Hà Nội, Ngày 20/06/2024

Nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngày đăng: 08/08/2023   14:28
Mặc định Cỡ chữ
Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay. Trong quá trình này, cần nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ cơ bản giữa Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội... nhằm tạo cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý vững chắc để sớm hoàn thành mục tiêu theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, khóa XIII đã đề ra.
Nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các mối quan hệ lớn trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân   

Mối quan hệ giữa Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”(1). Hiến pháp năm 2013 cũng khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân... tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”(2). Mục tiêu này đã khẳng định rõ quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ biện chứng giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. 

Ngay từ khi tiến hành đổi mới đất nước, tại Đại hội VI của Đảng đã nêu ra cơ chế tổng thể: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và nhấn mạnh “Đảng lãnh đạo, Nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội”(3). Có thể nói, Đại hội VI của Đảng đã đặt nền móng cho lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền đặt trong mối quan hệ với sự lãnh đạo của Đảng và phát huy dân chủ XHCN được thể hiện qua việc làm chủ của Nhân dân. Để khẳng định rõ hơn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, Đại hội XI của Đảng đã bổ sung mối quan hệ này là một trong tám mối quan hệ lớn “phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt”(4). Tại Đại hội XII và Đại hội XIII của Đảng, mối quan hệ này tiếp tục được khẳng định, đặc biệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta”(5). Đây cũng là nguyên tắc trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, bởi một số lý do sau:

Thứ nhất, chỉ trên cơ sở Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bởi vì “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”(6) thì mới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và đây là cơ sở kinh tế để Nhà nước quản lý xã hội. 

Thứ hai, Nhà nước là hình thức chủ yếu để Nhân dân làm chủ. Về bản chất, Nhà nước XHCN có bản chất giai cấp, phục vụ cho giai cấp thống trị về mặt kinh tế. Nhưng cơ sở kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam chủ yếu dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, vì vậy, đây là Nhà nước do Nhân dân thiết lập nên để thực hiện quyền lực của mình. Nói cách khác, quyền lực nhà nước ta về thực chất là quyền lực do Nhân dân ủy quyền, thay mặt Nhân dân để quản lý xã hội, quan hệ Nhà nước với Nhân dân là quan hệ giữa “công bộc” và chủ nhân.

Thứ ba, Nhân dân làm chủ không chỉ là mục đích mà còn là phương tiện phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước. Do Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; Nhà nước là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, cho nên Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý không chỉ để khẳng định địa vị “là chủ” xã hội của Nhân dân, mà quan trọng hơn là để Nhân dân “làm chủ”, là tạo điều kiện, môi trường để Nhân dân thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ làm chủ của mình, chứ không phải để làm chủ thay dân. Khẳng định điều này cũng để tránh tình trạng dân chủ hình thức, Nhân dân “khoán trắng” cho Đảng, cho Nhà nước, cho những người đại biểu của mình làm chủ; hoặc Đảng và Nhà nước coi việc thực hiện dân chủ chỉ là trách nhiệm của mình.

Mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn khẳng định nền kinh tế thị trường (KTTT) mà nước ta xây dựng phải có sự quản lý của Nhà nước. Vai trò của Nhà nước đối với KTTT không chỉ xuất phát từ yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển KTTT mà còn xuất phát từ tính đặc thù của nền KTTT định hướng XHCN. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 của Đảng đã xác định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”(7) là một trong bảy phương hướng cơ bản trong quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời kiên quyết: “Xóa bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác”(8) trên cơ sở nguyên tắc: “Nhà nước quản lý điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường. Tăng cường công tác giám sát, nhất là giám sát thị trường tài chính, chủ động điều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, không phó mặc cho thị trường hoặc can thiệp làm lệch lạc các quan hệ thị trường”(9). 

Hiện nay trên thế giới không còn nền kinh tế nào là nền KTTT hoàn toàn tự do theo quan điểm kinh tế học cổ điển, xem thị trường là “bàn tay vô hình”, chỉ tuân thủ theo các quy luật của thị trường mà hầu hết các nền kinh tế đều có sự can thiệp của nhà nước bằng các công cụ trực tiếp và gián tiếp. Chức năng chính của nhà nước là quản lý xã hội vì mục tiêu XHCN, nhưng trong quá trình vận hành, nhà nước cũng có thể bị nhóm lợi ích chi phối và thiếu những thông tin trước sự biến đổi nhanh của thị trường, của xã hội, do đó cần có sự tham gia của thị trường và xã hội trong quản lý nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của thị trường, người dân - nhất là nhóm yếu thế trong xã hội. 

Thị trường là nơi thực hiện các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và vận hành theo các quy luật khách quan. Về nguyên tắc, để sản xuất và kinh doanh, các doanh nghiệp phải tuân thủ quy định pháp luật điều chỉnh từng lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Nhưng bản thân thị trường cũng có những mặt trái, khuyết tật mà xã hội không mong muốn. Do vậy, để khắc phục những hạn chế của thị trường, nhà nước phải can thiệp để tạo cơ hội, môi trường cho sự vận hành bình thường của thị trường đáp ứng yêu cầu của xã hội. Đặc biệt, nền KTTT của nước ta là theo định hướng XHCN, đây là hình thái KTTT vừa tuân theo những quy luật của thị trường, vừa dựa trên cơ sở và sự dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN. Việc nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong định hướng sự phát triển của nền KTTT ở nước ta không mâu thuẫn với vấn đề có tính nguyên tắc: sự vận hành của nền KTTT nào cũng trước hết và chủ yếu do các quy luật thị trường quyết định. Tuy nhiên, quy luật KTTT lại thuộc lĩnh vực quy luật xã hội; tính khách quan được thể hiện và thực hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người, mà cụ thể là của Nhà nước.

Mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội 

Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam là: 1) Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, để xã hội hoạt động có kỷ cương; 2) Các tổ chức xã hội thực hiện, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân thông qua hoạt động giám sát việc thực thi pháp luật. Bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là phải nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; người dân là chủ thể phát triển xã hội và quyền làm chủ đó phải được tôn trọng, bảo vệ. Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ còn tồn tại những giai cấp khác nhau, các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá cách mạng thì không thể nói “dân chủ thuần túy”, mà chỉ có thể nói, dân chủ có tính chất giai cấp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân chủ và chuyên chính đi đôi với nhau. Muốn dân chủ thực sự phải chuyên chính thực sự vì không chuyên chính thực sự, bọn thù địch sẽ làm hại dân chủ của nhân dân... Dân chủ và chuyên chính là quan hệ mật thiết với nhau”(10). 

Mặt khác, ở Việt Nam hiện nay còn tình trạng lợi dụng dân chủ để gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, cho nên xây dựng nền dân chủ XHCN phải gắn liền với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”(11). Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XII khẳng định: “Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội”(12). Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh mối quan hệ chủ yếu cần giải quyết trong thời gian tới là: “Thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”(13). Đây là chủ trương đúng đắn và cần thiết, phải nắm vững để vận dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Trong Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam, Hiến pháp, pháp luật là phương tiện để thực hiện dân chủ; là công cụ để bảo vệ dân chủ. Thượng tôn pháp luật là điều kiện tiên quyết để dân chủ được thực hành rộng rãi và thực chất. Vì vậy, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trên nguyên tắc thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội sẽ làm cho mọi quyền và nghĩa vụ của công dân phải được thể chế hóa bằng hiến pháp và pháp luật, ngược lại hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ của người dân được tôn trọng trong thực tế. Sau 37 năm đổi mới đất nước và gần 30 năm (tính từ năm 1994) công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Nhận thức, lý luận về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam ngày càng thống nhất, đầy đủ và sâu sắc hơn. Hệ thống pháp luật về cơ bản đã được hoàn thiện, góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới. 

Xử lý các mối quan hệ lớn trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo về chính trị đối với tổ chức và hoạt động của Nhà nước, không nhà nước hóa, hành chính hóa, không bao biện, làm thay những công việc của Nhà nước. Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng lựa chọn cán bộ để giới thiệu với Nhà nước bố trí sắp xếp vào các chức vụ trong bộ máy nhà nước. Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác, bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Do vậy, để thực hiện quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và Nhân dân, Đảng ta cần nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ và các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ; đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị; phải đặc biệt coi trọng sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, trước hết trong Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cán bộ lãnh đạo chủ chốt và cấp ủy các cấp. Người đứng đầu các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, người dân lên trên hết, trước hết.

Hai là, đối với Nhà nước, phải “lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo”; quy trình xây dựng Hiến pháp, luật, pháp lệnh của Quốc hội phải “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”; Chính phủ phải tập trung “xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ Nhân dân”; xây dựng nền tư pháp “phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân”; “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ Nhân dân và sự phát triển của đất nước”; “Phát huy vai trò, sự tham gia của Nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các vùng, địa phương; quan tâm đến các đối tượng yếu thế trong xã hội”(14). Tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy và hoạt động của Chính phủ theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, trên cơ sở tổ chức hợp lý các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực nhằm xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch; tập trung xây dựng Chính phủ “kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động”. 

Ba là, xác định đúng vai trò của các chủ thể trong mối quan hệ Nhà nước, thị trường, xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN. Ưu tiên xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN làm căn cứ để Nhà nước định hướng phát triển kinh tế đất nước thông qua các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội; thị trường (doanh nghiệp ngoài nhà nước) tham gia cung ứng các dịch vụ xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội, an sinh xã hội, nhất là nhóm yếu thế; thị trường là căn cứ tạo khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, minh bạch và vững chắc trong xây dựng hệ thống pháp luật; thị trường tham gia kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế, góp phần tạo ra sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế; tôn trọng vai trò và chức năng của thị trường, coi thị trường là thực thể khách quan vận động và phát triển theo quy luật xã hội. 

Bốn là, xây dựng nền dân chủ XHCN gắn liền bảo đảm kỷ cương phép nước trong Nhân dân. Dân chủ XHCN có mối quan hệ không tách rời với pháp chế XHCN. Do đó, cần tránh quan điểm xem nhẹ, tuyệt đối hóa hay tách biệt trong xử lý mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội; dân chủ phải được thực hiện trong quy định của Hiến pháp và pháp luật. Do vậy, tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tiêu chuẩn, nguyên tắc pháp quyền hiện đại bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân... phù hợp với yêu cầu, thực tiễn đất nước. Tránh để “nhóm lợi ích” thao túng, chỉ bảo vệ lợi ích cục bộ ngành, lĩnh vực trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật.

Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ Nhân dân và sự phát triển của đất nước. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Hoàn thiện thể chế, quy định về công tác cán bộ, tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”(15). Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển. Đồng thời có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với Nhân dân. 

Hoàn thiện cơ chế để Nhân dân trực tiếp kiểm soát quyền lực nhà nước; bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo và các quyền khác của công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân và các cơ quan báo chí trong giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước. Thực hiện có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”./.

------------

Ghi chú:

(1),(4),(6),(9) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.85, tr.26, tr.88, tr.141.

(2) Hiến pháp năm 2013. 

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ VI, Nxb Sự thật, H.1987, tr.109.

(5),(13),(14),(15) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2021, tr.26, tr.39, tr.143, tr.187.

(7),(8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Nxb Sự thật, H.1991, tr.9-10, tr.12.

(10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.230.

(11) Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.15.

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XII, Nxb CTQG-ST, H.2016, tr.170.

 

PGS.TS Lê Thị Thanh Hà - Phó Viện trưởng, Viện Xã hội học và phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

tcnn.vn

Bình luận

Tin tức cùng chuyên mục

Những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Nghị quyết số 27-NQ/TW

Ngày đăng 11/06/2024
Nghị quyết số 27-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ sáu khóa XIII về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tình hình mới” đã làm rõ hơn, phong phú và sâu sắc hơn những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là những nội dung cơ bản của bài viết này.

Chuyển đổi số - vấn đề đặt ra đối với đội ngũ giảng viên đại học hiện nay

Ngày đăng 04/06/2024
Để góp phần thực hiện thành công Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, trong ngành giáo dục đang diễn ra quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ, đặc biệt là tại các cơ sở giáo dục đại học. Đội ngũ giảng viên là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả đào tạo bằng cách áp dụng công nghệ số. Bài viết phân tích những yêu cầu đặt ra trong việc nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay.

Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến chủ trương phát triển đất nước nhanh và bền vững ở Việt Nam hiện nay

Ngày đăng 06/05/2024
Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(1). Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Phát huy vai trò của đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong thực hiện công tác thi đua, khen thưởng

Ngày đăng 28/03/2024
Năm 2024 là năm bản lề có ý nghĩa rất quan trọng đối với các cơ quan, đơn vị và cả hệ thống chính trị trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng; năm đầu tiên triển khai thực hiện Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022. Để thực hiện thành công, hiệu quả những kế hoạch, mục tiêu đã đề ra, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở mỗi cơ quan, đơn vị cần phát huy vai trò của người đứng đầu trong thực hiện công tác thi đua, khen thưởng, nhằm khuyến khích, động viên mỗi cá nhân và tập thể phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo, trong thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới

Ngày đăng 25/03/2024
Ngày 12/3, Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Hướng dẫn số 145-HD/BTGTW về thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.