Hà Nội, Ngày 17/10/2019

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ, dân chủ ở xã, phường, thị trấn và đơn vị sự nghiệp công lập

Ngày đăng: 30/09/2019   02:41
Mặc định Cỡ chữ
Bài viết khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ, về dân chủ ở xã, phường, thị trấn và trong đơn vị sự nghiệp công lập, cả về kết quả đạt được cũng như những hạn chế, bất cập trong thời gian qua. Từ đó khẳng định việc tiếp tục nghiên cứu lý luận và thực tiễn để xây dựng, ban hành Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở là một yêu cầu khách quan nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nướcvề phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

1. Một số vấn đề lý luận về dân chủ

Dân chủ là một vấn đề có tính thời sự sâu sắc, được phát triển qua nhiều giai đoạn của lịch sử với rất nhiều tư tưởng, quan điểm, luận thuyết khác nhau, nhưng đến nay vẫn luôn là vấn đề mở cần tiếp tục nghiên cứu để tìm ra hướng phát triển và hoàn thiện cho pháp luật của mỗi nhà nước, mỗi cộng đồng.

Dân chủ và thực hành, phát huy dân chủ là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền; một trong những điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thời gian qua đã đạt được những kết quả bước đầu, quan trọng, tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội, thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Từ đó, tạo động lực thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương, các ngành; làm chuyển biến một bước về ý thức, đạo đức, phong cách làm việc của cán bộ, công chức, viên chức, người có chức vụ, quyền hạn theo hướng gần dân, tôn trọng dân và có trách nhiệm với dân; tác động tích cực tới việc xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân; xây dựng các cộng đồng dân cư tự quản ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố.

Tuy nhiên, việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn vẫn còn hình thức, chưa rộng khắp, đồng đều ở các địa phương, khu vực, chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục; dân chủ trong các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập chưa được phát huy mạnh mẽ. Tình trạng vi phạm quyền dân chủ của nhân dân cũng như lợi dụng dân chủ để vi phạm kỷ cương, pháp luật còn xảy ra ở nhiều nơi. Việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở chưa thực sự gắn kết với nhiệm vụ thường xuyên, đặc biệt là trong công tác xây dựng Đảng, cải cách hành chính, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện dân chủ ở cơ sở còn nhiều hạn chế. Do đó, việc xây dựng, ban hành Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu cần thiết, khách quan nhằm cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 2013 về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kiểm soát quyền lực nhà nước, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về dân chủ ở cơ sở và thực hiện dân chủ ở cơ sở; những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013; những đặc trưng cơ bản của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam. Phân tích, đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân; thực trạng pháp luật cũng như việc thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở trong thời gian qua để đưa ra những giải pháp hoàn thiện phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay và trong những năm tới.

Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: dân chủ có nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Là chủ vì đó là biểu hiện vị thế xã hội, tính tích cực chính trị và địa vị pháp lý của người dân. Làm chủ, đó là hành động của dân, biểu hiện năng lực thực hành dân chủ, thước đo về trình độ phát triển ý thức của nhân dân với tư cách là chủ thể quyền lực, thực hiện sự ủy quyền chân chính của mình vào thể chế chính trị và nhà nước. Như vậy, dân chủ được coi là tiêu chí đánh giá cách thức, trình độ tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Như vậy, có thể khái quát: dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh chủ thể quyền lực là nhân dân, khẳng định những quyền cơ bản của con người; là hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền thành một chế độ chính trị xã hội mà ở đó những quyền cơ bản tự nhiên của con người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc trong hoạt động của nhà nước, xã hội và công dân để quy định quyền lợi, trách nhiệm của công dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại.

TS Nguyễn Đình Quyền phát biểu tại Tọa đàm "Cơ sở khoa học xây dựng Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở", do Tạp chí Tổ chức nhà nước (Bộ Nội vụ) tổ chức ngày 07/8/2019 tại Hà Nội. Ảnh: Mạnh Quân.

2. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ ở xã, phường, thị trấn

Nhân dân là người trực tiếp sản xuất ra giá trị vật chất và sáng tạo ra giá trị tinh thần. Trong lao động và sinh sống, người dân luôn gắn bó mật thiết trong một đơn vị, một tổ chức, một cộng đồng, một địa bàn dân cư nhất định. Mỗi công dân, một thành viên nào của tổ chức cũng đều gắn bó và sinh sống, lao động, học tập ở một cơ sở nhất định trong hệ thống, đó là xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp, đơn vị kinh tế cơ sở... Cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nơi kiểm nghiệm, phản chiếu chính xác nhất đường lối của Đảng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Do đó, nhân dân có quyền được biết, được tiếp cận thông tin, được bàn và được tham gia giải quyết và kiểm tra, giám sát mọi hoạt động diễn ra ở cơ sở. Dân chủ ở cơ sở được thực hiện dưới hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách trực tiếp thể hiện ý chí, nguyện vọng đối với những vấn đề về tổ chức và hoạt động của mọi thiết chế ở cơ sở. Dân chủ ở cơ sở được quy định trong Hiến pháp và nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, trong đó Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn là văn bản pháp luật quy định cụ thể những việc Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông qua kịp thời và công khai để dân biết, dân bàn, quyết định trực tiếp, tham gia ý kiến và giám sát, kiểm tra, các hình thức thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Hiện nay, các quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở mới chỉ thể chế đối với cơ sở xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn... trong đó, dân chủ ở cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) là một nội dung quan trọng, chủ yếu đề cập đến thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền bốn cấp theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Còn nhiều loại hình cơ sở khác chưa có quy định hoặc quy định chưa đầy đủ về thực hiện dân chủ đang đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.Nội dung thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở là sự hiện thực hóa các quyền, các giá trị của dân chủ đã được quy định trong Hiến pháp. Đó là các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội..., trong đó có quyền tự do bầu cử và ứng cử, lập ra bộ máy nhà nước để thực hiện quyền lực của nhân dân, được tham gia vào quản lý nhà nước, quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin, nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước...

Sự ra đời của Quy chế dân chủ ở cơ sở là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm cho các quy định của Hiến pháp, pháp luật về dân chủ được thực hiện trên thực tế, là điều kiện để nhân dân nắm vững và thực hiện được các quyền dân chủ của mình. Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định những nội dung cần được giải trình trước nhân dân; những nội dung cần được nhân dân thảo luận và quyết định; những nội dung cần lấy ý kiến của nhân dân trước khi được cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung cần được nhân dân kiểm tra, giám sát; trách nhiệm của chính quyền và công chức ở cấp xã; trách nhiệm của cơ quan tổ chức, cá nhân và những người có liên quan trong quá trình thực hành dân chủ ở cấp xã.Chủ thể thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở là chính quyền cơ sở cấp xã, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội cấp xã và các cơ quan nhà nước có liên quan đến việc thực hiện quyền dân chủ; các công dân, cá nhân, tổ chức sinh sống, hoạt động trên địa bàn cấp xã. Phạm vi thực hiện được triển khai trên địa bàn từng xã, phường, thị trấn cụ thể với những hoạt động, mối quan hệ phát sinh trong việc bảo đảm thực hiện phương châm “Dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tổ chức đời sống cộng đồng của nhân dân.Phạm vi thực hiện dân chủ ở cơ sở là giữa các chủ thể trong đó một bên là công dân, cá nhân, tổ chức, sinh sống, hoạt động trong một đơn vị hành chính lãnh thổ hoặc những đơn vị cấp nhỏ nhất với một bên là chính quyền địa phương và các thiết chế chính trị, chính trị - xã hội ở đó. Chế độ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở vừa mang tính chất quản lý hành chính, vừa mang tính chất tự quản.

Việc thực hiện dân chủ ở cơ sở và pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở có vai trò hết sức quan trọng, góp phần mở rộng dân chủ, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân; là phương thức quản lý để bảo đảm trên thực tế các quyền dân chủ của nhân dân được thực hiện; thông qua việc thực hiện dân chủ cơ sở để tiếp tục hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về dân chủ, dân chủ ở cơ sở; việc thực hiện dân chủ ở cơ sở và pháp luật dân chủ ở cơ sở vừa là điều kiện, vừa là yêu cầu nhằm kiện toàn và nâng cao năng lực, phẩm chất, chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị ở cơ sở, xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các hành vi tiêu cực khác; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở.

Tuy nhiên, phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” vẫn chưa làm rõ được tính chủ động làm chủ của người dân và mới đề cập đến dân biết, tức là được tiếp cận thông tin mà chưa đề cập đến dân đề xuất ý kiến của mình. Dân chủ cơ sở phải chú ý tập trung hơn nữa đến tính chủ động ý kiến của người dân với tư cách là chủ thể gốc của quyền lực nhà nước. Phương châm này cũng chưa đề cập đến vai trò quyết định của người làm chủ. Dân làm chủ bằng cách nào thì quyết định bằng cách đó. Dân làm chủ bằng hình thức trực tiếp thì quyết định bằng hình thức trực tiếp, ví dụ như bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, bầu trưởng thôn; người dân làm chủ bằng hình thức gián tiếp thông qua cơ quan đại diện là Quốc hội, Hội đồng nhân dân thì quyết định bằng hình thức gián tiếp. Quốc hội và Hội đồng nhân dân thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân, theo đó quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước và địa phương theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

3. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ trong đơn vị sự nghiệp công lập

Việc thực hiện dân chủ trong đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành. Về hình thức văn bản thì việc quy định những vấn đề liên quan đến quyền, hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp phải được ban hành bằng văn bản luật, vì các quan hệ trong nội bộ các đơn vị sự nghiệp công lập vừa là mối quan hệ giữa công chức, viên chức nhưng đồng thời cũng là mối quan hệ giữa công dân với nhau và mối quan hệ ra bên ngoài liên quan đến các quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người, công dân; do đó, trong quá trình xây dựng Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở cần pháp điển hoá, đưa nội dung của Nghị định số 04/2015/ NĐ-CP vào quy định của Luật.Về phạm vi quy định, thực hiện dân chủ của tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập chỉ nên quy định dân chủ trong nội bộ của các tổ chức, đơn vị đó; còn nội dung dân chủ trong quan hệ và giải quyết công việc với công dân, cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan là nội dung của trách nhiệm công vụ, cần được điều chỉnh trong các văn bản pháp luật khác có liên quan như Luật cán bộ, công chức, Luật Viên chức. Lý do là vì nhiều nội dung của quy định này không mang nội hàm dân chủ mà là trách nhiệm công vụ khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của công chức, viên chức trong các tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập.

Để việc thực hiện dân chủ thực sự có hiệu quả trong đơn vị sự nghiệp công lập, cần xác định rõ vị trí việc làm và trách nhiệm, phạm vi trách nhiệm của mỗi vị trí việc làm. Trên cơ sở đó xác định rõ trách nhiệm của mỗi bên cũng như việc thực hiện dân chủ giữa các bên trong mối quan hệ. Pháp luật hiện hành còn thiếu các quy định rõ ràng về trách nhiệm công vụ của mỗi vị trí công tác được giao, do đó rất khó để bảo đảm dân chủ trong mối quan hệ hoặc nếu có bị vi phạm dân chủ thì cũng khó phát hiện, xử lý, nhất là khi công tác lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo, điều hành ở các tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện theo chế độ thủ trưởng.Kinh nghiệm cho thấy, sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của thủ trưởng, người đứng đầu có ý nghĩa quyết định đến lề lối làm việc, ý thức trách nhiệm trong công việc, mối quan hệ công tác cũng như việc thực hiện những vấn đề thuộc nội dung dân chủ trong các tổ chức sự nghiệp công lập. Do đó, việc quy định rõ trách nhiệm trực tiếp hoặc liên đới của người đứng đầu đối với tất cả các hành vi mất dân chủ, tiêu cực, tham nhũng, vi phạm quyền con người, quyền công dân trong tổ chức, đơn vị là rất cần thiết, kể cả trong trường hợp thủ trưởng đó biết hoặc không biết thì đều phải chịu trách nhiệm một cách nghiêm khắc, minh bạch.Tại Điều 7 Nghị định số 04/2015/NĐ-CP quy định 09 việc phải công khai. Quy định như vậy là chưa đầy đủ mà cần quy định theo hướng tất cả những vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý và các công tác khác đều phải được công khai, minh bạch, trừ những bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua cho thấy, nơi nào làm tốt việc công khai, minh bạch trong hoạt động thì nơi đó sẽ có điều kiện để hạn chế, khắc phục tình trạng tham nhũng, tiêu cực hoặc có điều kiện để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh đối với những hành vi tham nhũng tiêu cực. Do đó, công khai, minh bạch trong hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện một cách thực chất, hữu hiệu Quy chế dân chủ trong các tổ chức này.

Hình thức và thời gian công khai được quy định tại Điều 8 Nghị định số 04/2015/NĐ-CP cần sửa đổi theo hướng các hình thức công khai, minh bạch là bắt buộc phải thực hiện, nếu không thực hiện thì phải được coi là vi phạm dân chủ, vi phạm trách nhiệm công vụ của thủ trưởng cơ quan, công chức, viên chức. Việc quy định thời hạn công khai được niêm yết ít nhất 30 ngày liên tục cũng là một kẽ hở dễ bị lợi dụng, do đó cần quy định thời hạn trong năm công tác để bảo đảm tính minh bạch, thực chất khi công khai.

Tại Điều 9, Điều 10 Nghị định số 04/2015/ NĐ-CP quy định về những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến, hình thức tham gia ý kiến, nhưng hậu quả pháp lý của việc tham gia ý kiến đó với thủ trưởng đơn vị, các cấp quản lý, lãnh đạo điều hành và trách nhiệm của những người này tiếp thu, xử lý, thực hiện như thế nào thì chưa được quy định rõ. Do đó, cần có quy định cụ thể về việc khi đã có ý kiến tham gia thì phải phát sinh nghĩa vụ pháp lý của những người có trách nhiệm tiếp thu, xem xét, giải quyết, thực hiện ý kiến đó.Vì vậy, những hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập đều phải được cán bộ, công chức, viên chức giám sát, kiểm tra. Hình thức giám sát, kiểm tra quy định tại Điều 12 Nghị định số 04/2015/NĐ-CP còn sơ sài, chưa cụ thể. Để bảo đảm thực chất của công tác này, công chức, viên chức cần có nhiều hình thức phong phú trong việc giám sát, kiểm tra để có thể phát hiện những vi phạm, hành vi mất dân chủ, tiêu cực, tham nhũng trong tổ chức, đơn vị.

Thực hiện dân chủ trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập là một công việc rất khó khăn, phức tạp, nhất là về tính khả thi của các quy định của pháp luật. Vì trên thực tế các cơ quan, tổ chức, đơn vị này hoạt động theo chế độ thủ trưởng, mọi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công chức, viên chức như tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bổ nhiệm, nâng lương, chuyển đổi vị trí công tác, khen thưởng, kỷ luật đều do người đứng đầu đơn vị quyết định. Các quy định của pháp luật phải hướng tới các biện pháp bảo đảm để công chức, viên chức, những người yếu thế có thể thực hiện được những điều cần thiết, chính đáng, khi phát hiện những hành vi mất dân chủ, tiêu cực, tham nhũng trong tổ chức, đơn vị để vừa có khả năng lên tiếng, vừa có khả năng bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở cần tạo điều kiện thuận lợi về phía người dân, người lao động, công chức, viên chức khi thực hiện những thiết chế liên quan đến dân chủ trong nền công vụ Việt Nam hiện nay./.

 

TS Nguyễn Đình Quyền - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp, Đại biểu Quốc hội khoá XII, XIII.

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Không sao chép học thuyết phân quyền một cách rập khuôn, máy móc

Ngày đăng 16/10/2019
Học thuyết phân quyền là sự phủ định biện chứng đối với các nhà nước chuyên chế tập quyền, đánh dấu sự cáo chung của chế độ quân chủ chuyên chế, độc tài, đặt nền móng cho sự hình thành các nhà nước dân chủ. Đây cũng là học thuyết có ý nghĩa về phương diện kỹ thuật pháp lý sâu sắc trong tổ chức quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Việc giao quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân cho các nhánh quyền lực nhà nước khác nhau (lập pháp, hành pháp, tư pháp) làm cho quá trình phân công lao động quyền lực minh bạch, chuyên môn hóa, hiệu quả và hiệu lực hoạt động của các quyền ngày càng cao; hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền của quyền lực nhà nước; nhân dân có điều kiện kiểm soát quyền lực nhà nước của mình và giữa các quyền có sự kiểm soát lẫn nhau.

Tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh trong tác phẩm Dân vận

Ngày đăng 14/10/2019
“Tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh trong tác phẩm Dân vận” là nhan đề bài viết GS.TS Hoàng Chí Bảo - Chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương dành riêng cho Tạp chí Tổ chức nhà nước (Bộ Nội vụ) nhân dịp kỷ niệm 70 năm Bác Hồ viết tác phẩm “Dân vận” (15/10/1949 – 15/10/2019). Thông qua bài viết của GS. TS Hoàng Chí Bảo, bạn đọc có thể thấy “Dân vận” - một bài báo có dung lượng nhỏ, chỉ hơn 600 chữ, nhưng lại thực sự là một tác phẩm lớn, thể hiện tầm cao tư tưởng, đạo đức cao đẹp và phong cách đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Luật tổ chức Chính phủ năm 2015: những nội dung cần tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện

Ngày đăng 09/10/2019
Thực tiễn hơn 4 năm thi hành Luật tổ chức Chính phủ năm 2015 cho thấy, tổ chức và hoạt động của Chính phủ khóa XIV đã và đang đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, tiếp tục sắp xếp các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị nói chung theo Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, khóa XII và tiếp tục cải cách bộ máy hành chính nhà nước theo Nghị quyết số 56/2017/QH14, cần tiếp tục nghiên cứu, cung cấp các luận cứ khoa học để sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Chính phủ năm 2015.

Xác định vị trí việc làm - “Nút thắt” trong tinh giản biên chế, cải cách tiền lương hiện nay

Ngày đăng 23/09/2019
Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là yêu cầu khách quan, là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Năm 2021, chế độ tiền lương mới sẽ được áp dụng thống nhất đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang trong toàn bộ hệ thống chính trị, vì thế việc xác định vị trí việc làm phải được thực hiện theo hướng kế hoạch hóa, khoa học hóa và quy chế hóa với sự cam kết chính trị của người đứng đầu đơn vị ngay từ bây giờ.

Kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp trong điều kiện xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển

Ngày đăng 20/09/2019
Chính phủ thực hiện quyền lập quy, những văn bản cụ thể hóa và đưa pháp luật vào cuộc sống. Các cơ quan trong hệ thống hành chính cũng ban hành nhiều loại văn bản dưới luật và các quyết định áp dụng. Thực tiễn công tác kiểm tra văn bản cũng như công tác giải quyết các khiếu nại hành chính cho thấy tỷ lệ vi phạm pháp luật của các văn bản này là không nhỏ. Điều đó nói lên rằng sự kiểm soát đối với hoạt động hành pháp hiệu quả còn thấp và cần được tăng cường mạnh mẽ hơn trong thời gian tới, nhất là với định hướng “xây dựng Chính phủ kiến tạo”.

Tiêu điểm

Hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chiến lược cán bộ của Đảng

Tiếp tục quán triệt, hoàn thiện Chiến lược cán bộ và nhiệm vụ đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đặt ra đối với Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong thời gian tới là cần phải thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (CBCC).