Hà Nội, Ngày 29/01/2023

Cơ sở pháp lý về chuyển đổi số và nâng cao nhận thức về môi trường số, văn hóa số cho đội ngũ công chức, viên chức của Bộ Nội vụ

Ngày đăng: 02/01/2023   10:15
Mặc định Cỡ chữ
Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu, khách quan trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt trong công tác quản lý nhà nước, để quản trị tốt và giải quyết thủ tục hành chính thuận tiện, giảm chi phí, thời gian… đòi hỏi các cơ quan, đơn vị cần quyết liệt, triển khai đồng bộ công tác chuyển đổi số. Trong thời gian qua, Bộ Nội vụ đã ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo, lãnh đạo công tác chuyển đổi số và bước đầu đạt được những kết quả quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước của Bộ, ngành Nội vụ.
Lễ trao giải Cuộc thi "Tìm hiểu về chuyển đổi số" do Bộ Nội vụ tổ chức ngày 10/10/2022.

Cơ sở pháp lý thực hiện công tác chuyển đổi số tại Bộ Nội vụ

Hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về chuyển đổi số. Mỗi quốc gia, tùy theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội có những quan niệm khác nhau về chuyển đổi số. Ở Việt Nam, chuyển đổi số được xác định là quá trình tiến hóa chuyển đổi nhận thức; hình thành văn hóa chấp nhận và thử nghiệm cái mới; áp dụng công nghệ số thay đổi căn bản, toàn diện phương thức quản lý, vận hành và tạo ra giá trị mới. Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của chuyển đổi số, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chủ trương, ban hành nhiều chính sách để thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số để tạo bứt phá về nâng cao năng suất lao động và chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cụ thể, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã xác định chuyển đổi số ở Việt Nam gồm ba trụ cột là chính phủ số; kinh tế số; xã hội số.

Triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, để góp phần thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số thành công, Bộ Nội vụ đã ban hành nhiều văn bản như: Quyết định số 151/QĐ-BNV ngày 25/02/2021 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số của Bộ Nội vụ giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 1198/QĐ-BNV ngày 18/11/2021 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt Đề án chuyển đổi số của Bộ Nội vụ giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030. Đề án nêu rõ công tác chuyển đổi số tại Bộ Nội vụ cần phải làm rõ mô hình, các mục tiêu và giải pháp chuyển đổi số của Bộ Nội vụ, bao gồm các giải pháp chung, giải pháp xây dựng Chính phủ số, chuyển đổi số trong các lĩnh vực của ngành.

Tại Nghị quyết số 21-NQ/BCSĐ ngày 28/7/2022 về chuyển đổi số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của Ban Cán sự đảng Bộ Nội vụ nêu rõ: “Chuyển đổi số của Bộ Nội vụ được triển khai trên cơ sở các nghị quyết và nguyên tắc của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, cấp ủy đảng các cấp và các cơ quan, đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ có nhận thức đầy đủ về nội dung, yêu cầu, tầm quan trọng của chuyển đổi số, coi công tác chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của từng cơ quan, đơn vị. Xác định rõ trách nhiệm của tập thể, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ để đẩy mạnh chuyển đổi số Bộ Nội vụ…”(1).

Nghị quyết số 21-NQ/BCSĐ nêu mục tiêu tổng quát: “Chuyển đổi hoạt động của Bộ Nội vụ trên môi trường số. Các hoạt động chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát và nghiệp vụ công tác của Bộ Nội vụ được thực hiện dựa trên dữ liệu và bằng công nghệ số, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý; đáp ứng yêu cầu thực hiện Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 phù hợp với điều kiện thực tiễn của Bộ Nội vụ nhằm phát triển Chính phủ điện tử hướng đến Chính phủ số của Bộ, từng bước tạo lập dữ liệu mở dễ dàng truy cập, sử dụng, tăng tốc độ xử lý công việc, đẩy mạnh sử dụng và lưu trữ văn bản số, giảm chi phí hoạt động, từng bước xây dựng môi trường làm việc hiện đại, tiết kiệm thời gian”(2). Theo đó, cần phát triển các ứng dụng, dịch vụ theo hướng sử dụng chung hạ tầng số, nền tảng số; sử dụng các công cụ phân tích thông minh để giúp Lãnh đạo Bộ kịp thời đưa ra các quyết sách chính xác trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực Nội vụ đồng thời cung cấp các dịch vụ theo phương thức số giúp người dân dễ dàng tiếp cận và sử dụng; tạo lập kho dữ liệu số ngành Nội vụ đáp ứng các yêu cầu về kết nối, chia sẻ tài nguyên thông tin và dữ liệu; tái cấu trúc, chuyển đổi hạ tầng công nghệ thông tin thành hạ tầng số thống nhất, ổn định, linh hoạt, ưu tiên áp dụng công nghệ điện toán đám mây.

Nâng cao nhận thức về chuyển đổi số cho đội ngũ công chức, viên chức Bộ Nội vụ

Hiện nay, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, công nghệ số, chuyển đổi số đã trở thành mục tiêu phát triển mang tính chiến lược. Tuy nhiên, việc thiếu kỹ năng số, ứng dụng công nghệ thông tin lạc hậu, thiếu tư duy chiến lược, trong đó “văn hóa số” ở các tổ chức, đơn vị… đang là những rào cản trong công tác chuyển đổi số. Vì vậy, cần có sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy, chiến lược ở mỗi công chức, viên chức, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý. Khái niệm “văn hóa số” được hiểu là: “Những quy tắc, ứng xử, chuẩn mực đạo đức của con người trong môi trường số”(3). 

Trong một khảo sát của tổ chức Capgemini với 1.700 các lãnh đạo cao cấp, nhà quản lý và nhân viên tại hơn 340 doanh nghiệp tại 08 quốc gia có nền công nghệ phát triển bậc nhất năm 2017, có tới 62% những người được khảo sát nhận định: “Văn hóa là rào cản số một trong chuyển đổi số”. Trong một nghiên cứu khác do McKinsey thực hiện khảo sát với 2.135 câu trả lời năm 2016, đa phần các câu trả lời đều nhận định rằng: “Văn hóa là rào cản lớn nhất đối với chuyển đổi số” và nếu các tổ chức tập trung vào việc chuyển đổi văn hóa và xây dựng năng lực trong quá trình chuyển đổi số sẽ có khả năng thành công cao gấp 2,5 lần. Như vậy, văn hóa có thể được coi là một trong những thách thức lớn đối với hiệu quả trong triển khai thực hiện chuyển đổi số (xem hình 1).

Hình 1: Các thách thức đối với kỹ thuật số

Trong cuốn “Công dân kỹ thuật số” của Isin và Ruppert (2015) lập luận rằng: chính thông qua các hành vi kỹ thuật số mà công dân kỹ thuật số ra đời. Với sự phát triển của internet, các cơ hội tham gia vào đời sống xã hội và chính trị đã tăng lên. Do đó, quyền của công dân kỹ thuật số có thể được định nghĩa đơn giản là “quyền tham gia vào xã hội trực tuyến”. Để hạn chế những rào cản của văn hóa đến cách mạng số, cần quan tâm đến quyền công dân kỹ thuật số; quyền kỹ thuật số; kiến thức kỹ thuật số cho công dân số. 

Kỳ vọng về cách mạng số sẽ tạo được sự bứt phá phát triển đất nước đã đặt ra yêu cầu thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số để tạo bứt phá về nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề cập đến các khái niệm “chuyển đổi số”, “kinh tế số”, “xã hội số”, và từ những khái niệm này đã hình thành các khái niệm mới như “văn hóa số”; “công dân số”.

Thời gian qua, công tác triển khai thực hiện chuyển đổi số tại Bộ Nội vụ, tuy đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhưng vẫn còn gặp một số khó khăn và chưa đem lại hiệu quả như kỳ vọng. Nguyên nhân là do nhận thức của một số công chức, viên chức trong việc ứng dụng công nghệ thông tin chưa bắt kịp với quá trình chuyển đổi số; chưa bổ sung, cập nhật, rà soát các văn bản hướng dẫn về chia sẻ dữ liệu, xác thực điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo đảm quyền riêng tư của cá nhân; chưa đổi mới tư duy phù hợp với chuyển đổi số, ngại thay đổi trong việc tiếp cận công nghệ mới. 

Để nâng cao nhận thức về chuyển đổi số, môi trường số cho đội ngũ công chức, viên chức của Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ, cần xây dựng môi trường “văn hóa số” trong thực thi công vụ. Cần xây dựng những quy tắc, quy định để mỗi công chức, viên chức Bộ Nội vụ nhận thức đúng về chuyển đổi số và hành động đúng trong môi trường số và có thể xem xét, đánh giá thông qua một số tiêu chí sau: Một là, có tinh thần, thái độ làm việc trong môi trường số (tính cập nhật, liên tục, đảm bảo thời gian làm việc); Hai là, chuẩn mực trong giao tiếp, ứng xử trong môi trường số (ngôn ngữ, tác phong phù hợp môi trường số…); Ba là, có đạo đức nghề nghiệp trong môi trường số (đảm bảo tính bảo mật thông tin, an ninh mạng trong môi trường số)...

Bên cạnh đó, trong thời gian tới cần thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm nhằm xây dựng văn hóa số tại Bộ Nội vụ, bao gồm: tăng cường đổi mới công tác truyền thông, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm thống nhất nhận thức về văn hóa số trong thực thi công vụ; hoàn thiện chính sách, pháp luật về văn hóa thực thi công vụ trong bối cảnh chuyển đổi số; nâng cao hiệu quả phối hợp của các tổ chức đoàn thể của Bộ trong công tác xây dựng văn hóa số; tổ chức đánh giá và xếp hạng về văn hóa số trong thực thi công vụ đối với công chức, viên chức Bộ Nội vụ; tăng cường hợp tác quốc tế và phát triển nghiên cứu khoa học về văn hóa số trong bối cảnh chuyển đổi số. Để chuyển đổi số thành công, trước hết cần thay đổi tư duy và nhận thức, thay đổi tác phong, lề lối làm việc phù hợp. Mỗi công chức, viên chức Bộ Nội vụ cần nhận thức được tầm quan trọng của công tác chuyển đổi số để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tiến trình xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. 

Mặt khác, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, học tập, nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, từng đảng viên và toàn bộ công chức, viên chức, người lao động về sự cần thiết, vai trò, ý nghĩa của chuyển đổi số, tăng cường tuyên truyền, phổ biến các sáng kiến, giải pháp và gương sáng điển hình trong chuyển đổi số của Bộ Nội vụ. Nguời đứng đầu các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về chuyển đổi số trong đơn vị, tiên phong đi đầu trong công tác chuyển đổi số để nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của mỗi đơn vị./.

-----------------------------

Ghi chú:

(1), (2) Ban Cán sự đảng Bộ Nội vụ, Nghị quyết số 21-NQ/BCSĐ ngày 28/7/2022 về chuyển đổi số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của Bộ Nội vụ.

(3) Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông và Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông, “Cẩm nang chuyển đổi số” (năm 2020).

 

TS Nguyễn Thị Trang - Viện Nghiên cứu Khoa học hành chính, Học viện Hành chính Quốc gia

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

ĐỔI MỚI - NHÂN TÀI - ĐOÀN KẾT - HÙNG CƯỜNG

Ngày đăng 16/01/2023
Năm 2022 đã khép lại và năm 2023, năm “bản lề” triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đang mở ra. Có thể khẳng định, với sự đoàn kết và nỗ lực vượt bậc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục đổi mới, chủ động vượt qua những thách thức to lớn, có mặt gay gắt, hiểm nghèo, trong cuộc tái thiết đất nước sau đại dịch COVID-19, chúng ta tiếp tục gặt hái được những thành tựu quan trọng, có tính chất toàn diện và với tốc độ tăng trưởng rất đáng ghi nhận.

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn mới

Ngày đăng 03/01/2023
Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương luôn được Đảng ta quan tâm lãnh đạo và chỉ đạo. Hội nghị lần sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 "về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới" (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đề ra mục tiêu và định hướng tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN). Bài viết trình bày quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, những kết quả đạt được, một số hạn chế và đề xuất một số giải pháp tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương theo tinh thần của Nghị quyết số 27-NQ/TW.

Một số ý kiến về quy định đối với tài liệu Mật trong Luật Lưu trữ

Ngày đăng 27/12/2022
Bên cạnh các giá trị tích cực là chủ yếu thì thực tế hiện nay cũng cho thấy, các quy định của Luật Lưu trữ nói riêng, pháp luật về lưu trữ, quản lý tài liệu mật nói chung chưa thực sự đầy đủ để tạo cơ sở, hành lang pháp lý cho cơ quan quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ thực thi và phát huy giá trị tài liệu hiệu quả, đặc biệt là các tài liệu về lịch sử, các số liệu trong các văn bản, tài liệu được đóng dấu chỉ các độ mật đã hết thời hạn nhưng chưa được giải mật. Bài viết trình bày, phân tích một số vấn đề còn thiếu thống nhất trong quy định về thời hạn giải mật, xác định hết thời hạn mật và đề xuất một số biện pháp hoàn thiện các quy định về tài liệu mật phù hợp với các quy định pháp luật liên quan.

Nâng cao ý thức, năng lực, trách nhiệm xã hội của cán bộ, đảng viên khi tham gia không gian mạng

Ngày đăng 27/12/2022
Hệ sinh thái chuyển đổi số, không gian mạng là thành tựu văn minh của nhân loại, nhưng đồng thời cũng có thể để lại những hậu quả xã hội nan giải đối với mục tiêu phát triển bền vững của các quốc gia, dân tộc. Tại Việt Nam, một trong những yêu cầu đặt ra là mỗi cán bộ, đảng viên phải là những người phải gương mẫu, thông thái và có trách nhiệm xã hội trong sử dụng không gian mạng. Trên cơ sở đó, để góp phần lan tỏa tính tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực khôn lường của không gian mạng đối với sự phát triển bền vững của xã hội.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về thanh niên và công tác thanh niên

Ngày đăng 20/12/2022
Tiếp tục triển khai thực hiện, bám sát định hướng, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, trọng tâm là Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng liên quan trực tiếp đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Trong đó, lĩnh vực thanh niên luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, xác định là một trong những nhiệm vụ, định hướng chiến lược rất quan trọng. Một số cơ chế, chính sách và thể chế quản lý nhà nước về thanh niên và công tác thanh niên cần tiếp tục hoàn thiện để xây dựng, phát huy tiềm năng, lợi thế của lực lượng thanh niên trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.