Hà Nội, Ngày 17/06/2024

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện trong điều kiện hiện nay

Ngày đăng: 07/06/2024   10:33
Mặc định Cỡ chữ

Quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội trên địa bàn cấp huyện có vai trò rất quan trọng đối với người lao động, người sử dụng lao động và thực hiện an sinh xã hội. Trong thời gian tới, các cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện cần bám sát vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chương trình, kế hoạch công tác và nhiệm vụ trọng tâm của ngành Bảo hiểm xã hội để xây dựng hệ thống văn bản quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội trên địa bàn cấp huyện cho phù hợp.

 

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là chính sách quan trọng có ý nghĩa sâu rộng về kinh tế, chính trị, xã hội, thể hiện tính ưu việt và nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta. Trong những năm gần đây, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động (NLĐ), các chính sách BHXH được sửa đổi, bổ sung ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và thông lệ quốc tế. Chính sách BHXH được thực hiện vì mục đích an sinh xã hội, phục vụ người lao động, vì cuộc sống của người lao động, bởi vậy BHXH gắn liền với bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo. Trong những năm qua, ngành BHXH Việt Nam nói chung, các cơ quan BHXH cấp huyện nói riêng luôn không ngừng đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động, hướng tới mở rộng phạm vi bao phủ, tạo điều kiện cho người dân thụ hưởng những chính sách có nhiều tác động tích cực trong đời sống cộng đồng. Nhà nước thực hiện quản lý và điều hành xã hội thông qua việc áp dụng các phương pháp và công cụ quản lý đa dạng. Trong lĩnh vực BHXH, các phương pháp quản lý không chỉ giới hạn trong việc thiết lập các quy tắc, quy định mà còn bao gồm việc xây dựng và duy trì hệ thống chính sách, pháp luật BHXH hiệu quả. 

Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động của BHXH ở Việt Nam đã có sự thay đổi lớn, việc thực hiện chính sách BHXH đã và đang góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới, vào sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước. Năm 2023 vừa qua, cùng với hệ thống cơ quan BHXH Trung ương và cấp tỉnh, các cơ quan BHXH cấp huyện trên cả nước đã có nhiều cố gắng, nỗ lực để cùng làm nên những kết quả, thành tích tốt đẹp, đáng tự hào: 

Thứ nhất, hệ thống chính trị ở cơ sở vào cuộc mạnh mẽ: 100% các xã, huyện và tỉnh trên toàn quốc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT). Xác định sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền địa phương là yếu tố then chốt, quyết định hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách, trong năm 2023, Ban Cán sự đảng BHXH Việt Nam đã có văn bản gửi Ban Thường vụ tỉnh ủy, thành ủy 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị tiếp tục quan tâm phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT, quan tâm kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT ở cả cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương từ cấp tỉnh tới cấp xã cho thấy sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị trong thực hiện mục tiêu BHXH, BHYT toàn dân theo tinh thần các nghị quyết của Đảng.

Thứ hai, diện bao phủ BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) tiếp tục tăng, đặc biệt tỷ lệ người tham gia BHYT phát triển bền vững trong bối cảnh nền kinh tế phục hồi chưa như kỳ vọng. Năm 2023, cả nước có khoảng 18,26 triệu người tham gia BHXH, đạt 39,25% lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó khoảng 1,83 triệu người tham gia BHXH tự nguyện, đạt 3,92% lực lượng lao động trong độ tuổi (vượt 1,42% mục tiêu đến năm 2025 tại Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương); 14,7 triệu người tham gia BHTN, đạt gần 31,6% lực lượng lao động trong độ tuổi. Đặc biệt, diện bao phủ BHYT tiếp tục phát triển bền vững qua các năm: năm 2021 tỷ lệ bao phủ là 91,01% (vượt 0,01%); năm 2022 là 92,04% (vượt 0,04%); năm 2023 có trên 93,3 triệu người tham gia đạt tỷ lệ 93,35% (vượt 0,15% so với Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ) tiệm cận mục tiêu BHYT toàn dân.

Thứ ba, số người thụ hưởng chính sách ngày càng lớn, quyền lợi người thụ hưởng tiếp tục được đảm bảo kịp thời với chất lượng phục vụ ngày càng cao. Thực hiện Nghị định số 42/2023/NĐ-CP về điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng, với tinh thần khẩn trương, toàn Ngành BHXH đã ưu tiên tập trung nguồn lực, chi trả đầy đủ, kịp thời lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hằng tháng theo mức hưởng mới từ ngày 14/8/2023, được người dân ghi nhận và đánh giá cao.

Trong năm 2023, toàn Ngành đã giải quyết gần 95,7 nghìn người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; hơn 8,8 triệu lượt người hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe; phối hợp với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội giải quyết cho hơn 1 triệu người hưởng các chế độ BHTN. Tổng số chi các quỹ BHXH, BHYT, BHTN đạt trên 439,27 nghìn tỷ đồng, trong đó quỹ BHYT là 124,3 nghìn tỷ đồng với hơn 174,8 triệu lượt người khám, chữa bệnh BHYT. Xác định công tác phục vụ người hưởng luôn là nhiệm vụ trọng tâm, ngành BHXH Việt Nam không ngừng cải cách hành chính mạnh mẽ: cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) từ 114 thủ tục năm 2015 xuống chỉ còn 25 thủ tục. Trong đó 100% thủ tục được cung cấp trực tuyến ở mức độ 4; thực hiện giao dịch điện tử với các tổ chức, cá nhân ở tất cả các lĩnh vực nghiệp vụ… Đáng chú ý, năm 2023, cả nước đã có khoảng 64% số người nhận các chế độ BHXH, trợ cấp thất nghiệp qua tài khoản cá nhân tại khu vực đô thị, tăng 3% so với năm 2022 (vượt 4% chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao). Sự chủ động, kịp thời với tinh thần làm việc chu đáo, chuyên nghiệp của ngành BHXH thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, tạo thuận lợi tối đa cho các tổ chức, cá nhân tham gia, thụ hưởng chính sách.

Thứ tư, kỷ cương, kỷ luật về tài chính được tăng cường; quỹ BHXH, BHYT tiếp tục được quản lý chặt chẽ, an toàn, hiệu quả. Quỹ BHXH, BHYT đã trở thành quỹ an sinh lớn nhất, được quản lý, sử dụng đúng mục đích, an toàn, bền vững, công khai, minh bạch dưới sự giám sát của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng quản lý BHXH và các cấp, các ngành. Quy mô các quỹ tăng qua từng năm, được thực hiện chi trả đầy đủ, kịp thời tới từng người tham gia, thụ hưởng, nhờ đó nhân dân, người lao động (NLĐ) ngày càng yên tâm, tin tưởng chính sách. Bên cạnh việc đảm bảo quyền lợi người tham gia, quỹ BHXH, BHYT còn là nguồn tài chính quan trọng của quốc gia. Với cơ cấu đầu tư vào trái phiếu Chính phủ chiếm trên 80% tổng dư nợ đầu tư, các quỹ bảo hiểm đã góp phần đáp ứng nhu cầu huy động vốn của ngân sách nhà nước, giúp thực hiện chính sách tài chính vĩ mô, ổn định tài chính quốc gia, cơ cấu lại nợ công, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Thứ năm, công tác truyền thông, tư vấn, giải đáp chính sách tiếp tục đổi mới linh hoạt, sáng tạo. Công tác truyền thông được triển khai đồng bộ với nhiều hoạt động đa dạng, phong phú, bắt kịp xu hướng hiện đại; kết hợp linh hoạt giữa truyền thông trực tiếp và truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua mạng xã hội;… tạo sự lan tỏa sâu rộng để người dân biết đến chính sách, hiểu sâu lợi ích của chính sách, từ đó tin tưởng, tham gia. Đáng chú ý, việc triển khai hiệu quả công tác truyền thông đã góp phần tăng cường sự vào cuộc chủ động, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, tạo sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp trong tổ chức, thực hiện chính sách BHXH, BHYT theo đúng tinh thần các Nghị quyết của Đảng.

Năm 2023, ngành BHXH Việt Nam đã phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và địa phương đăng tải hơn 32 nghìn tin, bài, phóng sự…; thực hiện khoảng 28.800 hội nghị truyền thông, tập huấn, tư vấn, đối thoại với khoảng 1,58 triệu lượt người tham dự; khoảng 139.000 cuộc truyền thông nhóm nhỏ cho khoảng 1,08 triệu lượt người... Công tác tư vấn, giải đáp, hỗ trợ, chăm sóc khách hàng được ngành BHXH Việt Nam đặc biệt quan tâm đẩy mạnh. Năm 2023, đã hỗ trợ, tư vấn, giải đáp trên 1,7 triệu lượt người; tổ chức 12 hội nghị đối thoại, giải đáp chính sách tại 12 tỉnh, thành phố, thu hút gần 2.450 người tham gia. Qua đó, góp phần xây dựng hình ảnh ngành BHXH Việt Nam phục vụ người dân tận tâm, chuyên nghiệp và hiệu quả. Nhận thấy lợi ích của BHXH, BHYT rất thiết thực đặc biệt đối với người có hoàn cảnh khó khăn, những năm qua, BHXH Việt Nam đã phát động chương trình tặng sổ BHXH, tặng thẻ BHYT trong toàn hệ thống với thông điệp trao nhân ái, lan tỏa yêu thương. Năm 2023 đã có 24.300 sổ BHXH và 250.000 thẻ BHYT được trao tặng cho người có hoàn cảnh khó khăn.

Thứ sáu, BHXH Việt Nam tiếp tục được ghi nhận, đánh giá là một trong những đơn vị đi đầu trong triển khai Đề án 06. Toàn hệ thống BHXH Việt Nam đã ưu tiên tập trung nguồn lực, chủ động thực hiện các giải pháp hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao tại Đề án 06, đạt nhiều kết quả trong “Năm Dữ liệu số quốc gia 2023” và vinh dự được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Trong năm 2023, đã xác thực hơn 95 triệu thông tin nhân khẩu trong cơ sở dữ liệu do BHXH Việt Nam quản lý với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, trong đó có khoảng 86,6 triệu người đang tham gia, thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT chiếm 97% tổng số người tham gia. Đây là cơ sở, tiền đề quan trọng để cải cách TTHC, bảo đảm quyền lợi người tham gia, thụ hưởng chính sách, đồng thời phòng chống trục lợi chính sách hiệu quả.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã phối hợp với ngành Công an, ngành Y tế và các bộ, ngành liên quan triển khai sử dụng thẻ căn cước công dân gắn chíp phục vụ người dân đi khám chữa bệnh BHYT; triển khai 02 nhóm TTHC liên thông “Đăng ký khai sinh - đăng ký thường trú - cấp thẻ BHYT cho trẻ dưới 6 tuổi và Đăng ký khai tử - Xóa đăng ký thường trú - Hỗ trợ chi phí mai táng, Trợ cấp mai táng”… giúp người dân chỉ cần đến bộ phận Một cửa của UBND cấp xã nộp hồ sơ và nhận 3 kết quả cùng lúc. Trong năm 2023, toàn Ngành BHXH đã tiếp nhận và giải quyết 443.138 hồ sơ đề nghị cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi (rút ngắn thời gian chờ cấp thẻ BHYT từ 05 ngày xuống còn 02 ngày); 5.658 hồ sơ đề nghị giải quyết hưởng mai táng phí (rút ngắn thời gian giải quyết từ 10 ngày xuống còn 07 ngày)… Đặc biệt, đến nay 100% cơ sở KCB BHYT (tương ứng 12.851 nghìn cơ sở) trên cả nước đã triển khai KCB BHYT bằng căn cước công dân gắn chíp, với hơn 55 triệu lượt người sử dụng, rút ngắn thời gian, thủ tục KCB, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và quản lý, sử dụng hiệu quả Quỹ BHYT.

Thứ bảy, số tiền chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN giảm sâu nhất từ trước đến nay. Với sự chỉ đạo quyết liệt của BHXH Việt Nam, toàn Ngành đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đa dạng, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành để thu hồi, giảm số tiền chậm đóng xuống mức thấp nhất. Đặc biệt, Ngành đã tăng cường tập trung thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm vào các đơn vị chậm đóng lớn, kéo dài; đẩy mạnh thanh tra chuyên ngành đóng đột xuất các đơn vị SDLĐ; phối hợp với các đơn vị liên quan ngăn chặn và kịp thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về BHXH, BHYT. Năm 2023, BHXH Việt Nam chủ trì và phối hợp thực hiện thanh tra, kiểm tra tại hơn 22 nghìn đơn vị với tổng số tiền chậm đóng các đơn vị đã khắc phục là trên 2.023 tỷ đồng. Nhờ các giải pháp quyết liệt, linh hoạt, đồng bộ của Ngành BHXH, năm 2023, số tiền chậm đóng chỉ chiếm 2,69% số phải thu - là tỷ lệ thấp nhất từ năm 2016 trở lại đây (giảm từ 6% năm 2016 xuống còn 2,69%). Việc tiếp tục duy trì tỷ lệ chậm đóng ở mức thấp là một nỗ lực rất đáng ghi nhận, góp phần đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật của người sử dụng lao động trong thực hiện chính sách.

Thứ tám, đặt quyền lợi người tham gia BHYT làm trọng tâm, ngành BHXH Việt Nam đã chủ động, tích cực phối hợp với ngành Y tế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong khám, chữa bệnh BHYT và bổ sung nhóm đối tượng được NSNN hỗ trợ tham gia BHYT. Năm 2023, để đảm bảo quyền lợi người tham gia BHYT theo quy định, BHXH Việt Nam đã chủ động, tích cực phối hợp với Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan đề xuất Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT giai đoạn hậu Covid-19 và giải quyết tình trạng thiếu thuốc, vật tư y tế; Nghị định số 75/2023/NĐ-CP giải quyết khó khăn về cơ chế thanh toán kinh phí KCB BHYT vượt tổng mức thanh toán và bổ sung thêm nhiều nhóm đối tượng thuộc diện tham gia BHYT. Thực hiện Nghị định số 75/2023/NĐ-CP, BHXH Việt Nam đã kịp thời thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT cho các cơ sở khám, chữa bệnh. Lãnh đạo Ngành đã thường xuyên quán triệt, chỉ đạo BHXH các tỉnh đảm bảo kịp thời nguồn kinh phí khám, chữa bệnh BHYT cho các cơ sở khám, chữa bệnh hoạt động. Sự chủ động, quyết liệt của ngành BHXH Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở khám, chữa bệnh tổ chức cung ứng dịch vụ y tế, đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho người tham gia BHYT và cùng thực hiện trách nhiệm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng quỹ BHYT.

Thứ chín, đã có khoảng 35 triệu người sử dụng ứng dụng “VssID - BHXH số”. Để thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, BHXH Việt Nam tiếp tục nâng cấp ứng dụng “VssID - BHXH số” bổ sung nhiều tiện ích quan trọng: tính năng hiển thị số tiền và thời gian đơn vị chưa đóng BHXH, BHTN cho NLĐ; cấp lại mật khẩu ứng dụng tự động bằng trí tuệ nhân tạo tích hợp trên Tổng đài chăm sóc khách hàng; liên thông, chia sẻ một số tính năng của VssID với ứng dụng VneID tạo thuận lợi cho người sử dụng… Ứng dụng VssID là bước đột phá trong công tác chuyển đổi số của ngành BHXH. Sau hơn 3 năm triển khai, người dùng ngày càng hiểu được lợi ích, ý nghĩa, vai trò của ứng dụng không chỉ trong việc cung cấp thông tin, tra cứu, thực hiện các dịch vụ công trực tuyến mà còn là công cụ để giám sát nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT của chủ sử dụng lao động, cảnh báo, ngăn chặn trục lợi quỹ BHXH, BHYT. Với các tính năng thiết thực, đến nay ứng dụng đã thu hút khoảng 35 triệu người sử dụng và nhận được nhiều phản hồi tích cực, đánh giá cao. Theo bảng xếp hạng hiện nay về “Ứng dụng được tải nhiều nhất tại Việt Nam” trên App Store, ứng dụng VssID đứng thứ 25 trong nhóm các ứng dụng cung cấp miễn phí. Đây cũng là một trong 3 ứng dụng của cơ quan nhà nước được Bộ Thông tin và Truyền thông đánh giá là có lượng người dùng lớn tại Việt Nam.

Mặc dù quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH nói chung, BHXH cấp huyện nói riêng đã đạt được những kết quả, thành tích rất quan trọng nêu trên; tuy nhiên, việc quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH ở cấp huyện vẫn còn một số chế như sau:

Một là, trong hoạt động ban hành, cụ thể hóa hướng dẫn thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về BHXH. Hiện nay, việc trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến BHXH, có nhiều quy định được xem xét là chưa hợp lý và cần được sửa đổi để phản ánh đúng nhu cầu thực tế của ngành BHXH. Một số quy định còn thiếu thực tiễn và không chặt chẽ dẫn tới tình trạng “lách” luật để trốn đóng BHXH hoặc để hưởng chế độ trợ cấp BHXH không đúng quy định. Trong quá trình tổ chức triển khai, cơ quan quản lý BHXH chưa kịp thời ban hành văn bản tham mưu, đề xuất để sửa đổi quy định cho phù hợp với thực tiễn đời sống và tránh tình trạng “lách” luật. Cách thức triển khai, hướng dẫn các văn bản pháp luật về BHXH còn chậm, thiếu đồng bộ và quyết liệt trong việc nâng cấp hệ thống thiết bị, công nghệ để đẩy nhanh tiến độ, phổ biến, quán triệt văn bản cho các đơn vị chức năng cũng như người dân. Việc cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý BHXH, BHYT đã được quan tâm tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của đời sống. Hệ thống máy móc, thiết bị được trang bị đầy đủ nhưng một số đã cũ dẫn đến chất lượng không cao, khả năng sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý đối tượng hưởng BHXH chưa tốt, sử dụng chưa hiệu quả phần mềm quản lý đối tượng hưởng và việc nối mạng đặc biệt là chất lượng của các phần mềm quản lý còn nhiều lỗi và chưa thực sự tiện dụng. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách thủ tục thủ tục hành chính và hiện đại hóa trong quản lý BHXH, BHYT còn hạn chế.

Hai là, hạn chế đối với công tác tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về BHXH. Kết quả việc phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT đến NLĐ và sử dụng lao động tại các đơn vị được phân cấp quản lý thu, chi BHXH, BHYT trên địa bàn huyện  chưa cao. Việc thực thi các chế độ, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật về BHXH còn lúng túng, chưa kịp thời. Trên thực tế tình trạng chậm đóng, nợ BHXH BHYT vẫn còn xảy ra. Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH, BHYT tự nguyện còn chậm. Đội ngũ cán bộ có trình độ bác sĩ làm công tác giám định BHYT còn thiếu và chưa đáp ứng đủ so với yêu cầu công việc. Đối với công tác thu BHXH chưa phát huy được hết vai trò, trách nhiệm của mình đối với việc phát triển quỹ BHXH. Các hạn chế nêu trên được thể hiện rõ ràng trong việc thu BHXH đối với các đơn vị doanh nghiệp ngoài nhà nước, cụ thể là trong thời gian vừa qua, các đơn vị doanh nghiệp ngoài nhà nước có số lao động đăng ký tham gia nộp BHXH tương đối ít. Nguyên nhân chính cho hạn chế này là do người sử dụng lao động chưa quan tâm đến các quyền lợi của NLĐ và nghĩa vụ đóng góp của mình, đặc biệt là có hiện tượng trốn tránh không tham gia BHXH cho NLĐ. 

Ba là, đối với công tác tổ chức và hoàn thiện bộ máy thực hiện BHXH. Thực trạng về chất lượng tổ chức, hoạt động của bộ máy và đội ngũ nhân lực BHXH huyện hiện nay còn một số hạn chế, bất cập, ví dụ: cán bộ làm chưa đúng lĩnh vực được đào tạo; một số lao động lớn tuổi nên hạn chế trong việc tiếp cận với công nghệ thông tin; cán bộ trẻ năng lực tốt nhưng thiếu kinh nghiệm trong việc tiếp xúc, làm việc với các doanh nghiệp, biên chế của đơn vị đang thiếu so với yêu cầu thực tế… Mặt khác, hiện nay tình trạng của một số đơn vị sử dụng lao động không thực hiện việc đóng BHXH cho NLĐ tiếp tục là một vấn đề đáng quan ngại. Cụ thể, họ có thể không đóng BHXH cho NLĐ, hoặc thực hiện việc đóng không đúng thời gian và mức quy định. Ngoài ra, một số đơn vị còn đóng BHXH không đủ số lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, tạo ra tình trạng nợ đọng BHXH có chiều hướng gia tăng. Nhiều doanh nghiệp nợ BHXH trong thời gian dài, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ, một số doanh nghiệp khi có đoàn kiểm tra thì hứa sẽ thực hiện đóng BHXH cho NLĐ nhưng chỉ thực hiện cầm chừng để đối phó. 

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của hệ thống cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện trong điều kiện hiện nay, cần tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm như sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật BHXH. Theo hướng này, cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, cũng như các quyết định liên quan đến BHXH và quản lý công tác thu, chi là những hướng tiếp cận cần được ưu tiên. Các nghiên cứu này đặt ra trong ngữ cảnh mục tiêu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế thị trường, đồng thời hướng đến một xã hội chủ nghĩa, cần xây dựng và ban hành văn bản cũng như quy trình thực hiện các công tác liên quan đến BHXH. Chính sách BHXH cần được đưa vào bối cảnh tổng thể của phát triển hệ thống chính sách xã hội của Nhà nước. Hiện tại, với quan điểm mọi người đều có quyền bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH trở thành mục tiêu hàng đầu của ngành BHXH để đáp ứng nhanh chóng sự tăng lên về số lượng người tham gia. Chính sách BHXH hiện hành cần hấp dẫn người tham gia, không được bỏ sót một số nhóm có nhu cầu và có khả năng nhưng chưa được luật hóa để tham gia như: chủ hộ kinh doanh cá thể, người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương, người lao động làm việc theo chế độ linh hoạt...

Thứ hai, nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về BHXH. Đối với cơ quan BHXH huyện cần phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm trong việc quản lý các đối tượng tham gia bảo hiểm như tăng cường trong công tác phối hợp với phòng lao động thương binh và xã hội, liên đoàn lao động kiểm tra, rà soát các doanh nghiệp, lao động, tiền lương, NLĐ thuộc diện phải tham gia BHXH theo quy định của pháp luật để mở rộng đối tượng tham gia thuộc khu vực ngoài quốc doanh. Thường xuyên rà soát đối tượng nghèo, cận nghèo trên địa bàn huyện để tuyên truyền, vận động đối tượng tham gia BHXH. Hợp tác chặt chẽ với Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện để thực hiện các văn bản liên ngành là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Hằng năm, tổ chức đánh giá, sơ kết và tổng kết công tác triển khai BHXH và BHYT cho học sinh, sinh viên. Đồng thời, tranh thủ sự quan tâm và chỉ đạo của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân huyện và Ủy ban nhân dân huyện. Cần tích cực phối hợp với các phòng, ban, và ngành trong huyện để tổ chức và triển khai thực hiện các quy định của Luật Bảo hiểm xã hội đảm bảo có hiệu quả.

Thứ ba, nỗ lực hoàn thiện bộ máy, cơ cấu tổ chức, nâng cao năng lực, trình độ công chức BHXH cấp huyện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Hiện tại, cơ quan BHXH chỉ tổ chức đến cấp huyện, do đó việc quản lý BHXH còn khó khăn, hạn chế. Điều này yêu cầu việc hoàn thiện và mở rộng chức năng, nhiệm vụ của bộ máy tổ chức BHXH. Đặc biệt, cần quan tâm đến việc phân công ít nhất một người chuyên trách hoặc bán chuyên trách BHXH cho mỗi xã, phường, thị trấn, đặc biệt là ở các địa phương có nhiều khu công nghiệp hoạt động. Mặt khác, cần thường xuyên bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ làm công tác công nghệ thông tin trong cơ quan BHXH, chuyên nghiệp hóa, từng bước hiện đại hệ thống quản lý để nâng cao chất lượng phục vụ, giảm phiền hà cho người tham gia BHXH. Cần xây dựng hệ thống BHXH ngày càng chuyên nghiệp, hiện đại và có hiệu quả cao nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Quan tâm đầu tư kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về BHXH, bởi trong quản lý nhà nước về BHXH nói chung và tại địa bàn cấp huyện trong điều kiện hiện nay cần chú trọng tăng nguồn kinh phí; nâng cao chất lượng, điều kiện cơ sở vật chất, quan tâm đầu tư, trang thiết bị phục vụ cho công tác BHXH. Tăng cường nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực làm việc cho đội ngũ công chức cơ quan BHXH cấp huyện thông qua các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức đáp ứng yêu cầu công tác, quản lý hiện nay.

Thứ tư, tăng cường phổ biến, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức các chủ thể quản lý về BHXH. Triển khai hiệu quả các chính sách và chế độ BHXH, BHYT đòi hỏi sự tăng cường diện bao phủ nhanh chóng cho đối tượng tham gia BHXH, đặc biệt là BHXH tự nguyện nhằm thực hiện mục tiêu BHXH, BHYT toàn dân theo tinh thần của Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020; Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội; đồng thời đặt ra mục tiêu đạt các chỉ tiêu đã được cấp ủy cấp huyện đề ra trong cả nhiệm kỳ và hàng năm.

Nhận thức đúng về tầm quan trọng của quản lý nhà nước về BHXH, quản lý tốt đối tượng đóng và tham gia BHXH, bảo đảm cân đối quỹ BHXH, cân đối thu chi đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý về BHXH giải quyết các chế độ, chính sách BHXH. Đảm bảo việc đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH một cách hiệu quả, bền vững và an toàn, minh bạch theo quy định của pháp luật. Các cơ quan thông tin, báo chí, địa phương tăng cường tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT nhằm nâng cao nhận thức của người tham gia bảo hiểm và toàn dân, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương. Đồng thời các đơn vị, tổ chức, kể cả các tổ chức đoàn thể và đơn vị sử dụng lao động tiến hành việc tăng cường hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ biến giáo dục về chính sách BHXH thông qua nhiều hình thức khác nhau, thường xuyên trên các phương tiện truyền thông. 

Các chủ thể quản lý nhà nước về BHXH tổ chức tập huấn nghiệp vụ, triển khai các quy định về hồ sơ, quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội chú trọng những nội dung mới, nội dung được sửa đổi; tích cực tham gia nghiên cứu xây dựng nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ, quy định về hồ sơ và quy định quy trình giải quyết hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, các chính sách BHXH mới ban hành. Đối tượng quản lý nhà nước về BHXH chủ động trong việc tiếp cận, tích cực tiếp thu học tập các quy định mới; nắm bắt đầy đủ các chủ trương, chính sách pháp luật để từ đó nâng cao nhận thức về các quy định của Nhà nước; phát huy quyền và nghĩa vụ của mình trong việc tham gia BHXH. Ngoài ra, còn có trách nhiệm tuyên truyền, vận động cho những người xung quanh cũng biết và thực hiện.

Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động BHXH. Việc thực hiện đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực BHXH hiện nay có vai trò quan trọng, quyết định vì số lượng đối tượng tham gia BHXH ngày một mở rộng, số tiền thu đóng bảo hiểm ngày một lớn trong tình hình đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan chuyên quản BHXH thì lại có hạn. Ứng dụng công nghệ thông tin giúp cho công tác quản lý BHXH ngày càng hiệu quả hơn, hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành và đảm bảo thời gian quản lý quỹ thu, chi trả được rút ngắn, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, góp phần đảm bảo cuộc sống, tạo dựng, củng cố lòng tin của các đối tượng tham gia BHXH, là nhân tố tích cực trong việc ổn định chính trị, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Thứ sáu, tiếp tục tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý các vi phạm pháp luật về BHXH. Tiến hành thanh tra, kiểm tra đối với công tác thu quỹ BHXH, trong đó chú trọng thanh tra, kiểm tra các nội dung: (i) việc NSDLĐ có thực hiện đăng ký đóng BHXH đối với các trường hợp lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc không, sự thay đổi số lượng người tham gia BHXH của các cơ quan, đơn vị có sử dụng lao động cần phải được đưa vào kế hoạch thanh, kiểm tra, đối chiếu hằng năm. Công tác thanh tra, kiểm tra giúp cho người sử dụng lao động  tăng nhận thức về chính sách bảo hiểm, ngăn ngừa những vi phạm trong chính sách bảo hiểm; (ii) thanh kiểm tra việc thu quỹ BHXH là nội dung quan trọng để nâng cao hiệu quả của đối với việc quản lý quỹ bảo hiểm nhằm bảo đảm thu đúng, thu đủ quỹ BHXH; công tác thanh tra, kiểm tra phải tiến hành thường xuyên để truy thu số tiền nợ đọng với những đơn vị có số nợ đọng lớn để xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật; (iii) tập trung thanh tra, kiểm tra việc đóng góp, trích nộp BHXH của các đơn vị, doanh nghiệp để kịp thời phát hiện ra những gian lận, trốn đóng BHXH.

Quản lý nhà nước về BHXH trên địa bàn cấp huyện có vai trò rất quan trọng đối với NLĐ, người sử dụng lao động và thực hiện an sinh xã hội. Trong thời gian tới, các cơ quan BHXH cấp huyện phải bám sát vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chương trình, kế hoạch công tác và nhiệm vụ trọng tâm của ngành BHXH để xây dựng hệ thống văn bản quản lý hoạt động BHXH trên địa bàn cấp huyện cho phù hợp. Tổ chức học tập, quán triệt chỉ thị, nghị quyết, cụ thể hóa các chương trình, kế hoạch thực hiện có chất lượng hiệu quả đảm bảo an sinh xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt quy chế phối hợp với các ngành trong thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội; phối hợp với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và UBND cấp xã trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ của ngành BHXH tại địa bàn cấp huyện.

Quan tâm, chú trọng công tác cán bộ, nhất là việc nâng cao kiến thức, phương pháp làm việc, năng lực, trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm của từng công chức và người lao động. Thực hiện tốt đạo đức công vụ, thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, viên chức. Tạo điều kiện để chăm lo mọi mặt về đời sống vật chất và tinh thần, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện làm việc, môi trường công tác tốt nhằm tạo động lực cho cán bộ, công chức, viên chức phấn đấu, yên tâm công tác. Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về BHXH thông qua việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cấp hạ tầng công nghệ, bảo mật thông tin, đảm bảo an toàn trên không gian mạng của toàn hệ thống. Phát huy hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và để xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật về BHXH./.

--------------------------------

Tài liệu tham khảo: 

1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2009), Chỉ thị số 38/CT/TW về “Đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới”.

2. Ban Chấp hành Trung ương (2012), Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.

3. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020.

4. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH. 

5. Chính phủ, Nghị định số 01/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam.

6. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Quyết định số 969/QĐ-BHXH, ngày 29/7/2019  quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH địa phương.

7. Các thông tin, số liệu trong bài chủ yếu lấy tại địa chỉ: https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/hoat-dong-he-thong-bao-hiem-xa-hoi.aspx?ItemID=22330&CateID=52

Phạm Thanh Thủy - Phó Vụ trưởng Vụ Địa bàn VI, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Bình luận

Tin tức cùng chuyên mục

Hiệu quả thi hành pháp luật trong hệ thống hành chính nhà nước ở Việt Nam

Ngày đăng 13/06/2024
 Bài viết phân tích hiệu quả thi hành pháp luật trong lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng hiệu quả thi hành pháp luật trong hệ thống hành chính nhà nước ở Việt Nam. 

Lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - một hướng dẫn để hiểu về Việt Nam đương đại

Ngày đăng 06/06/2024
Ngày 21/5/2024, tại thành phố Roma, thủ đô nước Cộng hòa Italia, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Đại sứ quán Việt Nam tại Italia đã phối hợp tổ chức Tọa đàm khoa học “Hồ Chí Minh: biểu tượng về hòa bình của nhân dân Việt Nam và thế giới”; đồng thời phối hợp với Nhà xuất bản Anteo Edizioni(1) tổ chức Lễ ra mắt bản dịch tiếng Ý cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, do Nhà xuất bản Anteo Edizioni dịch và xuất bản.

Một số vấn đề về nhận thức và thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngày đăng 28/05/2024
Tập trung dân chủ là nguyên tắc đặc thù của mô hình nhà nước và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa nói chung. Ở Việt Nam, nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hành ngay từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (năm 1945), nhưng cho đến nay, nhận thức và thực hành nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động vẫn đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu đánh giá, bổ sung để phù hợp hơn với điều kiện thực tiễn và quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.  

Truyền thông chính sách - góc nhìn từ Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày đăng 20/05/2024
Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác truyền thông chính sách, báo chí và các phương tiện truyền thông khác được xác định là kênh thông tin và công cụ cơ bản, quan trọng để thực hiện nhiệm vụ truyền thông chính sách. Với sự bùng nổ thông tin ngày nay và từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy công tác truyền thông chính sách cần được quan tâm chú trọng hơn nữa để đóng góp vào việc tạo ra sự đồng thuận và nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong việc thực thi chính sách của các cơ quan hành chính nhà nước. 

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là sự thật không thể phủ nhận!

Ngày đăng 17/05/2024
Ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tự do tín ngưỡng, tôn giáo là 1 trong 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người nhấn mạnh: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết”. Điều này tiếp tục được hiến định trong các bản Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Việt Nam.