Người đã có 700 lần đến với dân, về với dân ở cơ sở, nhất là với nông dân ở nông thôn. Trên giường bệnh, phút lâm chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành trọn tâm trí hướng tới dân, nghĩ về dân với sự minh mẫn, sáng suốt lạ thường của bậc vĩ nhân. Người đã khóc và nói, Bác không thể bỏ dân mà đi được. Di chúc để lại mà Người khiêm nhường chỉ gọi là “một bức thư”, là “mấy lời để lại” cho đồng bào, đồng chí trước lúc đi xa, Người vẫn không quên gửi muôn vàn tình thương yêu tới tất cả mọi người, từ cụ già tới các cháu nhỏ.

Người bày tỏ một điều tiếc nuối “chỉ tiếc là tiếc rằng, không được phục vụ Tổ quốc, phục vụ đồng bào lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Ái Quốc để Ái Dân và Ái Dân vì Ái Quốc, đó là cuộc hành trình dấn thân, hy sinh và dâng hiến đầy cao thượng của Người, đến mức hóa thân vào Dân vào Nước, vào mọi cảnh đời, mọi số phận. Không ai có thể quên được những lời Người nói, nói từ trái tim của Người “mỗi người có một nỗi khổ riêng, mỗi gia đình có một nỗi đau riêng. Cộng tất cả nỗi khổ đau đó lại thành ra nỗi khổ đau của chính bản thân tôi”. Cảm ơn đồng bào đã chúc thọ Người trong dịp sinh nhật, Người đã nói một lời giản dị tưởng chừng không thể nào giản dị hơn được nữa: “Từ trước tới giờ, tôi đã là người của đồng bào thì từ giờ về sau tôi vẫn mãi mãi thuộc về đồng bào”. Người là hiện thân sinh động và cảm động nhất về lãnh tụ của Dân - Dân tộc, Nhân dân và Nhân loại.
Cần phải bắt đầu từ những cảm nhận như thế về Chủ tịch Hồ Chí Minh để hiểu vì sao, suốt đời Người chăm lo tới công tác dân vận, trù tính thực hành dân vận như thực hành một đường lối chính trị chiến lược. Trong lý luận và thực tiễn dân vận của Hồ Chí Minh chung đúc và kết tinh cả tư tưởng, đạo đức lẫn phương pháp và phong cách của Người.

Bởi lẽ đó, “Dân vận” - một bài báo có dung lượng nhỏ, ta có thể đếm được từng câu, từng chữ, nhận rõ từng ý, từng lời nhưng lại thực sự là một tác phẩm lớn, thể hiện tầm cao tư tưởng, đạo đức cao đẹp và phong cách đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ của Đảng, của dân, hình ảnh của dân tộc, tinh hoa và khí phách của dân tộc Việt Nam, như nhận xét của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Dân vận gợi mở vô cùng sâu sắc những nhận thức mới về vai trò của dân, về tầm quan trọng của công tác dân vận, chỉ dẫn cho mỗi cán bộ đảng viên về phương pháp, cách thức dân vận, nêu lên những yêu cầu phải thực hiện sao cho công tác dân vận đạt được kết quả, hiệu quả thiết thực nhất.

Dân vận, qua những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh cho ta nhận ra khoa học và nghệ thuật của công tác vận động quần chúng. Đó cũng là những giá trị ở tầm văn hóa chính trị Hồ Chí Minh, nhìn từ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Dân, chính quyền, đoàn thể với nhân dân mà mục đích cao nhất là vì dân, phục vụ nhân dân như phục tùng một chân lý cao nhất, làm đầy tớ trung thành và công bộc tận tụy của dân là thực hành một lẽ sống cao thượng nhất như Chủ tịch Hồ Chí Minhtừng căn dặn chúng ta. Dân vận thực sự mang tầm vóc và ý nghĩa của một Cương lĩnh vận động quần chúng làm cách mạng, có giá trị lâu dài, bền vững.

2. Tư tưởng, đạo đức, phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh

2.1. Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Mở đầu tác phẩm Dân vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày một quan niệm tổng quát về Dân chủ. Đây là cơ sở lý luận của công tác dân vận. Dân là gốc của nước, dân là chủ thể của mọi hoạt động sáng tạo ra lịch sử. Tiền đề nhận thức về dân vận là dân chủ. Có nhận thức đúng thì mới có hành động đúng. Người xác định một tiên đề rất có ý nghĩa là: “Nước ta là nước dân chủ”(3). Trong tiên đề này đã hàm chứa nhiều ý nghĩa, biểu đạt vấn đề cốt yếu. Đó là tính chất, bản chất của chế độ nhà nước ta, là đặc điểm nổi bật của chính thể nhà nước - một nhà nước dân chủ, một chế độ chính trị dân chủ. Nó quy định mô hình tổ chức quyền lực nhà nước, quyền lực xã hội của dân là dân chủ. Từ quan niệm này, Người đã xác định bản chất của dân chủ bằng một luận điểm cô đọng, ngắn gọn, hàm xúc nhất mà cũng điển hình và thực chất nhất. “Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ”. Đó là một định nghĩa kinh điển được thể hiện một cách dung dị mà sâu sắc, không hàn lâm, bác học như vẫn thường thấy trong các học thuyết, lý thuyết xưa nay về dân chủ nhưng thực sự có tầm tư tưởng lớn, hiện đại, mới mẻ.

Người còn nói rõ tư tưởng này với một cắt nghĩa (giải thích) rằng, trong một nước dân chủ, một xã hội dân chủ thì nhân dân là người chủ. Dân đã là chủ thì từ chủ tịch nước đến những nhân viên thường trong bộ máy đều là người phục vụ dân, là đầy tớ, công bộc của dân.

Hơn nữa, dân đã là người chủ và làm chủ thì dân cũng phải có nghĩa vụ của người chủ, có trách nhiệm xây dựng và quản lý nhà nước của mình, chế độ do mình lập ra và xã hội do mình xây dựng. Một quan niệm như vậy đã gắn liền quyền với nghĩa vụ, quyền luôn bị ràng buộc bởi trách nhiệm, bổn phận.

Chủ kiến Hồ Chí Minh về dân chủ rất rõ ràng và thực sự có tính cách mạng. Người phủ định triệt để tư tưởng quân chủ chuyên chế phong kiến để khẳng định tư tưởng dân chủ. Các nhà tư tưởng phong kiến thường quan niệm “dân chủ là chủ của dân”, quyền hành tối cao thuộc đấng bề trên và dân không phải là công dân, chủ thể mà dân chỉ là thần dân, thứ dân, thảo dân, lê dân mà thôi, thụ động chịu ơn mưa móc của thiên tử, thế thiên hành đạo. Khi xác định dân là chủ và dân làm chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm sáng tỏ địa vị và hành động của dân - đó là chủ thể chủ động tích cực.

Người cũng hướng tới toàn thể số đông dân chúng trong xã hội có thực quyền và thực lợi, có trọng trách to lớn trong xây dựng nên chính quyền và đoàn thể. Tư tưởng này cũng vượt lên hạn chế thuộc về bản chất của dân chủ tư sản. Vậy là, chỉ bằng một mệnh đề ngắn gọn như đã nêu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện một cuộc cách mạng cả về ý thức hệ lẫn thể chế, thiết chế quyền lực nhà nước và xã hội. Làm sáng tỏ vấn đề này là một hệ thống các luận điểm mà Người nêu lên với tính khẳng định hết sức rõ ràng và luôn nhấn mạnh nhất quán với vai trò chủ thể của dân, với nội dung cốt lõi của dân chủ là lợi ích và quyền hạn của dân.

+ “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân”

+ “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”

+ “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”

+ “Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân”

+ “Chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương do dân cử ra”

+ “Đoàn thể từ Trung ương tới xã do dân tổ chức nên”

“Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(4).

Điều sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ còn ở chỗ, Người không chỉ nhấn mạnh vai trò của dân, lực lượng của dân, hoạt động sáng tạo của dân trong xây dựng chính quyền Nhà nước mà còn trong xây dựng Đảng (tổ chức đoàn thể - tức là Đảng trong bối cảnh Đảng đã rút vào hoạt động bí mật từ tháng 11/1945, đến Đại hội II, năm 1951 mới trở lại hoạt động công khai). Đoàn thể còn với nghĩa là các tổ chức của quần chúng mà ngày nay là những bộ phận hợp thành hệ thống chính trị.

Khi đề cập tới xây dựng, tổ chức, đổi mới, kháng chiến, kiến quốc…  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói tới cả một sự nghiệp mà trong sự nghiệp ấy, chính nhân dân là chủ thể - chủ thể tổ chức và chủ thể hành động.

Dân chủ luôn gắn liền trực tiếp với tổ chức quyền lực nhà nước trong xã hội mà chính nhân dân là chủ thể ủy quyền, trao quyền đồng thời kiểm soát việc thực hiện quyền. Bởi thế, Người không chỉ nói tới quyền hạn mà còn nhấn mạnh quyền hành từ phía người dân.

Nhà nước dân chủ, chế độ dân chủ, chính thể dân chủ đều phải đảm bảo thực hiện quyền và lợi ích của dân. Lô gích lý luận về nhà nước của dân, do dân, vì dân được thể hiện hết sức chặt chẽ từ hệ thống các luận đề dân chủ nêu trên của Hồ Chí Minh.

Xác định dân chủ là cơ sở lý luận của dân vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ xem dân chủ là tiền đề của dân vận, nó chi phối, định hướng thái độ của người làm dân vận trong quan hệ đối với dân mà còn là điều kiện, nguyên tắc và mục đích của toàn bộ hoạt động dân vận. Nhất quán với quan niệm đó thì mọi việc, mọi lúc, mọi nơi trong hoạt động dân vận đều phải hướng tới dân, đều vì dân. Dân luôn luôn là chủ thể, cũng như con người là mục tiêu, động lực của phát triển. Không bao giờ được xem dân cũng như đối xử với con người như là phương tiện. Người căn dặn cán bộ chiến sĩ công an “đối với nhân dân phải kính trọng lễ phép”(5). Người căn dặn cán bộ đảng viên, công chức, viên chức và mọi người làm việc trong bộ máy công quyền và đoàn thể phải gần dân, học dân, hỏi dân, hiểu dân để tin dân và vì dân. Phải dân chủ chứ không biến dân chủ thành “quan chủ”. Là đầy tớ, công bộc của dân chứ không phải là “quan cách mạng”. “Phải gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân, xa rời nhân dân thì tài tình mấy cũng không làm gì được”(6). “Chúng ta phải dựa vào dân để hoạt động. Khi tổ chức được dân, đoàn kết được dân thì việc gì cũng làm được”(7).

Người không chỉ viết tác phẩm Dân vận trên tư cách một nhà tư tưởng, nhà lý luận mà Người còn thường xuyên quan tâm chỉ đạo các hoạt động thực tiễn về dân vận và tự mình thực hành mẫu mực công tác dân vận như một thực hành văn hóa, một nhu cầu văn hóa, làm mọi việc lớn, nhỏ đều vì dân.

Trong thư gửi Hội nghị cán bộ dân vận, năm 1949, Người nhấn mạnh: “Tất cả lực lượng của đoàn thể và chính phủ đều ở nơi dân. Vì dân mà đoàn thể và chính phủ làm mọi việc, định mọi chính sách”(8).

Là nhà tư tưởng mác xít sáng tạo, thấm nhuần sâu sắc nguyên lý căn bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử về vai trò quyết định lịch sử thuộc về quần chúng nhân dân nên với Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ là sinh khí, là linh hồn của dân vận, là bản chất, mục đích mà cũng còn là động lực của dân vận.

Giá trị và ý nghĩa tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mối quan hệ với dân vận không chỉ là chính trị - nhìn từ quan điểm, đường lối, chính sách mà còn là pháp lý, gắn liền với thể chế luật pháp và sâu xa hơn là văn hóa, nhất là văn hóa đạo đức trong thái độ ứng xử, hành xử với nhân dân, ở đó trọng dân đi liền với trọng pháp. Điều căn bản trong đặc trưng giá trị của dân chủ là pháp lý và nhân văn đã thấm nhuần trong tư tưởng dân vận của  Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trên phương diện tư tưởng lý luận,  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “làm mới” nhận thức về dân vận và Người đã dồn nhiều nỗ lực và tinh lực cho việc thực hành dân vận, công phu rèn luyện, giáo dục cán bộ đảng viên trong lĩnh vực công tác trọng yếu này. Người từng nói, dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân. Thực hành dân chủ rộng rãi, nhất là thực hành dân chủ trong Đảng sẽ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn.

Trong mục “Dân vận là gì?” (mục II của bài báo Dân vận), Người xác định: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không sót một người dân nào, góp thành lực lượng của toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc chính phủ và đoàn thể giao cho”(9). Trong quan niệm này, dân là đối tượng của vận động và cán bộ phụ trách dân vận là chủ thể. Chủ thể tác động vào đối tượng là xác lập và thực hiện một mối quan hệ, đó là quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa tổ chức với con người, với công việc. Dân là đối tượng để vận động nhưng là đối tượng - chủ thể vì xét về bản chất, vai trò, mục đích thì dân luôn luôn là người chủ của xã hội dân chủ.

Đáng chú ý là, trong quan niệm trên đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ yêu cầu “không sót một người dân nào”, thấy khả năng của mỗi một người, gộp lại thành lực lượng của tất cả, từ “mỗi một người dân” đi đến “lực lượng của toàn dân”. Người lại làm rõ từ vận động đến thực hành mà người cán bộ phụ trách dân vận phải làm tốt những nhiệm vụ được chính phủ và đoàn thể giao cho. Trong nhận thức về công tác dân vận, Người đặt lên hàng đầu vai trò của dân, của từng người đến toàn thể dân tộc. Nhiệm vụ dân vận rất nặng nề mà cũng rất quan trọng, bởi chỗ không sót một người nào, tức là phải đi sâu vào quần chúng, làm chuyển động lực lượng của từng người và của tất cả mọi người.

Từ đó, Người chỉ rõ, nội dung, hình thức biểu hiện và yêu cầu đặt ra cho công tác dân vận. “Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ”(10). Đây chỉ là những phương tiện mang tính cổ động, tuyên truyền. Nó cũng cần thiết, quan trọng nhưng chưa đủ, chưa phải là mục đích cần đạt tới. Vậy dân vận phải làm những gì và như thế nào?

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân vận trước hết phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được. Điều thứ hai là bất kỳ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành. Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân. Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng(11). Đoạn văn trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy rõ nhiều điều về nhiệm vụ của cán bộ dân vận, từ tuyên truyền, giải thích cho dân hiểu, lại phải làm cho dân tin, phải luôn xuất phát từ lợi ích của dân, phải tôn trọng dân, học dân, hỏi dân, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân thực hiện. Phải chú trọng tập hợp dân thành lực lượng, gây dựng thành phong trào, phải gắn liền việc triển khai các hoạt động với tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm. Phải chú trọng tính thiết thực, hiệu quả và chú trọng điều kiện, hoàn cảnh từng địa phương cho phù hợp. Chỉ một đoạn văn ngắn đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm một toát yếu những điều cơ bản trong giáo khoa về dân vận để giúp vào giáo dục, huấn luyện cán bộ. Đây là sự thống nhất hữu cơ giữa tư tưởng với phương pháp và phong cách dân vận của Người. Đó cũng là điều cốt yếu trong lý luận dân vận của Hồ Chí Minh. Ở đây có quan điểm thực tiễn, quan điểm “thân dân”, “trọng dân” cũng như phương pháp khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạt động thực tiễn về dân vận.

Người cũng đòi hỏi cán bộ dân vận phải tận tâm và trách nhiệm, phải luôn luôn gần dân, phải hiểu dân, tin dân để làm tốt công tác dân vận. Đó cũng là quan điểm quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Xác định “Ai phụ trách dân vận” và “Dân vận phải thế nào” (mục III và IV), Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh các chủ thể cũng như sự phối hợp, sự cộng đồng trách nhiệm của mọi cán bộ, mọi tổ chức, đoàn thể, lực lượng, phải xây dựng phong cách khoa học trong công tác dân vận. Người nói rõ, “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể, tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân đều phải phụ trách dân vận”(12). Phải kết hợp giữa tuyên truyền, giải thích với việc làm, tức là hành động, nói đi đôi với làm, nhất là “giúp đỡ dân”, “bày vẽ cho dân”, “thi đua làm” và “làm kiểu mẫu cho dân”(13). “Phải thật thà nhúng tay vào việc”, “không nói suông”, “chỉ ngồi viết mệnh lệnh”(14). Người đòi hỏi, người phụ trách dân vận phải “óc nghi, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”(15). Người phê phán một khuyết điểm to và phổ biến (vì xảy ra ở nhiều nơi) là “xem khinh việc dân vận”(16), thói phó mặc cho người khác, thói vô trách nhiệm, “tự cho mình không có trách nhiệm dân vận” của không ít cán bộ. Đó không chỉ là khuyết điểm mà còn là “sai lầm rất to, rất có hại”(17).

Kết luận được nêu lên ở cuối tác phẩm dân vận là lời khẳng định nhất quán của Người về vai trò và lực lượng của dân, về tầm quan trọng quyết định của công tác dân vận đối với thành bại của sự nghiệp cách mạng. Đó là chân lý được đúc kết từ thực tiễn “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công(18).

Cần hiểu thật đầy đủ và đúng đắn quan niệm của Người về “dân vận kém” và “dân vận khéo” trên cơ sở thấm nhuần rằng, dân vận vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Người nêu rõ, tiêu chí về sự hiểu biết (kiến thức và kinh nghiệm), về kỹ năng thực hành (vận dụng lý luận vào thực tiễn), về trình độ nắm vững phương pháp, về trách nhiệm đạo đức, về thái độ ứng xử với dân, tâm huyết với công việc, mục đích cao cả vì dân. Nói tóm lại, đó là một tổng hợp các giá trị văn hóa - văn hóa dân chủ, văn hóa dân vận.

Sự sâu sắc và tinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác dân vận cần được nhận rõ. Dân vận kém là kém hiểu biết về dân, là hình thức, phù phiếm, là hành chính, mệnh lệnh, quan liêu xa dân, khinh dân, xem khinh dân vận. Đó không chỉ là kém về khoa học vận động quần chúng mà còn là yếu kém chính trị, thiếu vắng trách nhiệm, là yếu kém đạo đức trong cách cư xử, quan hệ với dân, dẫn tới hỏng việc, thất bại do không được lòng dân. Dân vận khéo phải trên cơ sở dân vận đúng, là thực hành công tác dân vận như một khoa học và nghệ thuật, là khoa học và nghệ thuật chính trị, là chính trị thấm sâu vào đời sống dân gian, “chính trị là đoàn kết và thanh khiết”, “một tấm gương sống còn giá trị hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền”, “gương mẫu là cách lãnh đạo tốt nhất”, phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu để dân ủng hộ, dân giúp đỡ, dân bảo vệ. Đó là bí quyết của thành công.

2.2. Đạo đức và phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Để xứng đáng là cán bộ phụ trách dân vận, làm tròn nhiệm vụ dân vận thì cán bộ, đảng viên phải là người có đạo đức cách mạng trong sáng, ra sức thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để đủ sức đánh bại chủ nghĩa cá nhân, không hám danh, không tham lợi, có bản lĩnh đứng ngoài vòng danh lợi như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suốt đời nêu gương mẫu mực về tu dưỡng và thực hành.

Đạo đức của người cách mạng trong công tác dân vận là đạo đức hành động và nêu gương, đã vì dân và vì sự nghiệp cách mạng thì phải phấn đấu hy sinh, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chỉ có một điều ham: ham học, ham làm, ham tiến bộ, không ham tiền tài, danh vọng, địa vị, quyền chức. Có như vậy mới toàn tâm, toàn ý vì dân vì nước, có quyết tâm và tín tâm trong việc làm, trong ứng xử với dân. Vì dân nên trong công tác phục vụ nhân dân, trong ứng xử, cư xử với dân phải luôn trung thực, chân thành, khiêm tốn, giản dị, trọng dân đi liền với trọng pháp. Có biết làm học trò của dân thì mới có thể lãnh đạo dân chúng được.

Đạo đức trong dân vận không chỉ là lòng chân thành, khiêm tốn mà còn là sự hiểu biết, gắn liền với trình độ và phương pháp. Cái gì có lợi cho dân thì quyết làm cho bằng được. Cái gì có hại tới dân thì phải quyết tránh cho bằng được.

Cũng trong thời điểm viết tác phẩm Dân vận, năm 1949, Người đã ghi vào sổ vàng truyền thống của trường Đảng Nguyễn Ái Quốc: Học để làm việc, học để làm người, học để làm cán bộ, học để phụng sự đoàn thể, giai cấp, dân tộc và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt được mục đích ấy, trước hết phải cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.
Làm dân vận càng phải chú trọng thực hành đạo đức ấy. Cũng trong năm 1949, trong Thư gửi lớp “Chuẩn bị tổng phản công” trường Trung học Lục quân Trần Quốc Tuấn, đăng trên báo Cứu quốc, số 1392, ngày 09/11/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các chiến sĩ bộ đội hơn ai hết phải mẫu mực thực hành Dân vận:

“Luyện tập thân thể cho mạnh mẽ
Nghiên cứu kỹ thuật cho thông thạo
Trau dồi tinh thần cho vững chắc
Hun đúc đạo đức của người quân nhân cách mạng cho vững vàng”(19).

Quan tâm suốt đời tới việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên, Người luôn nhắc nhở “Ta quan tâm tới đời sống quần chúng thì quần chúng sẽ theo ta. Ta được lòng dân thì ta không sợ gì cả. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt công tác(20). Phải ăn ở sao cho được lòng dân, tuyệt đối không làm điều gì trái ý dân. Đó là đạo đức trong dân vận. Không như vậy, dân vận không thể thành công. Do đó, cán bộ phải đoàn kết nhất trí, giữ vững đạo đức cần kiệm liêm chính, kiên quyết chống quan liêu, tham ô, lãng phí, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của chính phủ và pháp luật của Nhà nước(21).

Có đạo đức như thế, người cán bộ dân vận sẽ tự mình rèn luyện cho mình một phong cách trung thực, chân thành, khiêm tốn, giản dị, gắn bó mật thiết với dân, hiểu dân để tin dân, vì dân để dân vận thành công do có dân giúp sức, ủng hộ.

Phong cách ấy, trước hết là phong cách khoa học, thiết thực, cụ thể, tận tâm và trách nhiệm Người nói rõ cụ thể điều đó trong “Nông vận” tức là vận động nông dân vào tháng 11/1949. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nông vận là phải:

- Tổ chức nông dân thật chặt chẽ

- Đoàn kết nông dân thật khăng khít

- Huấn luyện nông dân thật giác ngộ

- Lãnh đạo nông dân hăng hái đấu tranh cho lợi ích của nông dân, của Tổ quốc(22).

Người còn nhấn mạnh, vận động nông dân là phải vận thế nào cho toàn thể nông dân động, nghĩa là làm cho nông dân hiểu rõ quyền lợi của dân tộc và của giới mình, làm cho nông dân vào Hội Nông dân cứu quốc cho đông để phấn đấu cho mục đích của mình và tích cực tham gia công cuộc kháng chiến kiến quốc(23). Muốn như thế thì cán bộ nông dân phải tránh bệnh chủ quan, bệnh hình thức, bệnh giấy tờ(24). Người đòi hỏi: cán bộ tỉnh phải đến tận các huyện, các xã. Cán bộ huyện phải đến tận các xã, các thôn. Cán bộ phải chân đi, mắt trông, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ(25).

Trong công tác tuyên truyền, Người căn dặn “không cần nói tràng giang đại hải mà nói ngắn gọn, nói những vấn đề thiết thực, chắc chắn, làm được để cho mọi người hiểu rõ và quyết tâm làm bằng được”(26).

Đó là tiêu biểu điển hình cho phong cách dân vận Hồ Chí Minh - phong cách thân dân và dân chủ, chính tâm, thành tâm, tín tâm của Người. Người suốt đời vì dân nên được dân tin, dân yêu và có sức cảm hóa, thuyết phục, thúc đẩy muôn người.

Đó cũng là những chân giá trị trong Tư tưởng - Đạo đức - Phong cách dân vận Hồ Chí Minh mãi mãi còn có sức soi sáng, dẫn đường cho toàn Đảng, toàn dân ta trong sự nghiệp cách mạng, đổi mới, hội nhập và phát triển vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

--------------------------------------------------------------------------

Ghi chú:

(1) Hồ Chí Minh, các tác phẩm: “Tuyên ngôn độc lập” (2/9/1945); “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946); “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” ngày 11/6/1948); “Sửa đổi lối làm việc” và “Đời sống mới” (1947); “Dân vận” (1949)…

(2) Một nhà báo hỏi Người: “Trong cuộc đời của Chủ tịch, đâu là điều quan trọng nhất?”, Người đã trả lời như vậy.

(3),(4),(8),(9),(10),(11),(12),(13),(14),(15),(16),(17),(18),(19), (22),(23),(24)   Hồ Chí Minh, “Dân vận” trong Hồ Chí Minh toàn tập, 15 tập, CTQG, H.2011, tập 6, tr.232,  tr.232, tr.278, tr.232, tr.232, tr.233, tr.233, tr.233, tr.233-234, tr.233-234, tr.233-234, tr.233-234, tr.234, tr.242-243, tr.248, tr.249, tr.249.

(5) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr.498-499.

(6) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr.260.

(7) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 12, tr.153.

(20) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 15, tr.142.

(21) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 10, tr.424.

(25),(26) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 14, tr.169, tr.169.

 

GS.TS. Hoàng Chí Bảo - Chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Những quy định về nghĩa vụ của công chức trong pháp luật Trung Quốc - kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngày đăng 12/11/2019
Bài viết phân tích các quy định về nghĩa vụ của công chức trong pháp luật Trung Quốc và so sánh với các quy định về nghĩa vụ của công chức trong pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật hai nước đối với nghĩa vụ của công chức. Điểm tương đồng lớn nhất trong quy định của luật pháp hai nước là công chức đều có hai nhóm nghĩa vụ chính: nghĩa vụ với Đảng, Nhà nước và nhân dân, nghĩa vụ trong thực thi công vụ. Qua đó rút ra một số kinh nghiệm cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công chức của Việt Nam.

Thực trạng và giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý tại các cấp Tòa án nhân dân

Ngày đăng 11/11/2019
Phát biểu tham luận tại Hội thảo khoa học "Nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới và tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý" do Bộ Nội vụ tổ chức vào cuối tháng 10/2019, bà Lương Ngọc Trâm, Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao đã nêu lên thực trạng đội ngũ nữ lãnh đạo, quản lý ngành Tòa án nhân dân; chỉ ra nguyên nhân hạn chế và đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý tại Tòa án nhân dân các cấp.

Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng trong công tác cán bộ

Ngày đăng 11/11/2019
Công tác cán bộ, quy hoạch, quản lý, sử dụng cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược luôn được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng. Do đó, để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả kiểm soát lực để phòng, chống tham nhũng trong công tác cán bộ thì cần có sự kết hợp hài hòa, thường xuyên, chặt chẽ giữa các thiết chế kiểm soát quyền lực của Đảng và các thiết chế kiểm soát quyền lực của Nhà nước. Theo đó, các cán bộ, đảng viên vừa phải chấp hành, tuân thủ đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, vừa phải chấp hành nghiêm các quy định trong Điều lệ, nghị quyết, văn kiện của Đảng, cấp ủy đảng ở tất cả các cấp.

Những vấn đề đặt ra sau luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp

Ngày đăng 06/11/2019
Luân chuyển cán bộ và giải quyết những vấn đề sau luân chuyển cán bộ là hai khâu quan trọng trong toàn bộ công tác cán bộ nói chung và Chiến lược công tác cán bộ nói riêng.

Chủ động ngăn chặn, đẩy lùi hiểm họa từ mặt trái của mạng xã hội

Ngày đăng 05/11/2019
Ngày nay, với khả năng giúp con người tạo dựng những mối quan hệ vượt ra ngoài giới hạn không gian và thời gian để giao lưu, chia sẻ, mạng xã hội đã trở thành một thứ “quyền lực” trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, từ vai trò, mục đích của người sử dụng, mạng xã hội phát huy được một số tính năng ưu việt và cũng sớm bộc lộ một số hạn chế cốt tử, có thể đẩy tới hiểm họa, tác động tiêu cực tới sự phát triển xã hội, con người.

Tiêu điểm

Hoàn thiện chính sách cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Công tác cán bộ là tổng thể các biện pháp của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ; đánh giá cán bộ; quy hoạch cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; luân chuyển, điều động cán bộ; bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, ...  nhằm phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ theo hướng bố trí số lượng hợp lý, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu về đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong tình hình mới. Đảng ta đã xác định đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.