Hà Nội, Ngày 29/01/2023

Xây dựng nền hành chính dân chủ theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII

Ngày đăng: 14/01/2023   03:26
Mặc định Cỡ chữ
Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch là một nội dung rất quan trọng trong Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Triển khai thực hiện nội dung quan trọng này của Nghị quyết, cần có những giải pháp cụ thể, thiết thực và hiệu quả để đảm bảo nội dung dân chủ trong xây dựng nền hành chính nhà nước Việt Nam thời gian tới.
Bộ Nội vụ Việt Nam với Bộ Chuyển đổi và Công vụ (Cộng hòa Pháp) tổ chức Lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực công vụ và hiện đại hóa nền hành chính, ngày 31/3/2022. Ảnh minh họa

Quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền hành chính dân chủ

Kế thừa tinh thần của các kỳ Đại hội trước, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch”(1). Cụ thể hóa nhiệm vụ rất quan trọng này, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đề ra mục tiêu: “Hoàn thành cơ bản việc xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch; bảo đảm Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, cơ quan chấp hành của Quốc hội; phân cấp, phân quyền hợp lý giữa Trung ương và địa phương; cơ bản hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền địa phương”(2). Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 27-NQ/TW, xây dựng nền hành chính dân chủ là nội dung quan trọng thứ hai sau nội dung phục vụ Nhân dân. Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất cao.

Từ quan điểm: “Nền hành chính dân chủ: thực chất đây là mối quan hệ giữa dân chủ và hành chính công với tư cách là hai phạm trù trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước”(3), có thể thấy rằng dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ, mọi quyền lực hành chính nhà nước đều thuộc về Nhân dân, của Nhân dân, do Nhân dân. Trong nền hành chính dân chủ thì Nhân dân là chủ thể duy nhất có quyền quyết định bản chất, nội dung và hiệu quả hoạt động của nền hành chính. Đối với hành chính công, điều này thể hiện trong hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước thông qua việc các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương tiến hành các phương thức thực hiện quyền lực nhà nước tới các quá trình xã hội và hành vi của các cá nhân, tổ chức nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, đáp ứng yêu cầu về các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. 

Như vậy, nói tới hành chính công là nói tới thực hiện quyền hành pháp bằng pháp luật, bằng quyền lực nhà nước. Trong khi nói tới dân chủ là nói tới vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong nền hành chính nhà nước. Người dân có quyền tham gia quản lý nhà nước thông qua các cơ chế khác nhau, như thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Dưới giác độ cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước, người dân cũng là thành viên bình đẳng trong một tập thể công quyền thực thi công vụ; người dân có quyền thể hiện quan điểm của mình và được các cơ quan công quyền, hành chính nhà nước, các công chức, viên chức của nền hành chính nhà nước lắng nghe ý kiến, quan điểm trong quan hệ pháp luật về công vụ.

Trong mối quan hệ giữa dân chủ và hành chính công với tư cách là nội dung cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thì dân chủ là cơ sở, nền tảng để hành chính công phát huy vai trò của mình. Dân chủ càng được phát huy, được mở rộng thì hành chính công càng có cơ sở, căn cứ để thực thi hiệu quả, đúng pháp luật. Do đó, Nhân dân phải được tham gia vào xây dựng hệ thống pháp luật - cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của nền hành chính công; được tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào những quyết định quan trọng của nền hành chính công; được tham gia kiểm tra, giám sát nền hành chính công vụ cũng như hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong nền hành chính nhà nước. Nói cách khác là phải thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong nền hành chính công. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề, do đó để giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân chủ và hành chính công, chìa khóa quan trọng nhất chính là thực hiện thật tốt, thật hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ để xây dựng thành công nền hành chính dân chủ.

Trong quá trình đổi mới, Đảng ta rất quan tâm tới xây dựng nền hành chính dân chủ. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng và hoàn thiện một cơ chế quản lý nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động ở tất cả các cấp”(4). Dân chủ được thể hiện ở quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân. Nghị quyết Đại hội VII của Đảng tuy không nêu trực tiếp về yêu cầu xây dựng nền hành chính dân chủ, nhưng trên thực tế đã đề cập chủ trương: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch; bộ máy tinh giản, gọn nhẹ và hoạt động có chất lượng cao…”(5). Bởi vì, thực hiện tốt những chủ trương này thì nền hành chính nhà nước nhất định sẽ là nền hành chính dân chủ. 

Đại hội VIII của Đảng xác định cải cách nền hành chính nhà nước: “Là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước trong những năm trước mắt, công cuộc cải cách hành chính phải dựa trên cơ sở pháp luật và tiến hành đồng bộ trên tất cả các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn  đội ngũ cán bộ, công chức hành chính”(6). Thực hiện được những nội dung cải cách này sẽ xây dựng được nền hành chính dân chủ. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã có bước phát triển cao hơn, khi trực tiếp đặt ra yêu cầu: “Xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hóa”(7), đồng thời nhấn mạnh: “Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật”(8). 

Xuất phát từ thực tế nền hành chính công còn nhiều bất cập, Đại hội X của Đảng nêu rõ: “Đẩy mạnh cải cách hành chính và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại. Luật hóa cơ cấu, tổ chức của Chính phủ, tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn và hợp lý. Phân cấp mạnh, giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực...”(9). Đây vừa là cơ sở chính trị, vừa là định hướng những giải pháp quan trọng để xây dựng nền hành chính dân chủ. 

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục yêu cầu cắt giảm mạnh các thủ tục hành chính và đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí: “Công khai các chuẩn mực, các quy định hành chính để nhân dân giám sát việc thực hiện. Tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm trong hoạt động công vụ. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước các cấp”(10). Đại hội XII của Đảng có bước phát triển trong tư duy về xây dựng nền hành chính dân chủ: “Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ - pháp quyền, quy định trách nhiệm và cơ chế giải trình của các cơ quan nhà nước; giảm mạnh, bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiên hà cho người dân, doanh nghiệp. Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm công vụ xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức; đẩy nhanh việc áp dụng Chính phủ điện tử”(11). Đến Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta nhấn mạnh: “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch”(12). 

Có thể nói, dù chưa đề cập trực tiếp câu chữ về xây dựng nền hành chính dân chủ, nhưng các Đại hội thời kỳ đổi mới, Đảng ta rất quan tâm tới xây dựng nền hành chính dân chủ. 

Một số giải pháp tiếp tục xây dựng nền hành chính dân chủ theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng nền hành chính dân chủ. 

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất của Ðảng đối với việc xây dựng nền hành chính dân chủ. Trên cơ sở đó cần nhận thức, nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn giữa Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội trong xây dựng nền hành chính dân chủ nói riêng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung. Thực tiễn cách mạng Việt Nam khẳng định một chân lý: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(13), trong đó có xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung, xây dựng nền hành chính dân chủ nói riêng. Sự lãnh đạo của Đảng phải thể hiện trong tất cả các khâu: lãnh đạo việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật; lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; lãnh đạo việc phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong hệ thống hành chính; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp.v.v... 

Hai là, dựa vào Nhân dân, phát huy vai trò của Nhân dân trong xây dựng nền hành chính dân chủ. 

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã rút ra bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu về vai trò của Nhân dân: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(14). 

Theo tinh thần đó, Nhân dân cũng là chủ thể của việc xây dựng nền hành chính dân chủ. Nền hành chính dân chủ phải từ xuất phát từ chính cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu xây dựng. Trong xây dựng nền hành chính dân chủ phải kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân có quyền tham gia xây dựng thể chế, chính sách, pháp luật về nền hành chính dân chủ; quyền tham gia quyết định các quyết sách hành chính của quốc gia; quyền thanh tra, giám sát, kiểm tra việc thực thi công vụ của bộ máy hành chính công cũng như đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hành chính nhà nước. 

Đồng thời, tổ chức thực hiện có hiệu quả toàn diện yêu cầu đề ra tại Nghị quyết số 27-NQ/TW: “Thể chế hóa đầy đủ và thực hiện đúng đắn, hiệu quả cơ chế Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở. Tổng kết việc thực hiện và nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng phát huy tốt hơn các hình thức dân chủ trực tiếp của Nhân dân; có cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của Nhân dân tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết, phản hồi ý kiến, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của Nhân dân”(15).

Ba là, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Nghị quyết số 27-NQ/TW đề ra các giải pháp rất cụ thể: “Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền lực nhà nước, xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của mỗi cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực bên trong mỗi cơ quan và giữa các cơ quan nhà nước, giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương và giữa các cơ quan trong cùng một cấp chính quyền”(16). Trên cơ sở đó, cần sớm ban hành các văn bản quy định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành pháp; mọi quyền lực hành chính nhà nước phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; lạm dụng, lợi dụng quyền lực phải bị truy cứu trách nhiệm và xử lý; kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của nền hành chính nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức. 

Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương; khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất, đồng thời phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của từng cấp, từng ngành”(17). Đồng thời, phát huy tính chủ động, sáng tạo và cá thể hóa trách nhiệm từng cấp, từng ngành, từng chức danh lãnh đạo trong nền hành chính nhà nước. Trọng tâm là phải tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp, từng ngành, từng đơn vị, từng chức danh lãnh đạo.

Cùng với hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, cần tăng cường đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Từng bước xây dựng, hoàn thiện “cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng, tiêu cực; phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, tiêu cực để không dám tham nhũng, tiêu cực; đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng văn hóa liêm chính, tiết kiệm để không cần, không muốn tham nhũng, tiêu cực”(18).

Bốn là, tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền các cấp và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Cần tiếp tục “Hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền các cấp gắn với tinh giản biên chế, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Chính phủ tập trung vào quản lý vĩ mô, nâng cao chất lượng xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. Tăng cường năng lực dự báo và khả năng phản ứng chính sách trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”(19). Đồng thời, cần quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương cấp tỉnh và giữa các cấp chính quyền địa phương. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Chính phủ, đồng thời thực hiện phân cấp, phân quyền, ủy quyền mạnh mẽ, hợp lý giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 

Từng bước hoàn thiện quy chế quan hệ công tác giữa các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước. Để thực hiện có hiệu quả yêu cầu này, cần tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác giữa các bộ, ngành, các tổ chức trực thuộc các bộ, ngành, địa phương và cơ cấu tổ chức của các cấp chính quyền địa phương; khắc phục triệt để sự trùng lắp, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ theo hướng một tổ chức có thể đảm nhiệm nhiều việc, nhưng một việc chỉ do một tổ chức chủ trì và chịu trách nhiệm chính. Hoàn thiện quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, của HĐND và UBND các cấp trên cơ sở các định hướng của Trung ương; tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương các cấp, tinh gọn tổ chức bộ máy nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Bên cạnh đó, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính dân chủ. Cụ thể, cần tiếp tục: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tính chuyên nghiệp cao, có năng lực sáng tạo dựa trên cơ chế cạnh tranh về tuyển dụng, chế độ đãi ngộ và đề bạt; có phẩm chất đạo đức tốt và bản lĩnh chính trị vững vàng. Quy định rõ và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu; có cơ chế khuyến khích, khơi dậy tinh thần cống hiến vì đất nước, tạo động lực và áp lực để mọi cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao; tận tụy phục vụ nhân dân; có cơ chế bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Cải cách cơ bản chế độ tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức”(20).  Đồng thời, “Tập trung phát triển toàn diện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của nền hành chính quốc gia; cải cách mạnh mẽ chế độ công vụ, công chức; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm, tiêu chuẩn nghiệp vụ, tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức, viên chức dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao bằng sản phẩm cụ thể và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp”(21). Các giải pháp này phải được thực hiện đồng bộ, với quyết tâm chính trị cao mới đem lại hiệu quả toàn diện và thiết thực, đảm bảo xây dựng thành công nền hành chính dân chủ theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW./.

------------------------------

Ghi chú:

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2021, tr.176.

(2), (15), (16), (18), (21) Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (moha.gov.vn, truy cập ngày 30/11/2022).

(3) https://moha.gov.vn/danh-muc/nhung-noi-dung-co-ban-cua-xay-dung-nen-hanh-chinh-dan-chu-chuyen-nghiep-hien-dai-tinh-gon-hieu-luc-hieu-qua-co-nang-luc-kien-tao-phat-trien-48027.html, ngày 30/9/2022.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ VI, Nxb Sự thật, H.1987, tr.118.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ VII, Nxb Sự thật, H.1991, tr.91.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ VIII, Nxb CTQG-ST, H.1996, tr.131.

(7), (8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ IX, Nxb CTQG-ST, H.2001, tr.133, tr.135.

(9) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ X, Nxb CTQG-ST, H.2006, tr.126-127.

(10), (11) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.143, tr.178.

(13) Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQG-ST, H. 2022, tr.220.

(12), (14), (17), (19), (20) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2021, tr.176, tr.27-28, tr.177, tr.286-287, tr.288.

 

GS.TS Trần Văn Phòng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Ngăn ngừa khi manh nha dấu hiệu vi phạm

Ngày đăng 16/01/2023
Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc, quy luật phát triển của Đảng, việc làm cấp bách, có ý nghĩa sống còn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Để thực hiện tốt công tác tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cần đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức được tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ hết sức quan trọng để củng cố đoàn kết, thống nhất trong Đảng; phát huy tốt vai trò giám sát của báo chí và Nhân dân với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; chủ động kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, ngăn ngừa, phát hiện, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm từ khi mới manh nha…

Khẩn trương nghiên cứu, cụ thể hóa các nghị quyết thành chương trình, kế hoạch, phân công thực hiện hiệu quả

Ngày đăng 06/12/2022
Phát biểu kết luận Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư nhấn mạnh, phải quan tâm đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức thực hiện Nghị quyết, kết luận của Trung ương bảo đảm khoa học, chặt chẽ, hiệu quả. Các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là các Đảng đoàn; Ban Cán sự đảng ở Trung ương khẩn trương nghiên cứu cụ thể hóa nội dung các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, khóa XIII thành chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể có sự phân công, phân nhiệm lộ trình thực hiện rõ ràng, hiệu quả, với phương châm “chủ trương 1, biện pháp 10, hành động 20”.

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

Ngày đăng 05/12/2022
Sáng 05/12/2022, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến với điểm cầu Trung ương tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội và điểm cầu các đảng ủy, tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương, đường truyền mở rộng đến cơ sở.

Hướng dẫn tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và tuyên truyền Nghị quyết Trung ương 6 khóa XIII

Ngày đăng 14/11/2022
Ban Tuyên giáo ban hành Hướng dẫn số 78-HD/BTGTW tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và tuyên truyền Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Trân trọng giới thiệu toàn văn bản Hướng dẫn.

Tư duy mới của Đảng về hoàn thiện chính sách, pháp luật quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Ngày đăng 29/10/2022
Những năm qua, Nhà nước ta đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quốc phòng, an ninh và đối ngoại, nhằm thể chế hóa quan điểm, đường lối quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Đảng. Đây là bước phát triển mới về tư duy lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn của Đảng ta về nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.