Hà Nội, Ngày 10/12/2018

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay

Ngày đăng: 06/12/2018   05:53
Mặc định Cỡ chữ
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt trong cơ cấu của xã hội. Trong số những gia đình ở nước ta, bên cạnh những bước phát triển mới, tiến bộ, thuận lợi còn phải đối diện với rất nhiều thách thức và bước đầu có dấu hiệu của sự khủng hoảng. Vì vậy, nghiên cứu về gia đình nhằm xây dựng những luận cứ khoa học cho việc củng cố và phát triển gia đình là một trong những vấn đề quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay.
Ảnh minh họa: internet

Gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt trong cơ cấu của xã hội. Sự ổn định và phát triển của gia đình có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự ổn định và phát triển xã hội. Việt Nam là một trong số những nước có truyền thống tôn trọng gia đình. Tuy nhiên, đã có một thời gian dài do phải tập trung giải quyết các vấn đề giải phóng dân tộc, thống nhất và xây dựng đất nước nên chúng ta đã không có điều kiện để nghiên cứu về gia đình. Gia đình ở nước ta, bên cạnh những bước phát triển mới, tiến bộ, thuận lợi cũng phải đối diện với rất nhiều thách thức và bước đầu có những dấu hiệu của sự khủng hoảng. Những định hướng về xây dựng giá trị, chuẩn mực gia đình trong thời kỳ mới chưa rõ ràng và chưa trở thành học thuyết cho các gia đình noi theo. Bởi vậy, nghiên cứu về gia đình nhằm xây dựng những luận cứ khoa học cho việc củng cố và phát triển gia đình là một trong những vấn đề quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam hiện nay.

1. Cơ sở lý luận của nghiên cứu khoa học về gia đình 

1.1 Đóng góp về lý luận của các nghiên cứu gia đình trên thế giới

Có thể nói, gia đình gắn bó chặt chẽ với con người và xã hội, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau. Điều này dẫn tới nhu cầu phải liên kết các ngành khoa học trong nghiên cứu gia đình và việc hình thành một chuyên ngành khoa học còn khá mới mẻ gọi là Gia đình học (Family Study).

Từ thời cổ đại, ba trụ cột triết học cổ điển Hy Lạp: Socrates (469-399), Platon (427-347), Aristoteles (384-322) trước Công nguyên đã đặt nền móng cho nghiên cứu về hôn nhân và gia đình. Platon đã đề cập nhiều về gia đình và cá nhân trong mô hình quản lý của “nhà nước lý tưởng”. Tuy nhiên, có thể coi nhà triết học Hy Lạp Aristoteles là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về gia đình một cách hệ thống. Ông đã dựa vào phương pháp phân tích thực nghiệm để nghiên cứu các hiện tượng xã hội và xác định hệ thống gia đình một cách tổng quát và coi gia đình là một phạm trù biến đổi, vừa mang tính lịch sử vừa mang tính đặc thù của các xã hội.

Ở phương Đông, các nhà kinh điển của Nho giáo Trung Quốc đặt gia đình vào mối quan hệ với toàn bộ hệ thống xã hội của con người, coi Nhà là mắt xích quan trọng nhất nối kết con người với đất nước và thế giới (Thân - Nhà - Nước - Thiên hạ). Các tác phẩm của Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử (Nho giáo nguyên thủy) và Trình Y Xuyên, Đổng Trọng Thư (hậu Nho) đã đặt nền móng cho các quan điểm nghiên cứu về gia đình ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên là những nước theo Nho giáo thời cổ.

V.Ph.Hêghel là nhà triết học duy tâm khách quan nổi tiếng của nước Đức đã đưa ra các vấn đề về mối quan hệ biện chứng trong gia đình. Nhà triết học Pháp J.J. Rousseau đã chỉ rõ xã hội tư bản trong giai đoạn đầu tiên đang phá hoại các chuẩn mực văn hoá gia đình truyền thống và khuyên con người nên trở lại gia đình truyền thống (J.J. Rousseau, 1964). Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng, Thomas More, Charles Fourier, Robert Owen, Saint-Simon đã đưa ra mô hình bình đẳng giới trong gia đình và xã hội. 

Trên thế giới, những nghiên cứu khoa học về gia đình một cách thực sự bài bản và có hệ thống được bắt đầu từ thế kỷ XIX. Việt Nam chịu ảnh hưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với bộ “Tư bản” của C.Mác, tác phẩm “Nguồn gốc Gia đình, của Chế độ tư hữu và của Nhà nước” của Ph.Ănghen, các tác phẩm của V.I.Lênin về Cách mạng tháng Mười, về gia đình vô sản đã đưa ra quan điểm về giải phóng con người, gia đình theo chế độ một vợ một chồng, bình đẳng nam nữ, gia đình dựa trên tình yêu, con người yêu và sống có trách nhiệm với nhau mà không có sự kỳ thị, phân biệt. 

Cùng thời kỳ này, các nhà xã hội học cũng đề cập đến gia đình. Auguste Comte (1798-1857) nhà triết học Pháp, một trong những nhà sáng lập ra bộ môn Xã hội học, cha đẻ của chủ nghĩa thực chứng thuộc phái cấu trúc chức năng nêu ra trật tự gia đình theo quan điểm phụ quyền; Emile Durkheim (1858-1917), nhà xã hội học người Pháp gốc Do Thái, người đầu tiên viết về nạn tự tử và sai lệch chuẩn mực xã hội và tác động của nó tới gia đình; Georg Simmel (1858-1918), nhà xã hội học người Đức gốc Do Thái, đại biểu của thuyết tương tác xã hội; Herbert Spencer (1820-1903), nhà sinh vật học xã hội Anh; Frederic Le Play (1800-1882) nhà xã hội học Pháp, người đề xướng nghiên cứu thực nghiệm về gia đình; nhà triết học hiện sinh Pháp Jean - Paul Sartre ở nửa đầu thế kỷ XX, coi gia đình là một sản phẩm chủ quan của thiết chế xã hội và con người. Bác sỹ Z. Freud (1856-1939) đưa ra xu hướng nghiên cứu gia đình trong sự kết hợp tính sinh học và tính xã hội, tâm lý học. Từ đó ông gắn liền nghiên cứu về gia đình với việc giải quyết những trường hợp bệnh lý tâm lý trong thực tiễn.
Max Weber (1864-1920), nhà xã hội học người Đức nói về đạo đức và văn hóa trong gia đình; George Herbert Mead (1863-1931), nhà xã hội học Mỹ, người sáng lập ra thuyết “Tương tác biểu trưng”; Robert K.Merton (1910-2003), Talcott Parsons (1902-1979) đã đưa ra thuyết về trật tự phụ quyền trong gia đình và xã hội. Các nhà nữ quyền như Ann Oakley, Betty Fredan, Simone De Beauvoir đã đưa ra thuyết bình đẳng giới trong gia đình và xã hội, chống lại quan điểm nam quyền trong xã hội học của trường phái cấu trúc chức năng khi xem xét nam giới là đại diện chính, còn phụ nữ chỉ là kẻ phụ thuộc trong tất cả các lĩnh vực. Quan điểm bình đẳng giới lập tức được ủng hộ mạnh mẽ, tạo ra một cuộc cách mạng trong nghiên cứu khoa học xã hội và được chia ra hai giai đoạn: giai đoạn trước Giới theo quan điểm nam quyền, còn sau Giới là theo bình đẳng giới. Nhờ vậy, các cách tiếp cận trong nghiên cứu gia đình hiện nay đã toàn diện và công bằng hơn. 

1.2 Đóng góp lý luận của các nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam

Ngay từ thời phong kiến, nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ đã chú ý tới gia đình, điển hình là tác phẩm “Gia huấn ca” của Nguyễn Trãi, “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu, “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ. Tuy nhiên, phải đến năm 1986, các nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam mới được phát triển một cách có hệ thống. Cũng như nhiều nước trên thế giới, các nghiên cứu gia đình Việt Nam được đề cập tới từ nhiều góc độ triết học, sử học, dân tộc học, văn học, tâm lý học, giáo dục học, dân số học, văn hóa học, nhân loại học, phụ nữ học, giới... 

Có thể chia ra ba mảng nghiên cứu lớn: nghiên cứu về các chính sách gia đình và tác động của chính sách đối với gia đình; các vấn đề về gia đình truyền thống (giai đoạn trước năm 1945); các vấn đề về gia đình hiện đại (từ năm 1945 đến nay).

Trước hết là các vấn đề về chính sách gia đình: 

Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử Việt Nam hiện đại không chỉ là cuộc cách mạng xã hội mà còn là cuộc cách mạng về gia đình. Nó tạo ra sự biến đổi lớn lao cho gia đình, tạo điều kiện để giải quyết các vấn đề bất công trong gia đình như bất bình đẳng giới, giải phóng và giáo dục con người. Việc đấu tranh nhằm xoá bỏ những tập quán lỗi thời, những hiện tượng phản nhân văn trong đời sống gia đình đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Các chính sách về gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Chăm sóc và bảo vệ trẻ em, Luật Người cao tuổi...; các chiến lược quốc gia về gia đình đã nhất quán quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về gia đình, đó là: thực hiện chế độ một vợ, một chồng; cha mẹ gương mẫu, con cái hiếu thảo; anh em giúp đỡ, hòa thuận; tôn trọng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới; bảo vệ trẻ em; chăm sóc người cao tuổi; bảo vệ quyền cá nhân hợp pháp trong gia đình; xây dựng gia đình văn hóa; xác định quyền và trách nhiệm của các cá nhân trong gia đình; quyền lợi và trách nhiệm của gia đình với xã hội, ngược lại - trách nhiệm và quyền lợi của xã hội với gia đình; gia đình tuân thủ và thực hiện luật pháp...

Những chính sách trên đã tạo điều kiện cho các nghiên cứu về gia đình phát triển. Tổng điều tra dân số và nhà ở các năm của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương đã công bố kết quả cơ bản về phân bố dân số và nhà ở của thành thị, nông thôn và tỷ lệ tăng dân số theo vùng kinh tế - xã hội, tỷ lệ giới tính. 

Từ công cuộc đổi mới (năm 1986), các cuộc điều tra xã hội học về gia đình do nhiều cơ quan tiến hành đã đưa đến cái nhìn toàn diện hơn về gia đình Việt Nam hiện đại. Có thể nêu một số tác phẩm về gia đình như: “Gia đình học” (2007) của Đặng Cảnh Khanh và Mai Thị Quý đã trình bày tương đối toàn diện về vấn đề gia đình ở Việt Nam và một số nghiên cứu của gia đình trên thế giới; nghiên cứu về gia đình và biến đổi gia đình ở nông thôn của Vũ Tuấn Huy trong tác phẩm “Xu hướng gia đình ngày nay” đã phân tích sự chuyển đổi của hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và đưa ra các chỉ báo thú vị về gia đình trong hiện tại và tương lai; tác giả Nguyễn Từ Chi đưa ra nhiều nhận định dân tộc học và xã hội học về gia đình trong “Những nghiên cứu Xã hội học về gia đình Việt Nam”. Tác giả Nguyễn Đình Tấn trong “Sự thay đổi vai trò của người chồng, người cha trong gia đình từ truyền thống đến hiện đại” đã nêu ra một vấn đề rất mới về người đàn ông trong xã hội bình đẳng giới. Đây cũng là nghiên cứu khẳng định sự thay đổi từ thời đại gia trưởng sang thời đại bình đẳng giới khi quyền lợi chính đáng của người phụ nữ trong gia đình và xã hội đang được Nhà nước và xã hội bảo vệ. Tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề về vị thành niên trong tác phẩm “Một số vấn đề từ những khảo sát xã hội học về vị thành niên trong môi trường gia đình” và người cao tuổi trong tác phẩm “Người cao tuổi và các mô hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam”. Tác giả đã phân tích hai thế hệ khác biệt về tuổi tác, lối sống, điều kiện sống, nhu cầu, sở thích trong gia đình; đã đưa ra những khuyến nghị cho Nhà nước và thông điệp cho xã hội cần phải có các chính sách khác biệt cho mỗi thế hệ trong gia đình... 

Từ những nghiên cứu về gia đình nêu trên, có thể đưa ra một số vấn đề lý luận sau:

- Gia đình Việt Nam có những bước phát triển đặc trưng giống với các nước khác từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp. Tuy nhiên, gia đình Việt Nam cũng có những nét đặc trưng riêng, đó là sự kết tinh của văn hóa truyền thống Việt Nam, một xã hội nông nghiệp theo Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo và văn hóa bản địa đặc sắc thể hiện qua lối sống, các giá trị chuẩn mực, các tục lệ và tín ngưỡng của các vùng miền.

- Gia đình Việt Nam phát triển trong một xã hội đa dân tộc, vì vậy vừa có tính chung vừa phản ánh tính riêng của các dân tộc, đa dạng trong sự thống nhất.

- Gia đình Việt Nam đổi mới theo chính sách của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ và đóng góp to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

- Gia đình Việt Nam đang kế thừa các truyền thống tốt đẹp của dân tộc kết hợp với tinh hoa của thời đại và đang chịu ảnh hưởng của các trào lưu, lối sống hiện đại của nhiều nước trên thế giới trong xu thế mở cửa kinh tế và toàn cầu hóa. 

2. Cơ sở thực tiễn của xây dựng gia đình Việt Nam

Sự tồn tại của gia đình với các hoạt động phong phú qua các thời đại lịch sử là cơ sở thực tiễn để xây dựng và phát triển gia đình. Việc thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình chính là cơ sở thực tiễn cho việc hình thành các chính sách, xây dựng những chuẩn mực và định hướng giá trị tốt đẹp của gia đình. Gia đình phát triển sẽ không chỉ củng cố các mối quan hệ gia đình, hình thành nhân cách con người mà còn kiến tạo một môi trường xã hội thuận lợi cho mỗi cá nhân được phát triển hài hoà và toàn diện. Về phương diện này, gia đình là cơ sở đầu tiên cho việc tái sản xuất ra con người và xã hội. 

Trước hết, chức năng kinh tế của gia đình khẳng định gia đình không chỉ tạo ra nguồn thu nhập cho sự tồn tại của mình mà còn cung cấp lực lượng lao động, của cải cho xã hội và tham gia vào các quá trình kinh tế của xã hội từ sản xuất, phân phối đến trao đổi và tiêu dùng. Mọi nhân tài của đất nước, từ các anh hùng, vĩ nhân, cán bộ, những người lính cũng như các tầng lớp công nhân, nông dân, lao động tự do, trí thức đều xuất thân từ gia đình. Bước qua ngưỡng cửa của gia đình, họ có mặt trên tất cả các vị trí, điều tiết và vận hành bộ máy của xã hội. 

Chức năng văn hóa của gia đình đã đóng góp vào việc xây dựng các chuẩn mực và giá trị đạo đức, phong tục tập quán, lối sống văn hoá, giáo dục của xã hội. Gia đình là một mắt xích quan trọng trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với làng xóm, cộng đồng, đất nước. Đây chính là những nhân tố “phi kinh tế” không thể thiếu được để thúc đẩy và dẫn đường cho những phát triển về kinh tế. 

Chức năng tinh thần, tình cảm của gia đình là một chức năng đặc biệt. Từ tình thương yêu đối với gia đình dẫn tới tình thương yêu đối với cộng đồng, xã hội, Tổ quốc. Chính tình thương yêu đó là chỗ dựa vững chắc cho sự tồn tại, phát triển của đất nước trước những biến động dữ dội của lịch sử. Người Việt Nam giải quyết tất cả các mối quan hệ không chỉ theo luật pháp mà còn trên cơ sở của tình nghĩa.

Trong gia đình Việt Nam truyền thống, “hiếu đễ” được coi là cái gốc của đạo lý. Ai bất hiếu với cha mẹ, tàn nhẫn với anh, chị, em mình thì không thể là người tốt và đáng tin cậy trong xã hội được. Bên cạnh đó, mối quan hệ trên dưới trong gia đình được quy định rất rõ ràng. Con người, trước hết là một bộ phận của gia đình, là một mắt xích bắt nguồn từ tổ tiên đến con cháu sau này. Ở những vị trí cụ thể của mình là cha, con, chồng, vợ đều phải ứng xử theo phận sự của mình, cha mẹ nhân từ, con cái hiếu thảo, vợ chồng hoà thuận, thủy chung, anh chị nhường nhịn em, em kính trọng anh chị. Nếu tất cả các thành viên đều giữ đúng lễ nghĩa của mình thì gia đình mới ổn định, xã hội mới thái bình.

Chức năng sinh sản, duy trì và phát triển nòi giống cũng được quan tâm hơn trước. Các gia đình không còn sinh nhiều con với chất lượng thấp mà quan tâm đến việc ít con với chất lượng cao. Chất lượng sống, chất lượng con người là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết gia đình hiện nay.

Chức năng giáo dục của gia đình đóng vai trò quan trọng, là cốt lõi trong chức năng giáo dục của xã hội. Nó là nền tảng của giáo dục xã hội trong việc hình thành nhân cách con người, cách ứng xử và đạo đức của con người. Con người mẫu mực thường xuất thân trong các gia đình có nền giáo dục cao (gia giáo), ngược lại những gia đình khủng hoảng, bỏ rơi con cái, quan hệ phức tạp sẽ tạo ra những con người ốm yếu về thể chất, tinh thần hoặc rơi vào tệ nạn xã hội và tệ hại hơn là vi phạm pháp luật, tội phạm.

Điều quan trọng hiện nay là làm rõ một số vấn đề như gia đình cần kế thừa và phát huy truyền thống gì, tiếp thu tính hiện đại nào? Cha mẹ thường dạy con theo bản năng, kinh nghiệm học được từ thế hệ trước hoặc từ sách báo, vì vậy nhìn chung sự giáo dục này không được nhất quán và toàn diện trong khi xã hội phát triển đa dạng trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Cũng cần thấy rõ những biểu hiện tiêu cực hiện nay của gia đình, chẳng hạn, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, giá trị của đồng tiền đã và đang len lỏi vào các mối quan hệ gia đình. Hiện tượng này mang lại cả hiệu quả tích cực lẫn tiêu cực. Sự bận rộn của các thành viên gia đình trong các hoạt động kinh tế và xã hội làm giảm sút thời gian sinh hoạt tập thể của gia đình. Vấn đề chăm sóc và giáo dục con cái, phụng dưỡng cha mẹ già cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bên cạnh đó, lối sống tự do của các xã hội công nghiệp phát triển đã xâm nhập vào nước ta và thực sự chưa phù hợp với trình độ phát triển cũng như truyền thống dân tộc. Trong khi đó, những nếp nghĩ và thói quen lạc hậu, cổ hủ, phong kiến đang có xu hướng phục hồi. Những quan niệm của chủ nghĩa gia trưởng, thói coi thường phụ nữ, nạn bạo lực, xung đột trong gia đình đã phát triển ở cả thành thị và nông thôn. Hiện tượng khủng hoảng của gia đình hiện nay là tất yếu khi gia đình không có nhiều sức đề kháng trước những cơn bão của xã hội, thời cuộc. 

Ngày nay, giáo dục gia đình không chỉ dựa vào kinh nghiệm mà ông bà, cha mẹ còn phải được học tập, có thể học từ trường lớp, học từ sách báo và phải tuân theo pháp luật. Giáo dục nhân cách con người theo các chuẩn mực truyền thống là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, công, dung, ngôn, hạnh cần được khôi phục trong bối cảnh các chuẩn mực đó đang dần mất đi, nhưng cũng cần được bổ sung theo các quan điểm hiện đại. Các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình không chỉ dựa trên tình yêu thương mà còn trên cơ sở của pháp luật về quyền tự do cá nhân. Trách nhiệm và quyền lợi của các thành viên trong gia đình cần phải tiến dần tới sự công bằng, mối quan hệ giới phải được coi là tiến bộ và được pháp luật bảo vệ.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

- Các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách về gia đình cần dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về gia đình. Lý luận soi đường, đem đến những kinh nghiệm quý báu, những bài học sâu sắc, còn thực tiễn là các trải nghiệm để chúng ta hoàn thiện gia đình. Do đó, cần nhận dạng gia đình với các mặt tích cực và thách thức, đồng thời dự báo hướng phát triển của gia đình trong tương lai.

- Đảng và Nhà nước cần có các chính sách sát hợp với gia đình dựa trên cơ sở khoa học để quản lý sự phát triển gia đình đúng hướng, tạo sự hài hòa giữa gia đình và xã hội, bảo đảm các yếu tố truyền thống có chọn lọc và tiếp thu tinh hoa của nhân loại. Thực hiện quản lý nhà nước về gia đình, đặc biệt trong các trường hợp gia đình suy thoái, khủng hoảng, bạo lực, tệ nạn xã hội và tội phạm.

- Tạo mối quan hệ lành mạnh giữa gia đình và xã hội, giữa gia đình với luật pháp. Gia đình vừa đóng vai trò tích cực, tham gia vào xây dựng, phổ biến chính sách vừa thực hiện, phản biện và kiểm soát chính sách.

- Cần quan tâm đến việc phát triển gia đình đa dạng hiện nay. Đó là các gia đình đa văn hóa đang ngày càng phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

GS.TS. Lê Thị Quý - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giới và Phát triển

--------------------------------

Tài liệu tham khảo: 
1. Báo cáo Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam, Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương, Nxb Thống kê, H.2009. 
2. Đặng Cảnh Khanh - Lê Thị Quý, Gia đình học, Nxb Lý luận chính trị, H.2007.
3. Hồ Chí Minh, tuyển tập, tập 2, Nxb Sự thật, H.1980.
4. C.Mác - Ph.Ănghen, V.I.Lênin, Hôn nhân và gia đình, Nxb Sự thật, H.1959.
5. Kết quả 10 cuộc điều tra quy mô lớn 1998-2000, Nxb Thống kê, H.2001.
6. Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình, Tổng cục Thống kê, H.2008.
7. Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh, Bạo lực gia đình, một sự sai lệch giá trị, Nxb Khoa học xã hội, H.2007.
8. Lê Thị Quý, Giáo trình Xã hội học gia đình, Nxb Chính trị - Hành chính, H.2011.
9. Lê Thị Quý (chủ biên), Quản lý nhà nước về gia đình, lý luận và thực tiễn, Nxb Dân trí, H.2010.
10. Vũ Khiêu, Nho giáo và đạo đức, Nxb Khoa học xã hội, H.1995. 
 

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Về đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền đô thị ở nước ta hiện nay

Ngày đăng 29/11/2018
Cùng với quá trình đổi mới đất nước, hệ thống các đô thị Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng với vai trò và vị thế khác với các giai đoạn trước đây.

Xây dựng chính quyền trung ương tập quyền mạnh mẽ: một tiền đề cho phát triển bền vững

Ngày đăng 19/11/2018
Khi thảo luận về các thách thức xây dựng chính quyền trong Chiến lược phát triển nước ta cho tới năm 2035, các chuyên gia trong và ngoài nước đều thống nhất rằng: một trong các thách thức đáng kể nhất đối với bộ máy chính quyền nước ta là tính manh mún, cát cứ, phân tán, làm suy yếu khả năng ban hành và thực thi các chính sách của chính quyền trung ương [1]. Vì vậy, một trong những giải pháp quan trọng, làm tiền đề cho phát triển bền vững là xây dựng chính quyền trung ương tập quyền mạnh mẽ.

Vì sao nêu gương là một phương thức lãnh đạo của Đảng?

Ngày đăng 27/10/2018
Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng tuyên truyền, thuyết phục, vận động;… bằng sự gương mẫu, nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Tinh giản biên chế trong bộ máy hành chính nhà nước - vấn đề và giải pháp

Ngày đăng 12/05/2017
1. Sự cần thiết phải tinh giản biên chế trong bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam Tinh giản biên chế không phải là một hoạt động mới ở nước ta. Tuy nhiên, qua một thời gian dài được thực hiện nhưng vẫn không mang lại kết quả tích cực cho bộ máy hành chính nhà nước. Vì thế, cần phải có sự xem xét để khẳng định lại sự cần thiết của hoạt động này và tìm cách thực hiện tốt hơn.

Tư tưởng của John Locke về kiểm soát quyền lực

Ngày đăng 26/03/2017
John Locke (1632 - 1704), nhà triết học duy vật người Anh, có những cống hiến to lớn trong các lĩnh vực chính trị và pháp luật. Từ phương diện này, ông được xem là một nhà tư tưởng khởi nguồn cho cách mạng dân chủ tư sản. Ba cuộc cách mạng lớn của thế kỷ XVII và XVIII: Cách mạng Anh, Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp đều bắt rễ từ tư tưởng về “pháp quyền tự nhiên” của John Locke.

Tiêu điểm

Hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chiến lược cán bộ của Đảng

Tiếp tục quán triệt, hoàn thiện Chiến lược cán bộ và nhiệm vụ đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đặt ra đối với Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong thời gian tới là cần phải thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (CBCC).

Thể lệ gửi bài đăng

Thông tin tuyên truyền