Hà Nội, Ngày 24/04/2024

Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức: Đã kết nối, đồng bộ dữ liệu với 100% bộ, ngành, địa phương

Ngày đăng: 01/04/2024   14:58
Mặc định Cỡ chữ

Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC): Đã kết nối, đồng bộ dữ liệu với 100% bộ, ngành, địa phương. Bộ Nội vụ đã có văn bản gửi 35 bộ, ngành, cơ quan Trung ương và 38 địa phương về việc bổ sung và làm sạch dữ liệu về CBCCVC, tiếp tục rà soát, chỉnh sửa, bổ sung các trường thông tin chưa đúng, còn thiếu về CBCCVC đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư bảo đảm trước ngày 30/4/2024. Bộ Nội vụ cũng đã phối hợp với Bộ Công an đối khớp 777.173/777.229 hồ sơ CBCCVC từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về CBCCVC với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (đạt tỷ lệ 99,99%).

Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức: Đã kết nối, đồng bộ dữ liệu với 100% bộ, ngành, địa phương.

Chính phủ số

Về công tác chỉ đạo, điều hành

Trong Quý I/2024, Chính phủ đã ban hành 04 Nghị quyết chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm các bộ, ngành, địa phương cần tập trung thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao để thúc đẩy, triển khai chuyển đổi số quốc gia trên cả 3 trụ cột: chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. 

Bộ Thông tin và Truyền thông đã trình Thủ tướng Chính phủ - Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số (Ủy ban) xem xét ban hành kế hoạch hoạt động năm 2024 của Ủy ban. Đến nay, đã có 19 bộ, ngành và 56 địa phương ban hành Kế hoạch chuyển đổi số năm 2024.

Về thể chế

Trong Quý I/2024, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành các văn bản, chính sách để hoàn thiện hành lang pháp lý cho công tác ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, bao gồm: 01 Nghị định của Chính phủ, 05 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 02 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, 01 Thông tư của Bộ trưởng. Đến nay cả nước đã có 51/63 địa phương ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về miễn, giảm phí, lệ phí thực hiện dịch vụ công trực tuyến, 14 tỉnh ban hành chính sách giảm thời gian xử lý còn hiệu lực áp dụng đến năm 2024 nhằm thu hút người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến.

Hạ tầng số

Kết quả phủ sóng đối với các thôn lõm sóng: Tính đến tháng 3/2024, toàn quốc còn 1.050 thôn lõm sóng do mới phát sinh thêm 430 thôn lõm sóng so với kỳ báo cáo trước (tháng 02/2024). Trong đó, có 177 thôn chưa có điện; 815 thôn đặc biệt khó khăn.

Triển khai hạ tầng cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định: Hiện còn 3.551 thôn chưa có cáp quang đến thôn. Trong đó có 369 thôn chưa có điện; 2.804 thôn đặc biệt khó khăn.

Triển khai thí điểm dịch vụ Mobile Money: Tổng số khách hàng đạt lũy kế đạt hơn 7,9 triệu khách hàng, trong đó số lượng khách hàng ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa đạt hơn 5,6 triệu khách hàng, chiếm 71%; 11.885 điểm kinh doanh đã được thiết lập, tổng số đơn vị chấp nhận thanh toán đạt 251.798 đơn vị, cung cấp các dịch vụ thanh toán thiết yếu như điện, nước, giáo dục, viễn thông, hành chính công; tổng số lượng các giao dịch (nạp, rút, chuyển tiền, thanh toán) bằng Mobile Money là hơn 90 triệu giao dịch với tổng giá trị giao dịch hơn 3.608 tỷ đồng.

Dữ liệu số

Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP): Đã kết nối 103 bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức ở Trung ương (cơ bản hết cơ quan cấp I); đã kết nối 10 cơ sở dữ liệu, 15 hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ chia sẻ dữ liệu trên NDXP. Trong Quý I (từ ngày 01/01/2024 đến ngày 20/3/2024) phát sinh 203,871 triệu giao dịch, hàng ngày có trung bình khoảng 2,54 triệu giao dịch.

Cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về dân cư: Đã kết nối với 18 bộ, ngành, 01 doanh nghiệp nhà nước (EVN), 03 doanh nghiệp viễn thông và 63 địa phương. Tiếp nhận 1.502.045.890 yêu cầu để tra cứu, xác thực thông tin; 598.186.043 yêu cầu đồng bộ thông tin công dân, đồng bộ thành công 268.050.281 thông tin công dân vào dữ liệu dân cư.

CSDL về bảo hiểm: Tính đến ngày 20/3/2024, hệ thống đã xác thực hơn 96 triệu thông tin nhân khẩu trong CSDL do Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam quản lý, trong đó có khoảng 87,75 triệu người đang tham gia BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, chiếm 97,3% tổng số người tham gia (không bao gồm lực lượng vũ trang, thân nhân quân đội) với CSDL quốc gia về dân cư. Về phối hợp tích hợp thông tin về sổ BHXH trên ứng dụng VNeID, đến nay có hơn 15,4 triệu lượt truy vấn thông tin sổ BHXH thành công để tích hợp lên ứng dụng VNeID.

CSDL hộ tịch điện tử toàn quốc: 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã triển khai đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử trực tuyến và kết nối liên thông dữ liệu giữa Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) cấp tỉnh với Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp, giúp dữ liệu được đồng bộ,  thống nhất, giảm thời gian tác nghiệp cho công chức làm công tác hộ tịch.

CSDL quốc gia về đất đai: 63/63 tỉnh, thành phố đã và đang triển khai xây dựng CSDL đất đai quốc gia, trên cả nước đã có CSDL của 450/705 huyện. 

CSDL quốc gia về đăng ký doanh nghiệp: Đến nay, CSDL quốc gia về đăng ký doanh nghiệp lưu trữ dữ liệu của gần 1,9 triệu doanh nghiệp (khoảng 900 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động), bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán. Thông tin trong CSDL quốc gia về đăng ký doanh nghiệp được cập nhật liên tục theo thời gian thực trên cơ sở thông tin doanh nghiệp kê khai và liên thông nghiệp vụ thời gian thực với Hệ thống đăng ký thuế.

CSDL quốc gia về CBCCVC: Đã kết nối, đồng bộ dữ liệu với 100% bộ, ngành, địa phương. Bộ Nội vụ đã có văn bản gửi 35 bộ, ngành, cơ quan Trung ương và 38 địa phương về việc bổ sung và làm sạch dữ liệu về CBCCVC, tiếp tục rà soát, chỉnh sửa, bổ sung các trường thông tin chưa đúng, còn thiếu về CBCCVC đồng bộ với CSDL quốc gia về dân cư bảo đảm trước ngày 30/4/2024. Bộ Nội vụ cũng đã phối hợp với Bộ Công an đối khớp 777.173/777.229 hồ sơ CBCCVC từ CSDL quốc gia về CBCCVC với CSDL quốc gia về dân cư (đạt tỷ lệ 99,99%).

Dịch vụ công trực tuyến

Tỷ lệ TTHC đủ điều kiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) toàn trình đạt 100%. Hiện có 83/83 bộ, tỉnh đã ban hành danh mục DVCTT toàn trình, một phần theo Nghị định số 42/2022/NĐ-CP. Thống kê đến ngày 20/3/2024, tỷ lệ DVCTT (trên tổng TTHC) đạt 80,44%; tỷ lệ DVCTT toàn trình (trên tổng TTHC) đạt 47,79%.

Cổng Dịch vụ công Quốc gia

Trong Quý I (từ ngày 01/01/2024 đến ngày 20/3/2024) đã có hơn 1,639 triệu tài khoản đăng ký; hơn 23,2 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái; hơn 4,1 triệu lượt thực hiện các dịch vụ tiện ích; hơn 5,1 triệu hồ sơ trực tuyến thực hiện từ Cổng; hơn 3,3 triệu giao dịch thanh toán trực tuyến với số tiền hơn 1,9 nghìn tỷ đồng. 

Đến nay, Cổng Dịch vụ công Quốc gia đã cung cấp 4,483 nghìn dịch vụ công trực tuyến; có hơn 13,2 triệu tài khoản (tăng 2,4 lần); hơn 299,5 triệu hồ sơ đồng bộ (tăng 1,63 lần); hơn 32,6 triệu lượt thực hiện các dịch vụ tiện ích (tăng 2,6 lần); 42,8 triệu hồ sơ trực tuyến từ Cổng (tăng 3,78 lần); hơn 25 triệu giao dịch thanh toán trực tuyến (tăng 3,57 lần) với số tiền hơn 11.991 tỷ đồng (tăng 2,67 lần); hơn 453 nghìn cuộc gọi tư vấn tới tổng đài. 

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện 53 dịch vụ công thiết yếu theo Đề án 06/CP: Theo báo cáo của Bộ Công an, đã hoàn thành, cung cấp 23/25 dịch vụ công theo Đề án 06/CP và 13/28 dịch vụ công theo Quyết định số 422/QĐ-TTg ngày 04/4/2022 trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia; trong đó 23/25 dịch vụ công thiết yếu đã được thực hiện toàn trình. Một số TTHC có tỷ lệ hồ sơ trực tuyến cao như: 02 dịch vụ công liên thông (100%); thông báo lưu trú (99,98%), cấp điện lưới mới từ lưới điện hạ áp (89,34%).

Triển khai Hóa đơn điện tử: Bộ Tài chính tiếp tục đẩy mạnh giải pháp triển khai hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền đối với dịch vụ ăn uống, chống thất thu thuế, thất thu ngân sách. Đến ngày 13/3/2024, đã có 42.718 doanh nghiệp, hộ kinh doanh đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế khởi tạo từ máy tính tiền thành công với 172.698 triệu hóa đơn.

Trục liên thông văn bản quốc gia: Từ ngày 01/3/2024 đến ngày 20/3/2024, số lượng văn bản điện tử gửi, nhận qua Trục liên thông là 682.272 văn bản (gửi: 115.993 văn bản, nhận: 566.279 văn bản). Từ ngày 01/01/2024 đến ngày 20/3/2024, số lượng văn bản gửi, nhận là 2.631.574 văn bản (gửi: 439.988 văn bản, nhận: 2.191.586 văn bản), gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm 2023. Tính đến nay, đã có 31,6 triệu văn bản điện tử gửi, nhận trên Trục liên thông văn bản quốc gia.

Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ: Từ ngày 01/3/2024 đến ngày 20/3/2024, Hệ thống đã phục vụ 01 phiên họp Chính phủ và xử lý 24 Phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ (thay thế hơn 6,142 nghìn hồ sơ, tài liệu giấy). Từ ngày 01/01/2024 đến 20/3/2024, Hệ thống đã phục vụ 5 phiên họp Chính phủ và xử lý 108 phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ (thay thế hơn 44,950 nghìn hồ sơ, tài liệu giấy). Lũy kế đến nay, Hệ thống đã phục vụ 92 hội nghị, phiên họp của Chính phủ và thực hiện xử lý 2,110 nghìn phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ (thay thế 718,900 nghìn hồ sơ, tài liệu giấy).

Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia, Trung tâm thông tin chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: Từ ngày 01/01/2024 đến ngày 20/3/2024 đã cập nhật được 677 file dữ liệu lên kho dữ liệu nội dung. Trung tâm thông tin chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã phục vụ 17 cuộc làm việc của lãnh đạo Chính phủ và lãnh đạo Văn phòng Chính phủ. Tính đến nay, đã có 69/179 chế độ báo cáo được tích hợp hoặc nhập liệu trực tiếp trên Hệ thống. Trung tâm thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kết nối, liên thông các hệ thống thông tin báo cáo, các CSDL quốc gia, CSDL chuyên ngành của 15 bộ, cơ quan, tập đoàn, tổng công ty nhà nước và 63 địa phương để cung cấp thông tin, dữ liệu với 167/200 chỉ tiêu kinh tế - xã hội; 38 chỉ tiêu thông tin trực tuyến; hình thành 04 bộ chỉ số về điều hành, thống kê, theo dõi, giám sát và kinh tế - xã hội địa phương; hình thành kho dữ liệu tổng hợp với trên 300 chỉ tiêu kinh tế - xã hội; xây dựng và cung cấp ấn phẩm thông tin đồ họa về tình hình kinh tế - xã phục vụ phiên họp Chính phủ thường kỳ hàng tháng.

Nhân lực số

Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng Nền tảng học trực tuyến mở đại trà (MOOCs) để phổ cập kỹ năng số cho các đối tượng. Từ ngày 01/01/2023 đến ngày 18/3/2024, đã tổ chức 12 khóa bồi dưỡng về chuyển đổi số trên Nền tảng MOOCs cho 66.500 CBCCVC phụ trách chuyển đổi số của các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước, các cơ quan thông tấn, báo chí trong toàn quốc; Triển khai chương trình bồi dưỡng 500 chuyên gia chuyển đổi số của các bộ, ngành, địa phương trên nền tảng MOOCs; tổ chức bồi dưỡng, tập huấn về chuyển đổi số cho 172.000 thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng tại 22/63 địa phương; cung cấp 20 khóa học phổ cập kỹ năng số cho người dân trên Nền tảng MOOCs. Đến nay, đã có gần 24 triệu lượt người truy cập khóa học phổ cập kỹ năng số.

An toàn, an ninh mạng

Trong Quý I/2024, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ghi nhận, cảnh báo và hướng dẫn xử lý 2,323 nghìn cuộc tấn công mạng gây ra sự cố vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam, giảm 32,6% so với cùng kỳ Quý I/2023 (3,446 nghìn cuộc). Tính đến Quý I/2024, tổng số hệ thống thông tin của cả nước là 3,345 nghìn hệ thống, trong đó số Hệ thống thông tin được phê duyệt cấp độ là 2,233 nghìn hệ thống, đạt tỷ lệ 66,8%, tăng 6,6% so với cùng kỳ Quý I/2023.

Kinh tế số, xã hội số

Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số: Đến hết ngày 18/3/2024, số lượt doanh nghiệp tiếp cận Chương trình đạt 1.158.807; Số lượng doanh nghiệp SME sử dụng nền tảng của Chương trình đạt 298.898. Trong đó, số lượng nền tảng Quản trị doanh nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 70%, các nền tảng nghiệp vụ chuyên ngành (du lịch, vận tải...) chiếm 20%; các nền tảng khách hàng và thị trường chiếm khoảng 8%; các loại nền tảng khác (an ninh an toàn, tư vấn giáo dục...) chiếm khoảng 2%.

Phát triển công dân số: đến nay, Bộ Công an đã cấp trên 86 triệu thẻ căn cước công dân gắn chíp. Đã thu nhận trên 74,48 triệu hồ sơ định danh điện tử, kích hoạt trên 53,25 triệu tài khoản (tỷ lệ kích hoạt trên tổng số hồ sơ thu nhận đạt 71,5%)./.

Mạnh Tuyền - Vụ Cải cách hành chính, Bộ Nội vụ

Bình luận

Tin tức cùng chuyên mục

Thống nhất cách thức thực hiện khai thác thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư

Ngày đăng 21/04/2024
Ngày 21/4/2024, Văn phòng Chính phủ ban hành văn bản số 2635/VPCP-KSTT về việc báo cáo kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), phương án đơn giản hóa về thủ tục hành chính (TTHC), giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư tại các Nghị quyết chuyên đề của Chính phủ.

PAR INDEX năm 2023: Bộ Nội vụ tiếp tục giữ vị trí thứ 04/17 bộ, cơ quan ngang bộ

Ngày đăng 17/04/2024
Bộ Nội vụ tiếp tục giữ vị trí thứ 04/17 bộ, cơ quan ngang bộ trong bảng Chỉ số cải cách hành chính năm 2023, đạt 87.04%. Dẫn đầu là Bộ Tư pháp, đạt 89.95% và đứng cuối bảng là Bộ Công Thương, đạt 78.03%.

Công tác cải cách hành chính đã có những chuyển biến tích cực và đạt kết quả khá toàn diện

Ngày đăng 17/04/2024
Ngày 17/4/2024, Bộ Nội vụ - cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức Hội nghị công bố Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính năm 2023 (SIPAS 2023) và Chỉ số cải cách hành chính năm 2023 của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (PAR INDEX 2023). 

Thực trạng và giải pháp xây dựng chính quyền số ở tỉnh Quảng Trị

Ngày đăng 15/04/2024
Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng chính quyền số là một mục tiêu quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Nhận thức được tầm quan trọng đó, thời gian quan, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Quảng Trị đã không ngừng nỗ lực, tổ chức triển khai thực hiện và thu được nhiều kết quả quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc xây dựng chính quyền số ở tỉnh Quảng Trị thời gian qua vẫn còn gặp phải những khó khăn, hạn chế nhất định. Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng thành công chính quyền số ở tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới.

Bộ Nội vụ làm việc với UBND Thành phố Hồ Chí Minh về sắp xếp đơn vị hành chính

Ngày đăng 08/04/2024
Tiếp Đoàn công tác của Bộ Nội vụ, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) Phan Văn Mãi nhấn mạnh, buổi làm việc với Đoàn công tác là rất quan trọng, giúp TPHCM tiếp tục hoàn thiện Đề án sắp xếp đơn vị hành chính trong đặc thù của Thành phố; cũng như thúc đẩy công tác cải cách hành chính tại Thành phố thời gian tới.