Hà Nội, Ngày 18/02/2020

Xây dựng và phát huy "sức mạnh mềm" để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Ngày đăng: 29/08/2019   04:22
Mặc định Cỡ chữ
Để xây dựng một quốc gia phát triển hài hòa, điều quan trọng là vừa hoàn thiện từng bước những “sức mạnh cứng”, đồng thời phải chú trọng, đầu tư cho “sức mạnh mềm”. Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên của kinh tế tri thức và toàn cầu hóa với nhiều cơ hội và cũng không ít những thách thức. Đánh giá tổng thể cả nội lực và ngoại lực, hiện nay Việt Nam đang có cơ hội thuận lợi rất lớn để phát triển kinh tế - xã hội. Những thành tựu quan trọng trong quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập kinh tế thời gian qua là cơ sở khẳng định rằng Việt Nam có thể tận dụng các cơ hội, điều kiện, vượt qua mọi thách thức để tiến nhanh và vững chắc trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, Việt Nam cần nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển phù hợp trong giai đoạn mới nhằm đạt được những bước tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ, trong đó cần phải nhìn nhận, đánh giá toàn diện và có giải pháp phát huy những lợi ích to lớn mà “sức mạnh mềm” mang lại.

1. Khái niệm sức mạnh mềm

Sức mạnh cứng được hiểu là thực lực về kinh tế, quốc phòng (theo nghĩa rộng ở phạm vị quốc gia); dùng những luật pháp, luật lệ, quy định, quy tắc, quy chuẩn mang tính pháp lý, hoặc những quy ước, cam kết mang tính ràng buộc để chủ thể, đối tượng phải tuân theo một cách bắt buộc. Còn sức mạnh mềm là những giá trị mang tính vô hình mà chủ thể hoặc đối tượng ngưỡng mộ, tuân theo một cách tự giác, không ép buộc.

Thuật ngữ “sức mạnh mềm” mặc dù chưa được phổ biến và nghiên cứu, đánh giá một cách tổng quát ở Việt Nam, nhưng tại một số nước phát triển như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp… khái niệm này đã được đề cập từ lâu. Năm 1990, người được xem như cha đẻ của khái niệm này là giáo sư người Mỹ Joseph Nye cho rằng: “Sức mạnh mềm là khả năng khiến người khác muốn cái mà bạn muốn, do đó họ sẽ tự nguyện làm theo điều mà không phải ép buộc hoặc mua chuộc”. Đến năm 1999, Joseph Nye định nghĩa cụ thể hơn: “Sức mạnh mềm là kết quả lý tưởng có được thông qua sức hấp dẫn của văn hóa và ý thức hệ chứ không phải sức mạnh cưỡng chế của một quốc gia, có thể làm cho một người khác tin phục đi theo mình, hoặc tuân theo các tiêu chuẩn hành vi hay chế độ do mình định ra để hành xử theo lý tưởng của mình. Sức mạnh mềm dựa vào sức thuyết phục của thông tin ở mức độ rất lớn”.

Dưới góc độ của chính trị học và khoa học tổ chức nhà nước, có thể nhận thấy khái niệm về sức mạnh mềm gần đây nhất của Joseph Nye là đầy đủ và cô đọng nhất, khi ông cho rằng: “Sức mạnh mềm là một loại năng lực, có thể giúp đạt được mục đích thông qua sức hấp dẫn chứ không phải ép buộc hoặc dụ dỗ. Sức hấp dẫn này đến từ quan điểm giá trị về văn hóa, chính trị và chính sách ngoại giao của một nước”.  

Có thể nói, tính chất cốt lõi trong sức mạnh mềm của một quốc gia là tính hấp dẫn, thu hút được sự ngưỡng mộ, kính phục của cộng đồng thế giới dành cho quốc gia đó, bao gồm các giá trị căn bản của xã hội, văn hóa, mô hình nhà nước, các chính sách hợp pháp, đầy đủ thẩm quyền, phù hợp đạo đức, vị thế quốc tế thể hiện qua khả năng tham gia vào các thể chế đa phương, hoặc thiết lập nên các luật lệ hành xử trong quan hệ giữa các chủ thể chính trị(1).

2. Kinh nghiệm xây dựng, phát huy sức mạnh mềm của một số nước trên thế giới

Cùng với việc hoàn thiện thể chế chính trị, pháp luật và chính sách phát triển kinh tế - xã hội (sức mạnh cứng), các quốc gia phát triển đang ngày càng thể hiện rõ nét sự ảnh hưởng của một nước lớn từ chính sách ngoại giao cho đến phát triển kinh tế, văn hóa… trên toàn thế giới, tạo ra sức mạnh mềm đáng chú ý.

2.1 Kinh nghiệm của Mỹ

Xét dưới góc độ văn hóa - xã hội, có thể khái quát sức mạnh mềm của Mỹ gồm có 04 tư tưởng chủ đạo: tính năng động, cá nhân vị kỷ, tư bản chủ nghĩa và bành trướng cường quyền chủ nghĩa. Bốn yếu tố đó hợp thành một tổng thể thuần nhất, giúp chúng ta hiểu khái quát các hoạt động của tập thể và cá nhân người Mỹ, hiểu các thể chế, quan điểm, tập tục của họ. Có thể khẳng định, không có những yếu tố đó thì văn minh người Mỹ cũng không có gì khác so với nền văn minh của các quốc gia khác. Đó chính là sự riêng biệt của người Mỹ, tạo nên một sức mạnh mềm rộng khắp trên toàn thế giới, nền kinh tế giữ vị trí đứng đầu thế giới từ năm 1920 cho tới nay.

Nghiên cứu một cách tổng quát về sức mạnh mềm của Mỹ cho thấy, họ là quốc gia đứng đầu thế giới về nghiên cứu khoa học cơ bản và sáng chế công nghiệp, có nhiều nhà khoa học nổi tiếng như Thomas Alva Edison (1847-1931), Linus Pauling (1909-1994), Albert Einstein (1879-1955), Nikola Tesla (1856-1943), Thomas Hunt Morgan (1866-1945)… Hiện nay, Mỹ có khoảng 3,1 triệu nhà khoa học (đứng đầu thế giới), có nhiều nhà văn hóa lớn như Jack London (1876-1916), Mark Twain (1835-1910), Ernest Miler Hemingway (1899-1961).v.v… Ngành điện ảnh của Mỹ cũng đứng đầu thế giới về sản xuất phim và công nghiệp điện ảnh, được ví như một tượng đài của ngành công nghiệp điện ảnh thế giới.

Đặc biệt, Mỹ cũng là quốc gia dẫn đầu về số lượng các nhà sáng chế công nghệ cũng như tập đoàn thương mại, các thương hiệu có tầm ảnh hưởng rộng khắp thế giới như Microsoft, Amazon… Theo xếp hạng năm 2013, có đến 9 trong số 10 thương hiệu có giá trị cao nhất thế giới là các công ty của Mỹ. Theo đánh giá, Mỹ là quốc gia có lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào lớn nhất và cũng là nhà đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn nhất trên thế giới(2).

Từ sự hùng mạnh về kinh tế, quân sự và những phát triển vượt bậc về văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ của Mỹ… mặc dù không có một quy định cụ thể nào đối với thông lệ quốc tế, nhưng tiếng nói của họ trên các diễn đàn chính trị thế giới đều được quan tâm, nếu không nói là có giá trị. Chính sự phát triển của Mỹ cũng tạo nên “một sức hút kỳ lạ” khiến rất nhiều người trên thế giới mong muốn được sinh sống, học tập trên đất nước Mỹ - đó chính là sức mạnh mềm mà Mỹ đã tạo ra.

2.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Qua hơn 40 năm (từ năm 1978) thực hiện đường lối cải cách và mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc đã đạt được những thành tựu nhảy vọt, khiến cả thế giới khâm phục. Ngày nay, ảnh hưởng to lớn của nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới càng trở nên sâu sắc, thể hiện trên nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa… Sự thành công đó đang tạo ra một sức mạnh mềm rất đáng chú ý của Trung Quốc, thể hiện một tham vọng lớn lao. Điều này đã được chỉ rõ tại Hội nghị Trung ương lần thứ 3, khóa XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc (khai mạc ngày 09/11/2013): “thực tiễn phát triển không có giới hạn, giải phóng tư tưởng không có giới hạn, cải cách mở cửa cũng không có giới hạn”.

Cùng với việc chú trọng củng cố sức mạnh cứng (nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới, là thành viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc…), Trung Quốc đang cố gắng xây dựng và phát triển sức mạnh mềm một cách bài bản. Cụ thể, những năm gần đây Trung Quốc đẩy mạnh việc viện trợ kinh tế thông qua chính sách “Một vành đai, một con đường” hoặc đầu tư nhiều tỷ đô la vào các châu lục để “thâu tóm” các công ty có giá trị thương hiệu và uy tín của các nước. Bên cạnh đó, trong lĩnh vực văn hóa, Chính phủ Trung Quốc đang quản lý khoảng 500 Học viện Khổng giáo và hơn 1.000 lớp học Khổng Tử do Trung Quốc tài trợ tại các trường học trên khắp thế giới để dạy ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc; hoặc tài trợ tổ chức các chuyến thăm cho các nhà lãnh đạo trẻ của nước ngoài đến Trung Quốc.v.v. Ngày nay, thế giới đã thừa nhận Trung Quốc không thể tự ý phát triển tách biệt với các nước, ngược lại, các nước muốn phát triển cũng không thể tách biệt với Trung Quốc.

2.3 Kinh nghiệm của Cộng hoà Pháp

Pháp là cường quốc công nghiệp lớn thứ tư trên thế giới (sau Mỹ, Nhật Bản và Đức). Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, Pháp là quốc gia được xếp vào hàng đầu với hơn 200.000 nhà khoa học có tầm ảnh hưởng sâu rộng trên toàn thế giới. Đặc biệt, văn hóa Pháp là một trong những nền văn hóa vĩ đại nhất của nhân loại ở tất cả các loại hình: triết học, khoa học và công nghệ, kiến trúc, văn học, giáo dục, ẩm thực. Nhiều nét trong văn hóa Pháp đã trở thành chuẩn mực về “cái đẹp” không chỉ đối với các nước là thuộc địa trước đây của Pháp mà cả những quốc gia phát triển đương đại.

Được xem là một trong những cái nôi của nền văn hóa châu Âu, văn hóa Pháp đã trải qua hàng nghìn năm xây dựng và phát triển. Cùng với sự phát triển từ hàng trăm năm trước Công nguyên, văn hóa Pháp mang trong mình những bản sắc riêng biệt và ấn tượng, tạo nên một sức mạnh mềm đầy giá trị trong phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của Pháp.

3. Xây dựng và phát huy sức mạnh mềm ở Việt Nam

Qua nghiên cứu những giá trị căn bản và lợi ích to lớn của sức mạnh mềm cũng như những kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, Việt Nam cần có những chính sách, biện pháp phù hợp để xây dựng và củng cố sức mạnh mềm, cụ thể là:

Một là, cần tiếp tục đổi mới về thể chế: trước hết, cần kiên định theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn; từng bước xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Khoản 3, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới (năm 1986), Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều biện pháp, chính sách đúng đắn để đổi mới về thể chế chính trị phù hợp với nhu cầu phát triển đất nước cũng như bối cảnh toàn cầu hóa. Đặc biệt, tại Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và Quyết định số 225/QĐ-TTg ngày 04/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 đều xác định cải cách thể chế là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất.

Việc đẩy mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh cả trong và ngoài nước thuận lợi và minh bạch hơn. Đặc biệt, kết quả tích cực về cải cách thể chế và đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy  nhà nước làm cho Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có hệ thống chính trị phát triển, ổn định hàng đầu thế giới. Minh chứng rõ nhất mới đây là thành phố Hà Nội đã chính thức được lựa chọn là nơi tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên từ ngày 27 đến ngày 28/02/2019. Đây là minh chứng cho một thể chế chính trị Việt Nam phát triển hài hòa và mô hình kinh tế hiệu quả.

Hai là, cần nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Hiện nay Việt Nam đã trở thành một nước có mức phát triển trung bình khá, tiềm lực kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh đã mạnh lên rõ rệt; là thành viên của 70 tổ chức quốc tế, là đối tác chiến lược với 16 nước, đối tác toàn diện với 12 nước và có quan hệ ngoại giao với 188 nước trong tổng số 193 quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên Liên hợp quốc. Đặc biệt, Việt Nam đã và đang là thành viên chủ động, tích cực của cộng đồng các nước ASEAN; từ ngày 11/01/2007 là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO); ngày 09/3/2018 ký kết tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… Đây là những lợi thế to lớn mà Việt Nam cần tận dụng cơ hội nhằm đưa nền kinh tế hội nhập sâu rộng với thế giới.

Kiên định, kiên trì vì mục tiêu đảm bảo giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốt vấn đề lạm phát (CPI) dưới 4% theo tinh thần Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2019; trọng tâm là tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, tăng năng suất lao động, cải cách thể chế, cải cách chính sách doanh nghiệp nhà nước; phát triển doanh nghiệp tư nhân, vấn đề khởi nghiệp và cơ cấu lại nợ công. Bởi vì, một quốc gia muốn có tiếng nói “trọng lượng” trên diễn đàn chính trị thế giới đòi hỏi phải có tiềm lực kinh tế hùng mạnh để tạo nên sức lan tỏa và tầm ảnh hưởng sâu rộng, đây chính là tiền đề cho sức mạnh mềm của Việt Nam.

Ba là, tiếp tục gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, có nền văn hóa đa dạng và phong phú, có bản sắc riêng. Nền văn hóa đó được hình thành và hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, trong quá trình xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất, một quốc gia độc lập. Bằng cách thức độc đáo, không lẫn với các yếu tố khác, văn hóa đã ngày càng làm sâu sắc hơn ý thức dân tộc, quốc gia; làm rõ thêm lịch sử dân tộc và giá trị thiêng liêng của độc lập và chủ quyền quốc gia, đó chính là sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đã nêu rõ: “Các cấp, các ngành phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc tầm quan trọng đặc biệt của văn hóa, con người; phải thực hiện có kết quả mục tiêu xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, dân chủ và khoa học; xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế”(3). Trong đó, đặc biệt chú ý đến việc tuyên truyền về lòng yêu chuộng hòa bình, tinh thần hòa hiếu và trách nhiệm trong quan hệ quốc tế, cả song phương và đa phương là điểm cốt lõi của nhân dân Việt Nam, để chúng ta thực sự là điểm đến, hình mẫu của những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới; luôn là điểm gặp gỡ an toàn và lý tưởng cho lãnh đạo các nước mong muốn giải quyết những vấn đề “nóng bỏng” và mưu cầu hòa bình của người dân các nước.

Việt Nam hiện nay có 26 di sản văn hóa được UNESCO công nhận(4). Đây thực sự là những di sản vô giá, đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực hơn nữa, có những chiến lược, chính sách phát triển để phát huy một cách bài bản, hài hòa. Tuy nhiên, trong sự đa dạng và phong phú ấy, cần có nhiều hơn nữa những nghiên cứu, đánh giá của các nhà chuyên môn cũng như tham khảo rộng rãi trong quần chúng nhân dân để chọn lọc ra những yếu tố văn hóa thực sự đặc sắc, nổi trội, riêng biệt nhằm đầu tư, phát triển một cách có trọng tâm, trọng điểm để thực sự trở thành một sức mạnh mềm đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.

Bốn là, cần chú trọng, đẩy mạnh công tác ngoại giao. Trong bối cảnh hiện nay, tình hình khu vực và trên thế giới có những chuyển biến sâu sắc và nhanh chóng; quá trình toàn cầu hoá làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia. Vì vậy, công tác ngoại giao cả song phương và đa phương có ý nghĩa quan trọng, là “đòn bẩy” trong triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế… nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao tầm ảnh hưởng và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, làm tốt công tác ngoại giao đa phương còn là cơ sở để thể hiện tiềm năng sẵn sàng đóng góp và xử lý của Việt Nam trong các vấn đề phức tạp của quốc tế; đóng góp vào việc giữ gìn hoà bình, an ninh, chia sẻ những giá trị chung của nhân loại; tham gia giải quyết những thách thức mang tính toàn cầu.

Năm là, ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để phát triển khoa học và công nghệ. Trong bối cảnh kinh tế tri thức và toàn cầu hoá, Việt Nam phải tăng cường tiềm lực cho khoa học, công nghệ để không chỉ tạo ra cạnh tranh về sản phẩm mà còn tạo ra năng lực cạnh tranh quốc gia. Mặc dù nước ta không phải là nơi khởi điểm và có thế mạnh như một số nước trên thế giới, nhưng nếu có chính sách, giải pháp hợp lý thì hoàn toàn có thể “đi tắt, đón đầu”, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc tiếp nhận và chuyển giao công nghệ trên nhiều lĩnh vực, trong đó Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư, đặc biệt là các thành phần kinh tế tư nhân cùng tham gia đào tạo, nghiên cứu, triển khai trên nhiều lĩnh vực của khoa học và công nghệ (ví dụ: công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng mới, công nghệ thông tin, công nghệ vũ trụ…).

Ngày nay, sự đổi thay của khoa học và công nghệ, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang tính lịch sử, trong đó nổi bật là sự phát triển của khoa học, công nghệ và thông tin, truyền thông thì dòng chảy của lịch sử, văn hóa cùng sự phát triển kinh tế - xã hội đều mang tính quốc tế. Vì vậy, chỉ có lý luận và thực tiễn sâu sắc mới có thể “tỉnh táo” trong tư tưởng, và chỉ có tư tưởng “tỉnh táo” mới có thể kiên định về đường lối chính trị, từ đó đề ra những chiến lược đúng đắn, giải pháp phù hợp cho Việt Nam phát triển nhanh và bền vững. Để đạt được điều này cần tăng cường, hoàn thiện sức mạnh cứng cũng như xây dựng, phát huy sức mạnh mềm để tạo nên một sức mạnh tổng hợp, đó chính là “sức mạnh thông minh” trong kỷ nguyên số, trên cơ sở kết hợp các yếu tố mà trọng tâm là tiếp tục cải cách thể chế, đẩy mạnh phát triển kinh tế và phát huy những giá trị văn hóa, con người Việt Nam./.  

Lê Doãn Sơn - Tạp chí Tổ chức nhà nước

----------------------------------------------------------------

Ghi chú:  

(1) Xem: www.//http/nghiencuuquocte.org/tag/ quyen-luc-mem.

(2) Xem: www.//http/fia.mpi.gov.vn, Trang thông tin điện tử nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư/Xu thế đầu tư ra nước ngoài của Mỹ.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H.2016, tr.28-29.

(4) http://baolamdong.vn/dulich/201711/26-di-san-van-hoa-o-viet-nam-duoc-vinh-danh-la-di-san-the-gioi-ky-iv-2866403/. 

 

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Vai trò của khoa học tổ chức đối với tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam

Ngày đăng 17/02/2020
Khoa học tổ chức có đối tượng nghiên cứu là cấu trúc, chức năng, hệ thống quy luật, nguyên tắc vận hành và các điều kiện cần và đủ để tổ chức đạt được hiệu quả hoạt động, do đó có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức. Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước hiện nay, việc nghiên cứu và vận dụng những quan điểm, nguyên tắc của khoa học tổ chức vào việc hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước là rất cần thiết.

Quy định số 214-QĐ/TW có ý nghĩa quan trọng đối với công tác cán bộ trước thềm Đại hội XIII của Đảng

Ngày đăng 11/02/2020
Cùng với việc tiếp tục gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Quy định số 214-QĐ/TW là cơ sở quan trọng để nhận xét, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, giới thiệu cán bộ ứng cử chính xác và khách quan, chuẩn bị nhân sự cho đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng.

Tầm quan trọng của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược

Ngày đăng 10/02/2020
Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác cán bộ, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Bài viết tập trung bàn về tầm quan trọng của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược - nhiệm vụ then chốt trong công tác xây dựng đảng, cần có quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị.

Tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình nhằm tránh giảm sốc thị trường lao động và ứng phó quá trình già hóa dân số ở Việt Nam

Ngày đăng 10/02/2020
Kỳ họp thứ Tám, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi năm 2019). Đây là Bộ luật được dư luận xã hội, đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hết sức quan tâm, nhất là về việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu theo quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu. Bài viết cung cấp những thông tin về vấn đề này nhằm tạo sự thống nhất cao trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện Bộ luật Lao động (sửa đổi).

Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức nữ ở Việt Nam

Ngày đăng 06/02/2020
Việt Nam là một trong những nước tích cực thực hiện bình đẳng giới trong xây dựng chính sách, pháp luật, đã phê chuẩn và chính thức trở thành thành viên của CEDAW (Công ước quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979) vào năm 1982. Việc thúc đẩy bình đẳng giới và vấn đề lồng ghép bình đẳng giới đối với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức nữ trong xây dựng pháp luật là điều cần thiết, nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương, đồng thời đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và pháp luật quốc tế về bình đẳng giới. 

Tiêu điểm

Giữ vững kỷ luật, kỷ cương, hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ

Nhân dịp đầu xuân Canh Tý 2020, Tạp chí Tổ chức nhà nước đăng tải bài viết về những điểm mới, nổi bật trong công tác cán bộ và định hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế về cán bộ, công chức, viên chức trong thời gian tới của đồng chí Lê Vĩnh Tân, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Ban Cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ.