Hà Nội, Ngày 05/03/2024

Hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút các tổ chức, cá nhân đầu tư vào hệ thống trung tâm logistics nông nghiệp

Ngày đăng: 08/12/2023   23:16
Mặc định Cỡ chữ

Logistics nông thôn không chỉ mang lại lợi ích cho đời sống, nâng cao thu nhập kinh tế của người nông dân mà còn thúc đẩy quá trình sản xuất và phát triển nông nghiệp, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nông thôn -  thành thị, góp phần hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút các tổ chức, cá nhân đầu tư vào hệ thống trung tâm logistics nông nghiệp.

Phát triển dịch vụ logistics ở nông thôn được xem là một trong những xu hướng sẽ tạo ra những giá trị to lớn cho ngành Logistics. Việt Nam hiện có khá nhiều tiềm năng để phát triển dịch vụ này, cụ thể: Chủ trương xây dựng nông thôn mới cùng với các chủ trương, chính sách, chương trình của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển kinh tế các địa phương, qua đó góp phần mở rộng mạng lưới đường giao thông nông thôn, là cơ sở, động lực khuyến khích các doanh nghiệp triển khai dịch vụ logistics nông thôn trong chiến lược, kế hoạch kinh doanh; đời sống người dân ở các vùng nông thôn ngày càng cao, thu nhập càng tăng, nên nhu cầu mua bán cũng sẽ tăng, từ đó kéo theo lĩnh vực logistics nông thôn phát triển; sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt của phân khúc logistics ở khu vực thành thị, các thành phố lớn sẽ bắt buộc các doanh nghiệp phải mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh của mình ra các thị trường khác, trong đó có thị trường nông thôn. Cùng với đó là sự phát triển của thương mại điện tử và xu hướng dùng điện thoại thông minh ngày càng nhiều ở khu vực nông thôn sẽ kích thích mua bán, tiêu dùng ở vùng nông thôn và kéo theo hoạt động logistics nông thôn phát triển.

Logistics đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế và từng doanh nghiệp. Đối với nền kinh tế, logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân: 1) Đóng góp đáng kể vào GDP; 2) Có vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; 3) Đặc biệt với Việt Nam, logistics cho phép khai thác tối đa lợi thế vị trí địa lý, trở thành nơi sản xuất, cung ứng, trung chuyển, phân phối hầu hết các loại hàng hóa trong khu vực và toàn cầu. Đối với doanh nghiệp, dịch vụ logistics góp phần: 1) Nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất; 2) Tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông, phân phối hàng hóa; 3) Tạo được lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp; 4) Giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế; 5) Mở rộng thị trường trong nước và quốc tế. 

Khi triển khai thực hiện các dịch vụ logistics, thường chia theo các ngành hàng như: Hàng tiêu dùng luân chuyển nhanh (FMCG); Hàng dược phẩm, y tế; Hàng điện tử, công nghệ; Hàng nông sản; Hàng may mặc;… Trong nhóm hàng nông sản cũng có nhóm mặt hàng khác nhau, những sản phẩm này đều có những sự khác biệt. Ngoài sản phẩm chính đầu ra là nông sản thì còn nhiều các sản phẩm đầu vào khác, do đó chuỗi cung ứng nông sản có thể xem xét xa hơn nữa từ khâu cung ứng đầu vào (như giống, phân bón) tới khâu canh tác, thu hoạch, sơ chế, bao bì, đóng gói,… Do đó, dịch vụ logistics phục vụ sản xuất kinh doanh nông sản (gọi tắt là logistics nông nghiệp) có những khác biệt, đặc trưng riêng so với các ngành hàng khác.

Trong bảng xếp hạng LPI (Chỉ số năng lực quốc gia về logistics) năm 2023, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, Việt Nam đứng vị trí thứ 43, tụt 4 hạng so với thứ 39 của năm 2018. Tuy nhiên, về điểm LPI tăng lên mức 3,3 điểm so với mức 3,27 điểm năm 2018. Việt Nam thuộc Top 5 ASEAN sau Singapore, Malaysia, Thái Lan và cùng vị trí với Philippines. Theo bảng xếp hạng của Agility 2022, thị trường logistics Việt Nam được xếp hạng thứ 11 trong nhóm 50 thị trường logistics mới nổi toàn cầu. Khi điểm số LPI tăng lên mức 3,3 điểm so với lần công bố gần nhất và là mức cao nhất từ khi có xếp hạng LPI vào năm 2007 đến nay, cho thấy Việt Nam đang dần cải thiện, đặc biệt về chỉ số thành phần về hiệu quả quy trình thông quan và chất lượng cơ sở hạ tầng có sự tăng điểm số rõ rệt nhất. Hệ thống logistics phục vụ sản xuất, kinh doanh nông sản đã được cải thiện đáng kể trong những năm qua. 

Tại Việt Nam, Luật Thương mại năm 2005 lần đầu tiên luật hóa khái niệm dịch vụ logistics: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Ngày 22/02/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 221/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 về việc phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025. Quyết định số 221/QĐ-TTg đã xác định lộ trình thực hiện, nguồn kinh phí thực hiện và cơ chế phối hợp thực hiện. Quyết định cũng đã đề ra 61 nhiệm vụ được phân thành 6 nhóm, gồm hoàn thiện chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics, hoàn thiện kết cấu hạ tầng, nâng cao năng lực doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ, phát triển thị trường dịch vụ logistics, đào tạo, nâng cao nhận thức và chất lượng nguồn nhân lực ngành logistics và nhóm các nhiệm vụ khác. Đến ngày 01/4/2021, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 531/QĐ-TTg), trong đó có những nội dung liên quan đến dịch vụ logistics. Chiến lược xác định tập trung phát triển một số ngành, sản phẩm dịch vụ có hàm lượng tri thức và công nghệ cao, có lợi thế cạnh tranh trong đó có logistics. Điều này cho thấy, Nhà nước ta rất quan tâm đến phát triển dịch vụ logistics, trong đó có dịch vụ logistics nông nghiệp. 

Theo các chuyên gia, logistics phục vụ sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản của Việt Nam do mới phát triển, nên còn nhiều hạn chế, nhất là so với yêu cầu của một nước sản xuất nông sản hàng đầu, khối lượng nông sản tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đều lớn như ở nước ta, những hạn chế và khó khăn của hệ thống logistics trong nông nghiệp đã tạo nên điểm nghẽn cho đầu ra nông sản. Chính vì vậy, việc chú trọng đầu tư logistics cho nông nghiệp, tăng cường xây dựng các trung tâm dịch vụ logistic cho hàng hóa nông sản phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu sẽ giúp gia tăng giá trị cho các sản phẩm nông sản của nước ta, đồng thời góp phần tăng thu nhập đối với người nông dân. 

Thời gian tới, để phát triển dịch vụ logistics nói chung, logistics nông nghiệp nói riêng cần hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút các tổ chức, cá nhân đầu tư vào hệ thống trung tâm logistics nông nghiệp; rà soát, điều chỉnh các chính sách hỗ trợ hiện nay để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, trong đó có các hoạt động logistics. 

Bên cạnh đó, đào tạo nâng cao năng lực cho người sản xuất, hợp tác xã, thương lái, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông, lâm, thủy sản về logistics trong nông nghiệp; thực hiện chuyển đổi số các công đoạn quản lý hoạt động tại các trung tâm trong hệ thống logisctic nông nghiệp một cách đồng bộ; tăng cường truyền thông và thông tin thị trường cho hợp tác xã, doanh nghiệp trong hệ thống logisics nông nghiệp các cấp, chia sẻ các phân tích, dự báo thị trường cho cộng đồng doanh nghiệp và người sản xuất của hệ thống trung tâm logistics nông nghiệp cả nước..../. 

Văn Nguyễn

Bình luận

Tin tức cùng chuyên mục

Hội Phụ nữ tỉnh Long An chung tay xây dựng nông thôn mới

Ngày đăng 26/12/2023
Tính đến hết tháng 10/2023, tỉnh Long An có 121/161 xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM), chiếm trên 75% số xã trong toàn tỉnh, đạt 85,2% kế hoạch giai đoạn 2021-2025. Trong đó, có 30 xã đạt chuẩn NTM nâng cao; 04/15 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM. Đạt được kết quả này là có sự đóng góp rất lớn của các cấp hội phụ nữ từ tỉnh đến cơ sở; khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ tỉnh Long An trong nhiệm vụ xây dựng NTM nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung trong giai đoạn hiện nay.

Một số kết quả nổi bật trong xây dựng nông thôn mới và những giải pháp cho giai đoạn 2021-2025 của tỉnh Tiền Giang

Ngày đăng 26/12/2023
Trong những năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Tiền Giang luôn xác định xây dựng nông thôn mới (NTM) là nhiệm vụ chính trị quan trọng trong quá trình lãnh đạo, quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Thực hiện Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, tỉnh Tiền Giang đã thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và kiện toàn bộ phận giúp việc các cấp theo vị trí, chức danh công tác phù hợp với tình hình nhân sự, bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động trong công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện phong trào xây dựng NTM.

Tỉnh Khánh Hòa đẩy mạnh chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nông thôn mới bền vững

Ngày đăng 26/12/2023
Thực hiện chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới (NTM) được tỉnh Khánh Hòa xác định là một trong những giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh và Chiến lược chuyển đổi số quốc gia. Trong đó, trọng tâm là chủ động triển khai linh hoạt phát triển chính quyền số và phát triển các chủ thể kinh tế số ở nông thôn; phát triển xã hội số cho cộng đồng dân cư ở nông thôn. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số trong xây dựng NTM để từng bước hình thành nông thôn mới thông minh, nâng cao hiệu quả hoạt động cộng đồng, góp phần hoàn thành mục tiêu xã NTM kiểu mẫu, huyện NTM nâng cao đi vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững.

Tỉnh Cà Mau triển khai mạnh mẽ Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) trong xây dựng nông thôn mới

Ngày đăng 18/12/2023
Mục tiêu tổng quát của Quyết định số 919/QĐ-TTg ngày 01/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2021-2025 (Chương tình OCOP) là phát triển sản phẩm OCOP nhằm khơi dậy tiềm năng, lợi thế khu vực nông thôn để nâng cao thu nhập cho người nông dân; tiếp tục cơ cấu lại ngành Nông nghiệp gắn với phát triển tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ và du lịch ở nông thôn; thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển bền vững, trên cơ sở tăng cường ứng dụng chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn, bảo tồn các giá trị văn hóa, quản lý tài nguyên, bảo tồn đa dạng sinh học, cảnh quan và môi trường nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới (NTM) đi vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững.

Tỉnh Bình Dương đẩy mạnh chuyển đổi số để xây dựng nông thôn mới thông minh

Ngày đăng 20/12/2023
Đến nay, tỉnh Bình Dương đã có 41/41 xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM), đạt 100%; có 29/41 xã đạt chuẩn NTM nâng cao, đạt 70%; 3/6 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn NTM/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM. Toàn tỉnh có 103 sản phẩm OCOP đạt từ 3 đến 4 sao; trong đó, có 10 sản phẩm 4 sao và 93 sản phẩm 3 sao với 49 chủ thể. Thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn đến cuối năm 2022 đạt hơn 76 triệu đồng/người/năm.