Hà Nội, Ngày 07/12/2019

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ, dân chủ ở xã, phường, thị trấn và đơn vị sự nghiệp công lập

Ngày đăng: 30/09/2019   02:41
Mặc định Cỡ chữ
Bài viết khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ, về dân chủ ở xã, phường, thị trấn và trong đơn vị sự nghiệp công lập, cả về kết quả đạt được cũng như những hạn chế, bất cập trong thời gian qua. Từ đó khẳng định việc tiếp tục nghiên cứu lý luận và thực tiễn để xây dựng, ban hành Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở là một yêu cầu khách quan nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nướcvề phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

1. Một số vấn đề lý luận về dân chủ

Dân chủ là một vấn đề có tính thời sự sâu sắc, được phát triển qua nhiều giai đoạn của lịch sử với rất nhiều tư tưởng, quan điểm, luận thuyết khác nhau, nhưng đến nay vẫn luôn là vấn đề mở cần tiếp tục nghiên cứu để tìm ra hướng phát triển và hoàn thiện cho pháp luật của mỗi nhà nước, mỗi cộng đồng.

Dân chủ và thực hành, phát huy dân chủ là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền; một trong những điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thời gian qua đã đạt được những kết quả bước đầu, quan trọng, tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội, thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Từ đó, tạo động lực thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương, các ngành; làm chuyển biến một bước về ý thức, đạo đức, phong cách làm việc của cán bộ, công chức, viên chức, người có chức vụ, quyền hạn theo hướng gần dân, tôn trọng dân và có trách nhiệm với dân; tác động tích cực tới việc xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân; xây dựng các cộng đồng dân cư tự quản ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố.

Tuy nhiên, việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn vẫn còn hình thức, chưa rộng khắp, đồng đều ở các địa phương, khu vực, chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục; dân chủ trong các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập chưa được phát huy mạnh mẽ. Tình trạng vi phạm quyền dân chủ của nhân dân cũng như lợi dụng dân chủ để vi phạm kỷ cương, pháp luật còn xảy ra ở nhiều nơi. Việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở chưa thực sự gắn kết với nhiệm vụ thường xuyên, đặc biệt là trong công tác xây dựng Đảng, cải cách hành chính, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện dân chủ ở cơ sở còn nhiều hạn chế. Do đó, việc xây dựng, ban hành Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu cần thiết, khách quan nhằm cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 2013 về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kiểm soát quyền lực nhà nước, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về dân chủ ở cơ sở và thực hiện dân chủ ở cơ sở; những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013; những đặc trưng cơ bản của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam. Phân tích, đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân; thực trạng pháp luật cũng như việc thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở trong thời gian qua để đưa ra những giải pháp hoàn thiện phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay và trong những năm tới.

Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: dân chủ có nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Là chủ vì đó là biểu hiện vị thế xã hội, tính tích cực chính trị và địa vị pháp lý của người dân. Làm chủ, đó là hành động của dân, biểu hiện năng lực thực hành dân chủ, thước đo về trình độ phát triển ý thức của nhân dân với tư cách là chủ thể quyền lực, thực hiện sự ủy quyền chân chính của mình vào thể chế chính trị và nhà nước. Như vậy, dân chủ được coi là tiêu chí đánh giá cách thức, trình độ tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Như vậy, có thể khái quát: dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh chủ thể quyền lực là nhân dân, khẳng định những quyền cơ bản của con người; là hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền thành một chế độ chính trị xã hội mà ở đó những quyền cơ bản tự nhiên của con người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc trong hoạt động của nhà nước, xã hội và công dân để quy định quyền lợi, trách nhiệm của công dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại.

TS Nguyễn Đình Quyền phát biểu tại Tọa đàm "Cơ sở khoa học xây dựng Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở", do Tạp chí Tổ chức nhà nước (Bộ Nội vụ) tổ chức ngày 07/8/2019 tại Hà Nội. Ảnh: Mạnh Quân.

2. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ ở xã, phường, thị trấn

Nhân dân là người trực tiếp sản xuất ra giá trị vật chất và sáng tạo ra giá trị tinh thần. Trong lao động và sinh sống, người dân luôn gắn bó mật thiết trong một đơn vị, một tổ chức, một cộng đồng, một địa bàn dân cư nhất định. Mỗi công dân, một thành viên nào của tổ chức cũng đều gắn bó và sinh sống, lao động, học tập ở một cơ sở nhất định trong hệ thống, đó là xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp, đơn vị kinh tế cơ sở... Cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nơi kiểm nghiệm, phản chiếu chính xác nhất đường lối của Đảng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Do đó, nhân dân có quyền được biết, được tiếp cận thông tin, được bàn và được tham gia giải quyết và kiểm tra, giám sát mọi hoạt động diễn ra ở cơ sở. Dân chủ ở cơ sở được thực hiện dưới hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách trực tiếp thể hiện ý chí, nguyện vọng đối với những vấn đề về tổ chức và hoạt động của mọi thiết chế ở cơ sở. Dân chủ ở cơ sở được quy định trong Hiến pháp và nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, trong đó Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn là văn bản pháp luật quy định cụ thể những việc Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông qua kịp thời và công khai để dân biết, dân bàn, quyết định trực tiếp, tham gia ý kiến và giám sát, kiểm tra, các hình thức thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Hiện nay, các quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở mới chỉ thể chế đối với cơ sở xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn... trong đó, dân chủ ở cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) là một nội dung quan trọng, chủ yếu đề cập đến thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền bốn cấp theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Còn nhiều loại hình cơ sở khác chưa có quy định hoặc quy định chưa đầy đủ về thực hiện dân chủ đang đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.Nội dung thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở là sự hiện thực hóa các quyền, các giá trị của dân chủ đã được quy định trong Hiến pháp. Đó là các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội..., trong đó có quyền tự do bầu cử và ứng cử, lập ra bộ máy nhà nước để thực hiện quyền lực của nhân dân, được tham gia vào quản lý nhà nước, quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin, nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước...

Sự ra đời của Quy chế dân chủ ở cơ sở là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm cho các quy định của Hiến pháp, pháp luật về dân chủ được thực hiện trên thực tế, là điều kiện để nhân dân nắm vững và thực hiện được các quyền dân chủ của mình. Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định những nội dung cần được giải trình trước nhân dân; những nội dung cần được nhân dân thảo luận và quyết định; những nội dung cần lấy ý kiến của nhân dân trước khi được cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung cần được nhân dân kiểm tra, giám sát; trách nhiệm của chính quyền và công chức ở cấp xã; trách nhiệm của cơ quan tổ chức, cá nhân và những người có liên quan trong quá trình thực hành dân chủ ở cấp xã.Chủ thể thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở là chính quyền cơ sở cấp xã, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội cấp xã và các cơ quan nhà nước có liên quan đến việc thực hiện quyền dân chủ; các công dân, cá nhân, tổ chức sinh sống, hoạt động trên địa bàn cấp xã. Phạm vi thực hiện được triển khai trên địa bàn từng xã, phường, thị trấn cụ thể với những hoạt động, mối quan hệ phát sinh trong việc bảo đảm thực hiện phương châm “Dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tổ chức đời sống cộng đồng của nhân dân.Phạm vi thực hiện dân chủ ở cơ sở là giữa các chủ thể trong đó một bên là công dân, cá nhân, tổ chức, sinh sống, hoạt động trong một đơn vị hành chính lãnh thổ hoặc những đơn vị cấp nhỏ nhất với một bên là chính quyền địa phương và các thiết chế chính trị, chính trị - xã hội ở đó. Chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở vừa mang tính chất quản lý hành chính, vừa mang tính chất tự quản.

Việc thực hiện dân chủ ở cơ sở và pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở có vai trò hết sức quan trọng, góp phần mở rộng dân chủ, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân; là phương thức quản lý để bảo đảm trên thực tế các quyền dân chủ của nhân dân được thực hiện; thông qua việc thực hiện dân chủ cơ sở để tiếp tục hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về dân chủ, dân chủ ở cơ sở; việc thực hiện dân chủ ở cơ sở và pháp luật dân chủ ở cơ sở vừa là điều kiện, vừa là yêu cầu nhằm kiện toàn và nâng cao năng lực, phẩm chất, chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị ở cơ sở, xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các hành vi tiêu cực khác; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở.

Tuy nhiên, phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” vẫn chưa làm rõ được tính chủ động làm chủ của người dân và mới đề cập đến dân biết, tức là được tiếp cận thông tin mà chưa đề cập đến dân đề xuất ý kiến của mình. Dân chủ cơ sở phải chú ý tập trung hơn nữa đến tính chủ động ý kiến của người dân với tư cách là chủ thể gốc của quyền lực nhà nước. Phương châm này cũng chưa đề cập đến vai trò quyết định của người làm chủ. Dân làm chủ bằng cách nào thì quyết định bằng cách đó. Dân làm chủ bằng hình thức trực tiếp thì quyết định bằng hình thức trực tiếp, ví dụ như bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, bầu trưởng thôn; người dân làm chủ bằng hình thức gián tiếp thông qua cơ quan đại diện là Quốc hội, Hội đồng nhân dân thì quyết định bằng hình thức gián tiếp. Quốc hội và Hội đồng nhân dân thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân, theo đó quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước và địa phương theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

3. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ trong đơn vị sự nghiệp công lập

Việc thực hiện dân chủ trong đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành. Về hình thức văn bản thì việc quy định những vấn đề liên quan đến quyền, hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp phải được ban hành bằng văn bản luật, vì các quan hệ trong nội bộ các đơn vị sự nghiệp công lập vừa là mối quan hệ giữa công chức, viên chức nhưng đồng thời cũng là mối quan hệ giữa công dân với nhau và mối quan hệ ra bên ngoài liên quan đến các quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người, công dân; do đó, trong quá trình xây dựng Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở cần pháp điển hoá, đưa nội dung của Nghị định số 04/2015/ NĐ-CP vào quy định của Luật.Về phạm vi quy định, thực hiện dân chủ của tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập chỉ nên quy định dân chủ trong nội bộ của các tổ chức, đơn vị đó; còn nội dung dân chủ trong quan hệ và giải quyết công việc với công dân, cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan là nội dung của trách nhiệm công vụ, cần được điều chỉnh trong các văn bản pháp luật khác có liên quan như Luật cán bộ, công chức, Luật Viên chức. Lý do là vì nhiều nội dung của quy định này không mang nội hàm dân chủ mà là trách nhiệm công vụ khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của công chức, viên chức trong các tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập.

Để việc thực hiện dân chủ thực sự có hiệu quả trong đơn vị sự nghiệp công lập, cần xác định rõ vị trí việc làm và trách nhiệm, phạm vi trách nhiệm của mỗi vị trí việc làm. Trên cơ sở đó xác định rõ trách nhiệm của mỗi bên cũng như việc thực hiện dân chủ giữa các bên trong mối quan hệ. Pháp luật hiện hành còn thiếu các quy định rõ ràng về trách nhiệm công vụ của mỗi vị trí công tác được giao, do đó rất khó để bảo đảm dân chủ trong mối quan hệ hoặc nếu có bị vi phạm dân chủ thì cũng khó phát hiện, xử lý, nhất là khi công tác lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo, điều hành ở các tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện theo chế độ thủ trưởng.Kinh nghiệm cho thấy, sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của thủ trưởng, người đứng đầu có ý nghĩa quyết định đến lề lối làm việc, ý thức trách nhiệm trong công việc, mối quan hệ công tác cũng như việc thực hiện những vấn đề thuộc nội dung dân chủ trong các tổ chức sự nghiệp công lập. Do đó, việc quy định rõ trách nhiệm trực tiếp hoặc liên đới của người đứng đầu đối với tất cả các hành vi mất dân chủ, tiêu cực, tham nhũng, vi phạm quyền con người, quyền công dân trong tổ chức, đơn vị là rất cần thiết, kể cả trong trường hợp thủ trưởng đó biết hoặc không biết thì đều phải chịu trách nhiệm một cách nghiêm khắc, minh bạch.Tại Điều 7 Nghị định số 04/2015/NĐ-CP quy định 09 việc phải công khai. Quy định như vậy là chưa đầy đủ mà cần quy định theo hướng tất cả những vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý và các công tác khác đều phải được công khai, minh bạch, trừ những bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua cho thấy, nơi nào làm tốt việc công khai, minh bạch trong hoạt động thì nơi đó sẽ có điều kiện để hạn chế, khắc phục tình trạng tham nhũng, tiêu cực hoặc có điều kiện để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh đối với những hành vi tham nhũng tiêu cực. Do đó, công khai, minh bạch trong hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện một cách thực chất, hữu hiệu Quy chế dân chủ trong các tổ chức này.

Hình thức và thời gian công khai được quy định tại Điều 8 Nghị định số 04/2015/NĐ-CP cần sửa đổi theo hướng các hình thức công khai, minh bạch là bắt buộc phải thực hiện, nếu không thực hiện thì phải được coi là vi phạm dân chủ, vi phạm trách nhiệm công vụ của thủ trưởng cơ quan, công chức, viên chức. Việc quy định thời hạn công khai được niêm yết ít nhất 30 ngày liên tục cũng là một kẽ hở dễ bị lợi dụng, do đó cần quy định thời hạn trong năm công tác để bảo đảm tính minh bạch, thực chất khi công khai.

Tại Điều 9, Điều 10 Nghị định số 04/2015/ NĐ-CP quy định về những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến, hình thức tham gia ý kiến, nhưng hậu quả pháp lý của việc tham gia ý kiến đó với thủ trưởng đơn vị, các cấp quản lý, lãnh đạo điều hành và trách nhiệm của những người này tiếp thu, xử lý, thực hiện như thế nào thì chưa được quy định rõ. Do đó, cần có quy định cụ thể về việc khi đã có ý kiến tham gia thì phải phát sinh nghĩa vụ pháp lý của những người có trách nhiệm tiếp thu, xem xét, giải quyết, thực hiện ý kiến đó.Vì vậy, những hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập đều phải được cán bộ, công chức, viên chức giám sát, kiểm tra. Hình thức giám sát, kiểm tra quy định tại Điều 12 Nghị định số 04/2015/NĐ-CP còn sơ sài, chưa cụ thể. Để bảo đảm thực chất của công tác này, công chức, viên chức cần có nhiều hình thức phong phú trong việc giám sát, kiểm tra để có thể phát hiện những vi phạm, hành vi mất dân chủ, tiêu cực, tham nhũng trong tổ chức, đơn vị.

Thực hiện dân chủ trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập là một công việc rất khó khăn, phức tạp, nhất là về tính khả thi của các quy định của pháp luật. Vì trên thực tế các cơ quan, tổ chức, đơn vị này hoạt động theo chế độ thủ trưởng, mọi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công chức, viên chức như tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bổ nhiệm, nâng lương, chuyển đổi vị trí công tác, khen thưởng, kỷ luật đều do người đứng đầu đơn vị quyết định. Các quy định của pháp luật phải hướng tới các biện pháp bảo đảm để công chức, viên chức, những người yếu thế có thể thực hiện được những điều cần thiết, chính đáng, khi phát hiện những hành vi mất dân chủ, tiêu cực, tham nhũng trong tổ chức, đơn vị để vừa có khả năng lên tiếng, vừa có khả năng bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở cần tạo điều kiện thuận lợi về phía người dân, người lao động, công chức, viên chức khi thực hiện những thiết chế liên quan đến dân chủ trong nền công vụ Việt Nam hiện nay./.

 

TS Nguyễn Đình Quyền - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp, Đại biểu Quốc hội khoá XII, XIII.

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Tăng cường công tác xây dựng Đảng trong các cơ quan báo chí nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của báo chí

Ngày đăng 05/12/2019
Với vai trò là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng và Nhà nước, báo chí cách mạng Việt Nam luôn gắn bó, đồng hành với sự nghiệp của Đảng và dân tộc; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là phương tiện quan trọng tuyên truyền phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; là diễn đàn để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, quản lý xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tôn chỉ, mục đích của báo chí cách mạng Việt Nam: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới”(1). Người cho rằng, muốn làm cách mạng, trước hết phải truyền bá tư tưởng cách mạng - tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, phải vận động, tổ chức và tập hợp lực lượng cách mạng. Báo chí cách mạng chính là công cụ để thực hiện các nhiệm vụ đó. Tư tưởng đó của Người tiếp tục được quán triệt, vận dụng, phát triển trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về báo chí, truyền thông. Nghị quyết Trung ương 5, khóa X (Nghị quyết số 16-NQ/TW) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, đã nhấn mạnh: “Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; phải bảo đảm tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo chí”.

Xây dựng hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam làm cơ sở hoàn thiện chuẩn mực đạo đức công vụ

Ngày đăng 02/12/2019
Hệ giá trị văn hóa là sản phẩm của con người, của sự phát triển xã hội và văn hóa mỗi thời đại. Thiếu hệ giá trị văn hóa sẽ thiếu đi công cụ điều tiết xã hội, dễ dẫn tới sự thiếu định hướng. Trước tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, các giá trị văn hóa và con người Việt Nam nói chung, hệ chuẩn mực đạo đức công vụ của cán bộ, công chức nói riêng cũng bị tác động theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam, trong đó có đạo đức công vụ sẽ góp phần chủ động ngăn chặn, phòng ngừa những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Một số suy nghĩ về xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược

Ngày đăng 29/11/2019
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt của công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Từ Đổi mới (năm 1986) đến nay, nhất là sau hơn 20 năm thực hiện “Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, trước những đòi hỏi của giai đoạn cách mạng mới, đặc biệt là Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương lần thứ 7, khóa XII về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, cần phải có những nghiên cứu, đề xuất giải pháp mang tính đột phá nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu mà Đảng đề ra tại Nghị quyết số 26-NQ/TW.

Đổi mới quản lý nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Ngày đăng 29/11/2019
Trước sự phát triển của khoa học và công nghệ, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức không nhỏ. Để vượt lên thách thức, biến những cơ hội thành kết quả phát triển, hoạt động quản lý nhà nước cần có những đổi mới để thích ứng. Bài viết đánh giá thành tựu, hạn chế của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta giai đoạn 2011 - 2019; từ đó đề xuất một số định hướng đổi mới quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước

Ngày đăng 27/11/2019
Thời gian gần đây, bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam. Quan điểm sai trái, thù địch mà họ tiến hành trên mặt trận này là tiến công vào nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, cần có những định hướng, giải pháp cụ thể nhằm ngăn chặn, đẩy lùi các luận điệu trên, đây là những nội dung chính được đề cập trong bài viết này.

Tiêu điểm

Tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt

Trong những năm qua, Đảng ta đã có nhiều chỉ đạo quan trọng nhằm tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, như: Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/01/2012 một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc (ĐBTQ) lần thứ XII của Đảng; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”.v.v. Nhà nước đã thể chế hóa thành pháp luật để thống nhất thực hiện trong toàn hệ thống chính trị và xã hội.