Hà Nội, Ngày 29/01/2023

Hoàn thiện pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở tại Việt Nam hiện nay

Ngày đăng: 28/12/2022   10:38
Mặc định Cỡ chữ
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: Thực hành và phát huy rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân và vai trò chủ thể của nhân dân, thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”.

Theo tinh thần đó, hoàn thiện pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở là trách nhiệm của Nhà nước nhằm thể chế hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng về “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; đồng thời là sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về quyền làm chủ của Nhân dân và các phương thức bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân thông qua các thiết chế nhà nước và các thiết chế khác trong xã hội. 

Các đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, ngày 10/11/2022.

Khái quát về chính sách và pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở 

Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã khẳng định “khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở”. Chủ trương này được thể chế hóa bằng Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 26/02/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ. Chính phủ ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đối với từng loại hình cơ sở như: Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Chỉ thị số 22/1998/CT-TTg ngày 15/5/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Thông tư số 03/1998/TT-TCCP ngày 06/7/1998 hướng dẫn áp dụng Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường và thị trấn…

Để đáp ứng yêu cầu đặt ra, căn cứ Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị Trung ương lần thứ năm, khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn; Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 28/3/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã để thay thế Nghị định số 29/1998/CP. Tiếp đó, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 12/2004/TT-BNV ngày 20/02/2004 hướng dẫn thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định phát huy dân chủ là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình phát triển của nước ta. Thể chế hóa quan điểm chỉ đạo này, ngày 20/4/2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Để cụ thể hóa nội dung của Pháp lệnh, Chính phủ phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN ngày 17/4/2008 về hướng dẫn một số điều của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.

Đối với khối cơ quan nhà nước, các văn bản hướng dẫn thực hiện dân chủ ở cơ sở được thể hiện tại Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 của Chính phủ quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính; Chỉ thị số 38/1998/CT-TTg ngày 11/11/1998 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan; Thông tư liên tịch số 09/1998/TTLT-TCCP-LĐLĐ ngày 04/12/1998 hướng dẫn về tổ chức và nội dung hội nghị cán bộ trong cơ quan; Quyết định số 11/1998/QĐ-TCCP-CCVC của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ ngày 05/12/1998 kèm theo Quy chế đánh giá công chức hàng năm.

Đối với các loại hình đơn vị kinh tế có các văn bản điều chỉnh, như Nghị định số 07/1999/NĐ-CP ngày 13/02/1999 của Chính phủ quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước; Nghị định số 87/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Đối với khối cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập, cho đến nay vẫn thực hiện theo Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

Qua gần 25 năm (từ năm 1998), việc ban hành và triển khai chính sách, pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở đã đem lại nhiều chuyển biến tích cực trong đời sống chính trị - xã hội của Việt Nam, nhất là ở cấp cơ sở. Có thể thấy, pháp luật hiện hành về thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định khá đầy đủ, chi tiết về các nội dung trách nhiệm của người đứng đầu trong việc công khai, minh bạch các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của cơ quan, đơn vị đến người lao động; trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc thực hiện dân chủ đối với người lao động theo đúng quy định của pháp luật; những vấn đề người dân được biết, được thực hiện, được quyết định bảo đảm quyền dân chủ của mình. Tuy nhiên, pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở vẫn bộc lộ những hạn chế, cần nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế cho phù hợp. 

Trước khi Quốc hội khóa XV ban hành Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, vấn đề thực hiện dân chủ ở cơ sở được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết số 55/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 30/8/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan; Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11; Nghị định số 04/2015/NĐ-CP; Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Song bối cảnh mới đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, để công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được thông tin, thể hiện ý chí, nguyện vọng và chính kiến của mình thông qua việc thảo luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. 

Trước tình hình đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Thực hành và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường tạo đồng thuận xã hội, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội”(1). 

Quan điểm, các vấn đề đặt ra đối với pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở thời gian qua và nội dung mới của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 

Quan điểm

Tiến trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế của Việt Nam, về bản chất là quá trình dân chủ hóa xã hội ngày càng sâu rộng hơn. Tiến trình đó cũng là quá trình xây dựng và hoàn thiện không ngừng của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Dân chủ càng cao thì pháp luật càng phải chặt chẽ, khoa học, do đó, quá trình hoàn thiện pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay cần được quan tâm ở những khía cạnh cơ bản sau:

Thứ nhất, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong hệ thống chính trị. Các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị, trước hết là Nhà nước cần ban hành, tổ chức và thực hiện cơ chế để thực thi dân chủ và bảo đảm dân chủ của người dân, khắc phục tính hình thức cả trong quy định và tổ chức thực hiện.

Thứ hai, phát huy vai trò cơ chế dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, chú trọng dân chủ ở cơ sở. Dân chủ đại diện là hình thức được người dân thực hiện thông qua các cơ quan, tổ chức, cá nhân đại diện cho mình để giải quyết các công việc của Nhà nước, xã hội và Nhân dân. Dân chủ trực tiếp là việc người dân trực tiếp thực hiện các quyền dân chủ của mình được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Thực hiện dân chủ ở cơ sở có vai trò và ý nghĩa to lớn trong đời sống xã hội. Quyền làm chủ của Nhân dân chỉ có thể được hiện thực hóa khi chính Nhân dân được tạo điều kiện, đảm bảo để thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Thứ ba, phát huy dân chủ gắn với nâng cao dân trí, nhận thức về dân chủ và thực hành dân chủ cần phải được nâng lên ở các cấp, các ngành thông qua một loạt các hoạt động của chính quyền như công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, cải cách hành chính, công tác tiếp công dân, đối thoại, xử lý đơn thư, tinh thần thái độ phục vụ Nhân dân, đạo đức công vụ, hội nghị người lao động. Dân chủ không tách rời dân trí và dân sinh, bởi dân trí và dân sinh là nền tảng để thực hành dân chủ ở cấp độ tương ứng. Mục đích của việc xây dựng và thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở là thu hút quần chúng vào hoạt động chính trị, xây dựng đảng, chính quyền và đoàn thể, làm cho người dân có cuộc sống hạnh phúc và tiến bộ. Đem lại những ứng xử văn minh và lợi ích chính đáng cho người lao động là cách tốt nhất để các cơ quan, đơn vị, tổ chức làm cho nội dung dân chủ ở cơ sở có sức sống và mang lại những giá trị thiết thực.

Thứ tư, dân chủ đi đôi với kỷ cương trật tự, kỷ luật chống vi phạm pháp luật. Dân chủ gắn với pháp chế, trật tự xã hội cần thiết, nâng cao tính pháp quyền, tuân phủ pháp luật. Cần bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và xử sự của công dân. 

Thứ năm, cần gắn phát huy dân chủ với cải cách hành chính. Cải cách thể thế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cải cách tài chính công và hiện đại hóa hành chính - 06 nội dung trọng tâm này của cải cách hành chính đều nhằm hướng tới xây dựng một nền hành chính dân chủ, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân được tốt nhất.  

Những vấn đề đặt ra trước khi có Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 

Thứ nhất, thực hiện dân chủ ở cơ sở trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp đã có các văn bản luật như Bộ luật Lao động, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành các văn bản này để quy định rõ trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, người đứng đầu, người lao động và người sử dụng lao động trong thực hiện dân chủ. 

Thứ hai, theo nghiên cứu, đối với đối tượng ở cơ sở trong quan hệ giữa chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội với người dân tại cơ sở chủ yếu là dựa trên căn cứ là Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11. Vì vậy, cần giải quyết các nội dung điều chỉnh tránh xung đột pháp luật có thể dẫn đến triệt tiêu pháp luật trong các văn bản luật cùng điều chỉnh về dân chủ ở cơ sở(2). 

Thứ ba, xác định cơ chế để bảo đảm thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở thông qua trách nhiệm cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; vấn đề việc kiểm tra, giám sát của Nhân dân; điều kiện bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở; phát huy dân chủ với bảo đảm tính pháp quyền, kỷ cương xã hội; thể chế hóa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội “làm nòng cốt để nhân dân làm chủ”.

Thứ tư, thực hiện dân chủ gắn với tăng cường kỷ cương xã hội, trật tự kỷ luật để phòng, chống vi phạm pháp luật. Dân chủ gắn với pháp chế, trật tự kỷ cương xã hội, nâng cao tính pháp quyền, tuân phủ pháp luật. Bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và xử sự của công dân. Gắn với công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của các cấp chính quyền, thông qua hệ thống đánh giá, mức độ hài lòng của người dân đối với hoạt động dân chủ tại cơ sở. 

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Duy Thăng giới thiệu về Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở tại Họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố 06 luật đã được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ Tư (ngày 02/12/2022). Ảnh: VGP

Những điểm mới của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 

Một là, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (được thông qua tại Kỳ họp thứ Tư, Quốc hội khóa XV) bao gồm 91 điều quy định về nội dung, cách thức thực hiện dân chủ ở cơ sở, quyền và nghĩa vụ của công dân trong thực hiện dân chủ ở cơ sở và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở. Luật xác định phạm vi điều chỉnh việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập.

Hai là, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở là đạo luật cụ thể hóa phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. Cụ thể là:

- Những nội dung công khai để Nhân dân biết: các quy định liên quan đến nội dung và hình thức công khai thông tin để dân biết ở tất cả các loại hình cơ sở theo hướng cập nhật, bổ sung các quy định tương ứng trong các luật chuyên ngành có liên quan; bổ sung những quy định cụ thể khác nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác công khai thông tin. Cụ thể, bổ sung quy định lựa chọn hình thức công khai thông tin (Điều 13); trách nhiệm của Chủ tịch UBND và UBND cấp xã trong việc công khai thông tin (Điều 14); bổ sung quy định về trách nhiệm của người đứng đầu và của cơ quan, đơn vị trong việc công khai thông tin (Điều 48); bổ sung quy định về thời gian công khai (Điều 65); quy định về trách nhiệm của người đại diện có thẩm quyền của tổ chức có sử dụng lao động trong việc công khai thông tin (Điều 66). 

- Những nội dung Nhân dân bàn và quyết định. Tại thôn, tổ dân phố: nhân dân ở thôn, tổ dân phố bàn và quyết định những nội dung quy định tại Điều 15 của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở bằng một trong các hình thức sau: 1) Tổ chức cuộc họp của thôn, tổ dân phố với thành phần tham dự gồm trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, ban công tác Mặt trận Tổ quốc thôn, tổ dân phố, đại diện các hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố (Điều 18); 2) Phát phiếu biểu quyết, lấy ý kiến tới từng hộ gia đình (Điều 19); 3) Trường hợp pháp luật có quy định khác về việc tổ chức toàn thể cử tri trên địa bàn bàn, quyết định về một số nội dung cụ thể(3) thì thực hiện theo quy định đó (Điều 17). Về tỷ lệ đồng thuận để quyết định của cộng đồng dân cư có hiệu lực thi hành, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở đã phân định rõ một số trường hợp quyết định của cộng đồng dân cư (nhất là các quyết định liên quan đến các khoản đóng góp...) được thông qua khi có 2/3 trở lên hoặc trên 50% tổng số hộ gia đình tán thành để tăng tính đồng thuận trong cộng đồng dân cư, bảo đảm hiệu lực thực hiện các quyết định của cộng đồng dân cư có khả năng thực hiện trên thực tế (Điều 21). 

Tại cơ quan, đơn vị và tại tổ chức có sử dụng lao động: bổ sung mới quy định cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được bàn và quyết định trong thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị (Điều 49) và các nội dung người lao động bàn, quyết định trong thực hiện dân chủ ở tổ chức có sử dụng lao động (Điều 67). Các nội dung này được bàn và quyết định tại hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hoặc hội nghị người lao động. Trường hợp không thể tổ chức hội nghị thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị, sau khi đã thống nhất với Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị, quyết định việc gửi phiếu lấy ý kiến của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị hoặc người đại diện có thẩm quyền của tổ chức có sử dụng lao động quyết định việc gửi phiếu lấy ý kiến của toàn thể người lao động trong tổ chức sau khi đã thống nhất với ban đại diện của tổ chức đại diện người lao động ở cơ sở (Điều 68). 

- Những nội dung Nhân dân tham gia ý kiến: các quy định liên quan đến nội dung và hình thức Nhân dân tham gia ý kiến ở tất cả các loại hình cơ sở phù hợp với các luật chuyên ngành có liên quan; đồng thời bổ sung các quy định về trách nhiệm của Chủ tịch UBND, tập thể UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã trong việc tổ chức thực hiện để Nhân dân tham gia ý kiến (Điều 28), trách nhiệm tham gia của Nhân dân (Điều 29); trách nhiệm của người đứng đầu của công đoàn cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức thực hiện và trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong việc tích cực tham gia ý kiến (Điều 55); việc tổ chức đối thoại tại nơi làm việc (Điều 73); trách nhiệm của tổ chức có sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động ở cơ sở trong việc tổ chức thực hiện và trách nhiệm của đảng viên, công đoàn viên, người lao động trong việc tích cực tham gia ý kiến (Điều 74). 

- Những nội dung Nhân dân kiểm tra, giám sát: nội dung, hình thức Nhân dân kiểm tra, giám sát để phát huy được sự tham gia và vai trò của từng người dân trong việc kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, công chức và cơ quan công quyền, phát hiện, đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực, phát huy dân chủ, tăng tính phản biện và sức sáng tạo của Nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. Theo đó, người dân kiểm tra việc thực hiện dân chủ ở cơ sở đối với các nội dung mà Nhân dân đã bàn, quyết định và thực hiện giám sát việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở và việc thực hiện chính sách, pháp luật của chính quyền địa phương cấp xã, cán bộ, công chức cấp xã, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố (Điều 30), của người đứng đầu, ban lãnh đạo, người có thẩm quyền của cơ quan, đơn vị (Điều 56) và của tổ chức có sử dụng lao động, người đại diện có thẩm quyền, ban lãnh đạo, điều hành và những người có thẩm quyền khác của tổ chức có sử dụng lao động (Điều 75). Công dân có thể trực tiếp thực hiện việc kiểm tra, giám sát thông qua các hoạt động lao động, sản xuất, học tập, làm việc, công tác, sinh hoạt của công dân ở cộng đồng dân cư, cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động… hoặc thông qua Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng (ở xã, phường, thị trấn); thông qua hoạt động của các thiết chế đại diện (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân), qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội mà mình là thành viên cũng như các tổ chức tự quản khác tại cơ sở (các Điều 31, Điều 57, Điều 76). 

- Những nội dung người dân thụ hưởng: Theo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, người dân được Nhà nước và pháp luật công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, các quyền về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của Luật và quy định khác của pháp luật có liên quan; được thông tin đầy đủ về các quyền và lợi ích hợp pháp, chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội theo quy định của pháp luật và quyết định (nếu có) của chính quyền địa phương mà mình được hưởng; được thụ hưởng thành quả đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, chế độ an sinh xã hội và sự an toàn, ổn định của đất nước, của địa phương và ở cộng đồng dân cư nơi sinh sống; thành quả đổi mới, phát triển của cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động nơi làm việc; được tạo điều kiện để tham gia học tập, công tác, lao động, sản xuất, kinh doanh, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bản thân, gia đình và cộng đồng. 

Ba là, cơ chế bảo đảm việc thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Thể chế hóa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội “làm nòng cốt để Nhân dân làm chủ”(4) Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở đã quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Ban công tác Mặt trận Tổ quốc ở thôn, tổ dân phố, vai trò, trách nhiệm của công đoàn, tổ chức đại diện người lao động ở cơ quan, tổ chức, đơn vị trong từng việc, từng bước, từng khâu thực hiện dân chủ một cách thống nhất, xuyên suốt (các Điều 23, Điều 28, Điều 40, Điều 45, Điều 52, Điều 55, Điều 63, Điều 70, Điều 78, Điều 82); bổ sung các quy định về trách nhiệm của công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong thực hiện dân chủ ở cơ sở (Điều 24, Điều 29); quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 9) và việc xử lý vi phạm pháp luật trong thực hiện dân chủ ở cơ sở (Điều 10) nhằm bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định về việc yêu cầu các xã, phường, thị trấn, các cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động cần phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, tổ chức Công đoàn ở cơ sở đề xuất để Nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thống nhất thông qua quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động./.

----------------------

Ghi chú:

(1), (4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2021, tr.173.

(2) Toàn văn dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở đăng trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 28/8/2022.

(3) Như đối với các đề án về thành lập, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính...

 

PGS.TS Trần Thị Diệu Oanh - Học viện Hành chính Quốc gia    

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở - tiếp cận từ giác độ thể chế hóa quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ xã hội chủ nghĩa

Ngày đăng 30/12/2022
Kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở với tỷ lệ tán thành rất cao. Đạo luật này là cơ sở chính trị, pháp lý rất quan trọng để thể chế hóa quan điểm của Đảng ta và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, cũng như từng bước xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở

Ngày đăng 12/12/2022
Tại Quyết định số 1529/QĐ-TTg ngày 12/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ Tư. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ phân công Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (khoản 4 Điều 23; khoản 4 Điều 33; khoản 3 Điều 40; khoản 4 Điều 45; khoản 3 Điều 63 và khoản 4 Điều 81), theo trình tự thủ tục rút gọn, đảm bảo lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, trình vào tháng 4/2023.

Những nội dung Nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định

Ngày đăng 06/12/2022
Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (Luật số 10/2022/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 10/11/2022 đã quy định rõ những nội dung Nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp trong việc tổ chức để Nhân dân tham gia ý kiến.

Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở

Ngày đăng 02/12/2022
Chiều nay 02/12/2022, tại Hà Nội, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức Họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố 06 luật đã được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ Tư, trong đó có Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở với tỷ lệ tán thành rất cao

Ngày đăng 10/11/2022
Sáng nay 10/11/2022, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Tư, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội khóa XV đã biểu quyết thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, với 443/455 đại biểu Quốc hội có mặt, biểu quyết tán thành, chiếm 97,36%.