Hà Nội, Ngày 17/06/2024

Mô hình phát triển đội ngũ giáo viên của Singapore và những gợi mở đối với Việt Nam

Ngày đăng: 03/04/2023   17:55
Mặc định Cỡ chữ
Singapore là một trong những quốc gia có sự đa dạng về thành phần nhân khẩu học so với các nước trên thế giới(1), có chính sách phát triển kinh tế hướng ra thế giới tạo định hướng cho ngành giáo dục trở thành một điểm thu hút lớn với người nước ngoài. Ngoài hệ thống các trường công lập địa phương tập trung vào việc phát triển các năng lực cho học sinh từ khi còn nhỏ, Singapore còn có hơn 40 cơ sở đào tạo đạt chuẩn quốc tế đáp ứng nhu cầu của người nước ngoài từ khắp nơi trên thế giới đến làm việc tại quốc gia này. 
Ảnh minh họa: internet

Mô hình quản lý về giáo dục, đào tạo của Singapore

Hệ thống văn bản pháp luật và cơ quan quản lý chặt chẽ

Đạo luật Giáo dục năm 1957 (sửa đổi năm 2022) là văn bản quy phạm áp dụng đối với tất cả những cơ sở giáo dục công lập tại Singapore. Theo Điều 4 của Luật này, Chính phủ áp dụng Đạo luật giáo dục tư thục năm 2009 với hệ thống giáo dục ngoài công lập. Như vậy, hai hệ thống giáo dục công lập và tư thục được phân tách bằng văn bản quy phạm riêng biệt, tuy nhiên vẫn có những đặc điểm chung để áp dụng trong quản lý giáo dục. Hệ thống giáo dục của Singapore có tính tập trung cao, Bộ Giáo dục giám sát lớp mẫu giáo (dành cho trẻ em từ bốn đến năm tuổi) cho tới giáo dục đại học và học tập suốt đời. Bộ Giáo dục phân bổ ngân sách cho các trường, xây dựng đề cương môn học và các kỳ thi quốc gia, giám sát việc cấp chứng chỉ giáo viên, quản lý hệ thống đánh giá và thăng hạng giáo viên, hiệu trưởng; thuê, phân công hiệu trưởng và giáo viên cho các trường.

Các trường được nhóm thành các cụm theo địa bàn, mỗi cụm được một tổng giám thị giám sát nhằm hỗ trợ xây dựng chính sách và sáng kiến của Bộ Giáo dục. Các giám thị cụm là những hiệu trưởng có danh tiếng, phối hợp với các hiệu trưởng trong cụm về cách thực hiện chương trình giảng dạy, lựa chọn tài liệu giảng dạy trong số hệ thống tài liệu được Bộ Giáo dục phê duyệt, đồng thời khuyến khích giáo viên sử dụng. Các giám thị cụm cũng tạo điều kiện cho việc chia sẻ các nguồn lực và các phương pháp hay nhất giữa các trường trong cùng cụm. Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm xây dựng khung hệ thống chính sách chung, các đơn vị khác chỉ được phép hoạt động trong khung này. Các cơ quan độc lập hoặc bán tự chủ như Viện Giáo dục quốc gia (đào tạo giáo viên), Hội đồng Khảo thí và đánh giá (đánh giá quốc gia) và Học viện Sư phạm kỹ thuật (giáo dục nghề nghiệp) đã xác định rõ các lĩnh vực phụ trách và phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục.

Chính sách tuyển dụng và đào tạo

Viện Giáo dục quốc gia (NIE) thuộc Đại học Công nghệ Nanyang là tổ chức duy nhất được ủy quyền đào tạo giáo viên; cung cấp toàn bộ lộ trình giảng dạy chương trình đào tạo cử nhân và thạc sĩ. Theo cơ chế này, Singapore giới hạn nghiêm ngặt việc tuyển dụng giáo viên và chỉ áp dụng với những sinh viên đủ tiêu chuẩn vào các trường đại học chuyên về nghiên cứu. Hàng năm, Bộ Giáo dục ước tính số lượng giáo viên sẽ cần và chỉ tuyển tương ứng số lượng học viên trong các chương trình đào tạo về giáo dục. Chỉ khoảng 1/3 số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có kết quả cao nhất được lựa chọn và hội tụ đủ các điều kiện để ứng tuyển. Quá trình lựa chọn mang tính cạnh tranh cao vì giáo dục là một ngành nghề rất được coi trọng ở Singapore, sinh viên trong các chương trình giáo dục - giáo viên nhận được một khoản phụ cấp trong suốt quá trình đào tạo của họ(2). Ngoài ra, các bước khác trong quy trình đăng ký gồm phỏng vấn với nội dung phức tạp tập trung vào giá trị, kỹ năng và kiến thức để tạo dựng nên một giáo viên giỏi, đánh giá chuyên sâu về hồ sơ học tập và đóng góp của ứng viên cho trường học và cộng đồng. Bên cạnh kết quả học thuật, ứng viên trúng tuyển phải cam kết cống hiến và tận tâm với nghề.

Ngoài ra, NIE xây dựng chương trình toàn thời gian bốn (04) năm với bằng cử nhân nghệ thuật hoặc cử nhân khoa học cùng với văn bằng giáo dục, với nội dung đào tạo tập trung vào cả kiến thức các môn học và cả kiến thức sư phạm. Bên cạnh đó, NIE có một số chương trình cấp bằng dưới cử nhân (Diploma) như chương trình 02 năm với sinh viên tốt nghiệp A-level và bách khoa kỹ thuật; các chương trình 04 năm trong các lĩnh vực chuyên môn kinh tế gia đình, nghệ thuật và âm nhạc dành cho sinh viên tốt nghiệp O-Level, bậc này dành cho một tỷ lệ nhỏ các sinh viên chủ yếu sẽ về giảng dạy tại các trường tiểu học sau khi tốt nghiệp. Những thay đổi trong hệ thống giáo dục được liên tục cập nhật trong nội dung đào tạo. Sinh viên sẽ thực tập từ năm thứ nhất để làm quen và bắt nhịp với nghề. Trong những năm đầu làm việc, các giảng viên tiếp tục làm việc với vai trò cố vấn cho các tân cử nhân(3). Tất cả các giáo viên giảng dạy bậc tiểu học và trung học cơ sở đều được đào tạo tại NIE. Không giống như các cơ sở đào tạo giáo viên ở các nước khác, sinh viên của NIE được miễn học phí vì được Bộ Giáo dục đảm bảo chi trả. Cũng chính vì vậy, khi tốt nghiệp mỗi “nhà giáo” tương lai đều phải có cam kết gắn bó với nghề ít nhất 3 năm.

Chương trình đào tạo đại học đối với giáo viên kéo dài 04 năm cùng với 22 tuần thực tập tại các trường học. Bậc sau đại học kéo dài 16 tháng cùng với 10 tuần thực tập. Sinh viên tham gia bậc sau đại học trước hết sẽ phải tham dự chương trình “Nhập môn giảng dạy” do Học viện Giáo viên Singapore (AST) tổ chức. Sau đó, để giúp họ đánh giá sự quan tâm thực sự của với công tác giảng dạy, các giáo viên tương lai sẽ trải qua khoảng thời gian từ vài tháng đến một năm làm việc tại các trường học với tư cách là giáo viên hợp đồng chưa được đào tạo trước khi chính thức bắt đầu khóa đào tạo.

Chương trình đào tạo bậc đại học và thạc sĩ đều được triển khai theo Mô hình giáo dục giáo viên cho thế kỷ XXI. Đó là khung các giá trị, kỹ năng và kiến thức cần thiết cho giáo viên tương lai. Chương trình giảng dạy cho bậc đại học gồm các nghiên cứu học thuật, nội dung mà các giáo viên sẽ giảng dạy cũng như các nghiên cứu về giáo dục, nghiên cứu chương trình giảng dạy. Ngoài ra, sinh viên đại học còn có cơ hội tham gia thực tập ở nước ngoài, sau khi tốt nghiệp chương trình đại học và sau đại học, các tân giáo viên phải tham gia chương trình nhập môn trong hai năm do AST tổ chức và học phí được Bộ Giáo dục chi trả. Trong thời gian này, giáo viên được giảm tải công việc giảng dạy để tham gia đào tạo và làm việc với cố vấn giảng dạy.

Chế độ lương, thưởng và các chính sách ưu đãi

Mức lương cho giáo viên ở Singapore phần lớn tương xứng với mức lương của các ngành nghề khác. Bộ Giáo dục giám sát lương giáo viên trong tương quan với các mức lương chuyên môn khác nhằm điều chỉnh để đảm bảo duy trì tính cạnh tranh. Mức lương tối đa của một giáo viên trung học cơ sở cao gấp đôi GDP(4) trên đầu người; lương giáo viên được tăng dần theo số năm kinh nghiệm. Những giáo viên xuất sắc có thể nhận được tiền thưởng duy trì từ 03 đến 05 năm một lần cũng như tiền thưởng cho năng lực có thể lên 30% mức lương cơ bản của họ. Tiêu chuẩn định mức thưởng cho năng lực thông qua các đánh giá hàng năm, đây cũng là cơ sở để định hướng đào tạo và bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên.

Lương giáo viên tại Singapore được chia ra thành hai nhóm, gồm giáo viên đang được đào tạo và giáo viên đã được đào tạo chính thức, cụ thể:

Hệ thống lương giáo viên đang được đào tạo (đô la Singapore): Bậc mầm non: từ S$2.000 đến S$3.000/tháng; Bậc giáo dục đặc biệt: từ S$2.620 đến S$3.120/tháng; Bậc tiểu học và trung học cơ sở, cao đẳng cơ sở và các Viện Nghiên cứu tập trung: bằng Diploma: S$1.800 đến S$2.350/tháng; sau đại học: từ S$2.760 đến S$3.500/tháng.

Hệ thống lương giáo viên đã được đào tạo chính thức (đô la Singapore): Bậc mầm non: giáo viên: từ S$2.500 đến S$4.106/tháng; Hiệu trưởng/Phó Hiệu trưởng: từ S$2.860 đến S$5.874/tháng. Mức tăng lương trung bình: 01 - 04 năm: S$2.250; 05 - 09 năm: S$2.250; 10 - 19 năm: S$2.300; Giáo dục đặc biệt: từ S$2.620 đến S$3.120/tháng. Mức tăng lương trung bình: 01 - 04 năm: S$5,330; 05 - 09 năm: S$7,460; 10 - 19 năm: S$9,740; Bậc tiểu học: S$2.600/tháng. Mức tăng lương trung bình: 01 - 04 năm: S$2.600; 05 - 09 năm: S$4.420; 10 - 19 năm: S$5.400; Bậc trung học cơ sở: S$4.080/tháng. Mức tăng lương trung bình: 01 - 04 năm: S$4.080; 05 - 09 năm: S$5.300; 10 - 19 năm: S$6.250; Bậc cao đẳng cơ sở hoặc các Viện nghiên cứu tập trung: S$4.800/tháng. Mức tăng lương trung bình: 01 - 04 năm: S$5.500; 05 - 09 năm: S$6.700; 10 - 19 năm: S$7.900.

Ngoài lương, giáo viên còn được hưởng các chế độ phúc lợi khác như trợ cấp hàng năm không tính vào lương hưu, thưởng năng suất và các loại thưởng khác (các giáo viên công lập được nhận thưởng giống như công chức trong hệ thống công vụ); chương trình kết nối là hình thức thưởng với những giáo viên đã cam kết giảng dạy được duy trì trong 30 năm; được nghỉ trong những ngày nghỉ lễ, nghỉ chuyển giao kỳ học; hàng năm có 14 ngày nghỉ ốm không nằm bệnh viện và tối đa 60 ngày nghỉ phép nằm bệnh viện; hàng năm có 10 ngày nghỉ vì lý do khẩn cấp hoặc việc riêng, đồng thời phải được chấp thuận từ cấp quản lý.

Theo quy định hiện hành, giáo viên ở Singapore là công chức nên cũng được hưởng các quyền lợi khác của công chức, như quyền nghỉ phép với lý do nghỉ ngơi, học tập, cưới xin, nghỉ thai sản cho cả nam và nữ, chăm sóc con, chăm sóc cha mẹ...; quyền lợi y tế, nhận thêm 2% tổng lương hàng tháng, đồng thời được nhận khoản trợ cấp lên tới S$500 (đồng đô la Singapore) mỗi năm cho các chi phí y tế; quyền lợi nha khoa, được hoàn trả 85% chi phí khám chữa răng cho mỗi lần khám, tối đa là S$120 mỗi năm; bảo hiểm theo nhóm, chương trình này cung cấp phạm vi bảo hiểm trên toàn thế giới với mức phí bảo hiểm thấp áp dụng với những trường hợp như tử vong, thương tật toàn bộ và vĩnh viễn cũng như thương tật một phần hoặc vĩnh viễn; thưởng thâm niên, những người đã làm việc trong nền công vụ ít nhất 05 năm và có thành tích và hành vi tốt. Hỗ trợ công chức: chính phủ Singapore luôn thể hiện sự quan tâm đến phúc lợi của mọi công chức và cung cấp một nhóm dịch vụ để hỗ trợ các nhu cầu của công chức, đơn cử như các bộ được phân bổ kinh phí để tổ chức các hoạt động hoặc chương trình nhằm cải thiện phúc lợi của nhân viên; bên cạnh đó, trong nỗ lực hỗ trợ tốt hơn cho sức khỏe tinh thần, chính phủ Singapore đang bắt đầu một chương trình phổ khắp nền công vụ với mục đích đào tạo các đại sứ sức khỏe tinh thần để hỗ trợ và chăm sóc đồng đẳng cho các đồng nghiệp. Đối với các công chức cần trợ giúp chuyên nghiệp, họ có thể gọi đến đường dây nóng của chính phủ để được tư vấn.

Cơ chế đánh giá

Các trường học ở Singapore tiến hành tự đánh giá hàng năm về các hoạt động và kết quả bằng cách sử dụng Mô hình trường học xuất sắc do Bộ Giáo dục phát triển, bao gồm 09 tiêu chí về năng lực. Sau đó, các trường xây dựng kế hoạch cải tiến dựa trên kết quả. Ngoài ra, cứ 06 năm một lần, mỗi trường được một nhóm các chuyên gia trong đó có công chức của Bộ Giáo dục làm trưởng đoàn cử đến tiến hành đánh giá; thành phần đoàn đánh giá thường bao gồm các chuyên gia tư vấn từ Bộ Giáo dục và các nhà giáo có tiếng (như các giáo sư đại học và các nhà lãnh đạo của những trường danh tiếng). Việc đánh giá này nhằm xác nhận việc tự đánh giá, cung cấp phản hồi cho nhà trường và hỗ trợ để cải thiện năng lực giáo dục. Các nỗ lực cải tiến được tổ chức thông qua hệ thống cụm trường của Singapore. Giám thị cụm họp thường xuyên với hiệu trưởng để theo dõi những nỗ lực cải tiến của họ. Các trường có thành tích cao đủ điều kiện để được khen thưởng. Hàng năm, Bộ Giáo dục trao giải thưởng cho những trường có thành tích xuất sắc trong một năm hoặc trong vài năm một lần. Danh hiệu cao quý nhất có tên “Giải thưởng Trường học Xuất sắc” được trao cho chỉ một trường mỗi năm.

Singapore sử dụng Hệ thống quản lý hiệu suất nâng cao (EPMS) để tiến hành đánh giá giáo viên hàng năm. EPMS đánh giá hiệu suất của giáo viên dựa trên 16 năng lực khác nhau, bao gồm cả công việc trên lớp học và khả năng tương tác của cá nhân giáo viên với cộng đồng trường học. Trước tiên, giáo viên tiến hành tự đánh giá, sau đó người giám sát đánh giá họ với EPMS. Những đánh giá này là định tính, gồm những phản hồi bằng văn bản chứ không phải là điểm số hay những chỉ số cụ thể. Giáo viên có trách nhiệm xây dựng kế hoạch phát triển nghề nghiệp của họ dựa trên phản hồi của EPMS. Hiệu trưởng cùng với chuyên gia phát triển nhân sự của nhà trường (phụ trách học tập chuyên môn) và giám đốc cụm sẽ cùng nhau xây dựng “Bảng ước lượng tiềm năng hiện tại” cho mỗi giáo viên bằng cách sử dụng kết quả của EPMS. Bản ước lượng này bao hàm nội dung tổng quan nghề nghiệp trong ngắn hạn sẽ được gửi tới giáo viên nhằm giúp đội ngũ giáo viên xác định rõ mục tiêu nghề nghiệp của mình. 

Định hướng phát triển sự nghiệp

Thang phát triển sự nghiệp ngành giáo dục của Singapore được xây dựng theo ba hướng: giảng dạy, lãnh đạo, chuyên gia. Trong quá trình giảng dạy, một giáo viên có thể làm việc và phát triển sự nghiệp để trở thành giáo viên chính. Với hướng phát triển lãnh đạo, giáo viên có thể được bổ nhiệm tới vị trí cao nhất trong thang sự nghiệp là Tổng Vụ trưởng của Bộ Giáo dục(5). Với hướng phát triển chuyên gia, giáo viên sẽ tập trung theo hướng nghiên cứu chuyên sâu và chính sách giảng dạy, vị trí cao nhất mà họ có thể đạt được là chuyên gia trưởng. Để được bổ nhiệm lên vị trí có cấp bậc cao hơn, mỗi giáo viên phải rèn luyện, mỗi khi chuyển sang vai trò mới cần hoàn thành khóa đào tạo bắt buộc cũng như phải chứng minh năng lực thông qua EPMS về kỹ năng, kiến thức và năng lực cần thiết để thực hiện tốt công việc.

Mỗi giáo viên phải thiết lập và đạt được các mục tiêu cá nhân đã đề ra cho công việc và thể hiện được những tiến bộ trong bảng đánh giá năng lực trong quá trình giảng dạy để chứng minh năng lực phù hợp của mình. EPMS cũng được sử dụng để xác định mức độ phù hợp của giáo viên với định hướng sự nghiệp nhất định. Hiệu trưởng và chuyên gia phát triển nhân sự của nhà trường tiến hành quan sát tất cả các giáo viên trong 03 năm để xác định con đường nghề nghiệp nào phù hợp nhất với họ. Khi giáo viên lựa chọn định hướng sự nghiệp dựa theo kết quả của EPMS, kết hợp với kết quả giám sát và sở thích cá nhân của mỗi giáo viên, cá nhân đó có thể lựa chọn sang hướng khác nếu cảm thấy hướng nghề nghiệp đang đi không còn phù hợp.

Một số gợi mở đối với việc phát triển đội ngũ giáo viên ở Việt Nam

Với mô hình tuyển dụng và đào tạo giáo viên tập trung cho khối công lập, Singapore đã trao trách nhiệm cho một đơn vị quản lý là Bộ Giáo dục, mà cụ thể triển khai công tác tuyển dụng và đào tạo cho một viện nghiên cứu thuộc Đại học Nanyang đã cho thấy sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa công tác nghiên cứu và xây dựng triển khai chính sách. Mô hình tuyển dụng tập trung này giúp giảm thiểu rất nhiều công sức, thời gian, chi phí, đồng thời tập trung quản lý một mảng về một đầu mối và gắn trách nhiệm cụ thể cho một đơn vị sẽ thuận lợi hơn cho quản lý nguồn nhân lực trong nền hành chính hiện đại.

Với những điểm sáng và phương thức quản lý nhân lực ngành giáo dục hiện đại và hiệu quả, mặt khác Singapore là một đảo quốc với diện tích nhỏ nên triển khai mô hình từ cấp trung ương xuống cơ sở rất nhanh chóng và đạt hiệu quả có thể nói gần như ngay lập tức. Tuy nhiên, việc lựa chọn những yếu tố phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay thật sự không đơn giản. Căn cứ vào những nghiên cứu trên, bài viết đưa ra một số gợi mở như sau:

Một là, cần có sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp từ Trung ương đến địa phương về sự cần thiết đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng, lương và phúc lợi, đánh giá và phát triển giáo viên đồng bộ, xuyên suốt. Có cơ chế đánh giá chất lượng năng lực đội ngũ giáo viên. Thực tế, ở Việt Nam, cơ chế đánh giá vẫn chưa cụ thể, quy trình đánh giá còn mang tính tổng quát… vì vậy, cần nghiên cứu xây dựng quy trình đánh giá mới phù hợp với thực tiễn. Ví dụ, trong một địa phương có thể thành lập các tổ giám sát, kiểm tra là những giáo viên giỏi, chuyên gia về giáo dục từ các viện nghiên cứu hoặc Sở Giáo dục và Đào tạo để tiến hành kiểm tra và đánh giá định kỳ 03 năm một lần với giáo viên; 05 năm một lần với trường học dựa theo một hệ thống đánh giá với những tiêu chí kết hợp định tính và định lượng, có nội dung về đánh giá năng lực truyền đạt, năng lực xây dựng giáo trình, năng lực điều khiển lớp học, năng lực quản lý, năng lực thấu hiểu học sinh...

Hai là, cần gắn cơ chế định hướng sự nghiệp ngay từ những năm đầu làm việc vào công tác quản lý nguồn nhân lực ngành Giáo dục. Đối với sinh viên sư phạm khi bắt đầu nhập học đã lựa chọn định hướng bản thân có thể giảng dạy từ bậc mầm non, tiểu học cho đến đại học... nhưng có thể do lứa tuổi bắt đầu nhập học ngành sư phạm chưa được định hướng đầy đủ, trong quá trình học có thể có những suy nghĩ chín chắn hơn và có mong muốn thay đổi công việc sau này, thậm chí khi bắt đầu giảng dạy lại tự nhận thấy bản thân không phù hợp với công việc đứng lớp mà phù hợp với nghiên cứu... do đó cần có cơ chế định hướng sự nghiệp trong phạm vi ngành Giáo dục.

Ba là, tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn và xây dựng ý thức tự rèn luyện nâng cao trình độ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ giảng viên, giáo viên ngành Giáo dục và đào tạo. Cần nghiên cứu xây dựng bảng lương áp dụng cho giáo viên theo mô hình tương ứng với cấp độ đào tạo và cấp bậc giảng dạy. Có cơ chế, chính sách về các quyền lợi chính đáng phù hợp với điều kiện của mỗi địa phương, nhằm trọng dụng đội ngũ hiện tại và thu hút người có năng lực và đạo đức vào hệ thống giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay./.

---------------

Ghi chú:

(1) Thành phần nhân khẩu học của người dân Singapore gồm: người Hoa chiếm 76%, người Mã Lai chiếm 15%, người Ấn khoảng 7,4%, nhóm khác chiếm 1,6%.

(2) Phụ cấp hàng tháng với học viên giáo dục là khoảng 60% lương khởi điểm của một giáo viên mới vào nghề.

(3) Xem https://giaoducthoidai.vn/singapore-quy-trinh-dao-tao-giao-vien-chat-luong-cao-post498718.html. 

(4) Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới năm 2021, GPD bình quân đầu người của Singapore là 72.794 USD. Nguồn: https://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.PCAP.CD?locations=SG truy cập 16/10/2022.

(5) Vị trí cao nhất về hành chính trong Bộ Giáo dục Singapore, đương nhiệm là bà Liew Wei Li, được bổ nhiệm từ ngày 01/4/2022. Nguồn: https://www.moe.gov.sg/news/press-releases/20220228-director-general-of-education-retires-after-38-years-of-service. 

 

ThS Mai Anh Duy - Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

tcnn.vn

Bình luận

Tin tức cùng chuyên mục

Xu hướng phát triển hệ thống đô thị trên thế giới - kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngày đăng 14/06/2024
Đô thị có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Việc nghiên cứu, tìm ra mô hình quản lý và phát triển các đô thị không chỉ có ý nghĩa cấp bách trước mắt mà còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Nội dung bài viết khái lược xu hướng phát triển hệ thống đô thị trên thế giới, trong đó “đô thị thông minh” là xu hướng nhiều quốc gia lựa chọn;  dựa vào kinh nghiệm các nước, cũng như xu thế phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam, tác giả đề xuất một số giải pháp thúc đẩy phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam.

Tỷ phú Mai Vũ Minh - Tầm nhìn về một châu Á thịnh vượng

Ngày đăng 11/06/2024
Vừa qua, trong buổi làm việc của Tập đoàn SATAS Group và SAPA Thale Group, tỷ phú Mai Vũ Minh đã có những nhận định thể hiện tầm nhìn sâu rộng về tương lai kinh tế của châu Á trong thời kỳ đổi mới kinh tế hiện nay. 

Kinh nghiệm thế giới về phát triển và quản trị đô thị trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam   

Ngày đăng 03/06/2024
Xây dựng và quản trị đô thị ở Việt Nam thời gian qua đã đạt nhiều kết quả tích cực, song để phát triển và quản trị đô thị ở Việt Nam hướng tới mục tiêu hiện đại, văn minh và bền vững trong điều kiện hiện nay cần ứng dụng triệt để những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng 4.0) và chuyển đổi số đã được đề ra trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cùng với sự tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệp quý giá trong quản trị và phát triển đô thị của một số quốc gia trên thế giới dựa trên những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể về kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc điểm của đô thị ở mỗi  địa phương để tổ chức xây dựng hướng tới việc quản trị và phát tiển đô thị ở nước ta ngày càng bền vững, văn minh và hiện đại.

Những đổi mới và phát triển trong chính sách lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba hiện nay

Ngày đăng 07/05/2024
Những năm gần đây, chính sách lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba đã có nhiều bổ sung, phát triển và đổi mới. Điều này được thể hiện rõ trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng; xây dựng, lãnh đạo Đảng và đào tạo, nâng cao chất lượng đảng viên; cùng nhiều chiến lược, chương trình, kế hoạch mới về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và đối ngoại. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá hiệu quả trong đổi mới và phát triển chính sách lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba hiện nay.

Bài học về quy hoạch, lựa chọn cán bộ nhìn từ Trung Quốc

Ngày đăng 03/05/2024
“Từ ngày về hưu, tôi đọc và nghiên cứu Trung Quốc rất nhiều, nhất là công tác cán bộ để thấy vì sao họ phát triển. Quản lý đất nước 1,4 tỷ người đâu đơn giản. Học kinh nghiệm đấy chứ học đâu nữa” - ông Nguyễn Đức Hà chia sẻ với VietTimes.