Hà Nội, Ngày 03/12/2022

Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế nền hành chính gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc tổ chức thi hành pháp luật

Ngày đăng: 02/10/2022   06:35
Mặc định Cỡ chữ
Trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề hoàn thiện chính sách, pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại càng có ý nghĩa rất quan trọng để thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. 
Ảnh minh họa

Quá trình cải cách hành chính và cải cách thể chế nền hành chính giai đoạn 2021-2030

Kết quả việc triển khai Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước gắn với tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2011-2020

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, Đảng ta đã xác định cải cách hành chính (CCHC) là một trong ba khâu đột phá để phát triển đất nước, góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả, tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước các cấp; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Quá trình triển khai Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2011-2020 đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần “tạo tiền đề, thúc đẩy sự phát triển đồng bộ trên nhiều lĩnh vực trong triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính các cấp từ Trung ương đến địa phương, nâng cao vị thế, năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế toàn cầu hóa”(1). 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nổi bật, công tác CCHC vẫn còn một số hạn chế nhất định. Trong đó, cải cách thể chế được đánh giá là chưa có sự đồng bộ trong CCHC với cải cách lập pháp, cải cách tư pháp. Thể chế, pháp luật vẫn còn chưa đồng bộ và thiếu nhất quán, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và dân chủ hoá đời sống xã hội trong điều kiện mới. Công cuộc cải cách luôn “đụng chạm” đến lợi ích của không ít cá nhân và lợi ích nhóm, lợi ích ngành khiến cho việc thực hiện luôn gặp khó khăn, cản trở…; thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp, đặc biệt là các thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, xây dựng… Cải cách thủ tục hành chính vẫn chưa thực sự là động lực mạnh mẽ cho cải thiện môi trường kinh doanh. Điều kiện kinh doanh chậm được cắt giảm(2).

Bên cạnh đó, việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng trong một số lĩnh vực còn chậm, chưa đầy đủ; hệ thống pháp luật vẫn bị đánh giá là cồng kềnh, phức tạp, tính dự báo và ổn định chưa cao; chưa có khả năng thích nghi, ứng biến với những đòi hỏi phong phú từ thực tiễn... hoạt động xây dựng pháp luật còn một số hạn chế về năng lực phân tích, hoạch định chính sách; việc xây dựng chính sách, đánh giá tác động, lấy ý kiến góp ý chưa mang lại hiệu quả. Việc tổ chức thi hành pháp luật chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực sự gắn kết với công tác xây dựng pháp luật(3). Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Hệ thống pháp luật còn một số quy định chưa thống nhất, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn. Chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ cương, phép nước có nơi còn bị xem nhẹ, xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe. Cải cách hành chính, cải cách tư pháp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển đất nước...”. Những hạn chế, yếu kém liên quan đến công tác giám sát, phản biện xã hội trong xây dựng và thực thi pháp luật, chính sách hiệu quả chưa cao, thực thi pháp luật chưa hiệu quả, chấp hành pháp luật có nơi chưa nghiêm, việc giám sát chưa chặt chẽ, chi phí tuân thủ pháp luật còn cao… Có thể nói, khi việc chấp hành pháp luật, xử lý vi phạm chưa nghiêm, chưa kịp thời, tổ chức thực thi pháp luật chưa hiệu quả sẽ ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả quản lý nhà nước và tình hình phát triển chung của kinh tế - xã hội.

Những nội dung cơ bản của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030

Về yêu cầu: ngày 15/7/2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 76/NQ-CP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 với quan điểm quán triệt chủ trương của Đảng về CCHC là một trong những đột phá phát triển đất nước; gắn CCHC đồng bộ với cải cách lập pháp, cải cách tư pháp và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chương trình xác định CCHC phải xuất phát từ lợi ích của người dân, doanh nghiệp; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo đánh giá chất lượng phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước các cấp. Ngoài ra, trước tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Chương trình cũng xác định rõ nhiệm vụ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, thực hiện chuyển đổi số, tận dụng có hiệu quả thành tựu, tiến bộ khoa học và công nghệ.

Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 còn hướng đến mục tiêu tiếp tục xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, có năng lực kiến tạo phát triển, liêm chính, phục vụ Nhân dân, trên cơ sở những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. 

Về nội dung: Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021-2030 tập trung vào 06 nội dung cơ bản là: cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; cải cách chế độ công vụ; cải cách tài chính công và xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Trọng tâm CCHC trong 10 năm tới là cải cách thể chế, trong đó tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế của nền hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật...

Đối với vấn đề cải cách thể chế, Chương trình xác định: tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế của nền hành chính nhà nước, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực; nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng bộ, hiện đại, hội nhập, trọng tâm là thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là thị trường quyền sử dụng đất, khoa học, công nghệ; tạo được bước đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để thúc đẩy phát triển đất nước; tổ chức thi hành pháp luật nghiêm minh, hiệu quả, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cá nhân, tổ chức và toàn xã hội. 

Nội dung cải cách thể chế xác định các mục tiêu cụ thể theo 02 giai đoạn, trong đó đến năm 2025: cơ bản hoàn thiện thể chế của nền hành chính nhà nước, trọng tâm là thể chế về tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, công chức, viên chức; tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi; hoàn thiện khung khổ pháp lý về chuyển đổi số, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Đến năm 2030: là giai đoạn hoàn thiện toàn diện, đồng bộ và vận hành hiệu quả thể chế nền hành chính hiện đại, thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo đột phá trong tư duy huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để thúc đẩy phát triển đất nước. 

Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế cải cách hành chính gắn với nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật thời gian tới

Một là, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của các cấp ủy đảng nhằm tạo sự đột phá trong nhận thức và hành động đối với CCHC và tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực này; tăng cường phổ biến, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng; quán triệt và chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030, đặc biệt coi trọng nhiệm vụ hoàn thiện thể chế trong số các nhiệm vụ cụ thể của CCHC. Trong đó, coi trọng và phát huy vai trò của của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị, xã hội, người dân đối với công tác hoàn thiện thể chế, công tác CCHC. 

Hai là, hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách pháp luật về tổ chức bộ máy hành chính, chế độ công vụ trên cơ sở các nội dung được quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức… nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, theo hướng tinh gọn và gắn với tinh giản biên chế; công khai, minh bạch, quản lý thống nhất, hiệu lực, hiệu quả. 

Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền, ủy quyền và nâng cao hiệu quả phối hợp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; tập trung làm rõ mối quan hệ cũng như phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa Trung ương - địa phương, củng cố, hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương; đồng thời, phát huy tính chủ động, sáng tạo, đề cao tinh thần trách nhiệm của từng cấp gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước. Xây dựng nền hành chính hiện đại, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tính chuyên nghiệp cao, năng động, hội nhập, tiên phong trong cải cách và ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại; có năng lực sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, tận tụy phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Nghiên cứu, sắp xếp và đổi mới mô hình hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công do Nhà nước cung cấp, làm tốt vai trò “phục vụ” bên cạnh vai trò “quản lý” của Nhà nước. Chú trọng việc thí điểm chuyển giao một số dịch vụ công mà Nhà nước không nhất thiết phải đảm nhiệm; thúc đẩy việc cung ứng dịch vụ công theo cơ chế thị trường, khuyến khích xã hội hóa.

Ba là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm triển khai hiệu quả Nghị quyết số 76/NQ-CP của Chính phủ. Cụ thể là: nghiên cứu hoàn thiện thể chế về quyền sở hữu và thể chế phát triển các thành phần kinh tế cần đặt trong bối cảnh chung của việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta theo tiêu chuẩn hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế; bảo đảm tính cạnh tranh, sự công bằng và bảo đảm tối đa quyền sở hữu cũng như các quyền khác đối với tài sản, quyền tự do kinh doanh, tự do giao kết hợp đồng; hoàn thiện thể chế pháp luật về đất đai, nhà ở; đổi mới các chính sách quản lý đất đai để khuyến khích và tạo điều kiện tích tụ đất nông nghiệp, phát triển mạnh thị trường quyền sử dụng đất. 

Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Hoàn thiện pháp luật để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, bảo đảm công khai, minh bạch và khắc phục tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, tham nhũng, lãng phí. Đổi mới các chính sách quản lý đất đai để khuyến khích và tạo điều kiện tích tụ đất nông nghiệp, phát triển mạnh thị trường quyền sử dụng đất. Đổi mới và thực hiện chế độ quản lý mục đích sử dụng đất nông nghiệp một cách linh hoạt hơn; bãi bỏ các giới hạn về đối tượng được nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, tăng thời hạn giao đất, cho thuê đất nông nghiệp. Công khai, minh bạch việc quản lý, sử dụng đất công; tăng cường giám sát, quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất giao cho các cộng đồng và doanh nghiệp nhà nước”(4).

Bốn là, nghiên cứu hoàn thiện thể chế về thu hút đầu tư, huy động, sử dụng và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong xã hội, giải phóng sức sản xuất, sức lao động; thực hiện phương thức, công cụ quản lý nhà nước chủ yếu bằng điều tiết gián tiếp, tăng cường quản lý bằng hình thức “quản trị rủi ro”, tăng hậu kiểm - giảm tiền kiểm; giảm tối đa rủi ro pháp lý và chi phí tuân thủ đối với người dân và doanh nghiệp; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết song song với đơn giản hóa các quy định về thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ pháp luật của người dân và doanh nghiệp. 

Năm là, xây dựng, hoàn thiện khung khổ pháp lý, thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, kinh tế số, sản xuất thông minh, mô hình sản xuất kinh doanh mới, thương mại điện tử… theo nội dung Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư(5) để tạo cơ chế điều chỉnh linh hoạt, thông thoáng nhằm phát huy năng lực sáng tạo của các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực này; đồng thời, việc hoàn thiện pháp luật phải hướng tới giảm thiểu các rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp khởi nghiệp bởi hoạt động khởi nghiệp gắn liền với yếu tố sáng tạo, cái mới, mô hình chưa từng có tiền lệ; nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới đã xây dựng và vận hành “khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát”.

Đẩy mạnh xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số, trong đó tập trung phát triển hạ tầng số phục vụ các cơ quan nhà nước một cách tập trung, thông suốt; thiết kế đồng bộ, xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống tích hợp, kết nối liên thông các cơ sở dữ liệu lớn, nhất là dữ liệu về dân cư, y tế, giáo dục, bảo hiểm, doanh nghiệp, đất đai, nhà ở…; nghiên cứu ban hành Luật Chính phủ điện tử hoặc Luật Chính phủ số, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về định danh và xác thực điện tử; phát triển hạ tầng số và dữ liệu số quốc gia.

Sáu là, nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật theo hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình lập pháp, lập quy theo hướng chặt chẽ, khoa học, hiện đại, chuyên nghiệp; tăng cường hoạt động dự báo và năng lực dự báo trong quá trình hoạch định, phân tích, đánh giá chính sách… bảo đảm tính minh bạch, ổn định và dự đoán được; kịp thời ban hành các văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, khắc phục tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết vốn làm chậm quá trình đưa luật, pháp lệnh vào thực tiễn cuộc sống; nâng cao chất lượng công tác thẩm định, thẩm tra dự thảo, dự án văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, cần tăng cường kiểm tra, rà soát và kịp thời phát hiện, kiến nghị và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn. 

Bảy là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi pháp luật, chú trọng đến nhiệm vụ tổ chức thi hành pháp luật, đặt trọng tâm vào công tác đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi pháp luật; đồng thời, đảm bảo sự gắn kết hài hòa, cân đối giữa xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật. Theo đó, cần xác định nguyên tắc không “cắt khúc” trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; các cơ quan có nhiệm vụ thực thi pháp luật cần tiếp tục quán triệt sâu sắc việc chấp hành và thực hiện nghiêm Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành. 

Tăng cường kiểm tra việc tổ chức thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt, tập huấn về chính sách, pháp luật liên quan đến công tác CCHC; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa công tác phổ biển, giáo dục pháp luật; chú trọng đa dạng hóa nội dung, hình thức, đồng thời, có biện pháp chấn chỉnh, xử lý nghiêm đối với những tổ chức, cá nhân có hành vi tham nhũng, tiêu cực. Theo dõi thi hành pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật; tăng cường năng lực phản ứng chính sách, kịp thời xử lý các vấn đề mới phát sinh; quan tâm, chú trọng phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp về những vướng mắc, hạn chế của hệ thống pháp luật để kịp thời có phương án đề xuất sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tiễn. Cần nghiên cứu các cơ chế, hình thức linh hoạt, phù hợp để tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của người dân, doanh nghiệp trong quá trình tổ chức thực thi pháp luật; quan tâm giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật. Ngoài ra, thực hiện hiệu quả, đa dạng hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa công tác phổ biển, giáo dục pháp luật.

Tám là, quan tâm, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ liên quan đến việc xây dựng và tổ chức thực thi pháp luật. Theo đó, cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn và bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức; tăng cường việc đầu tư kinh phí, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại cho hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý, hoạt động xây dựng pháp luật./.

---------------------

Ghi chú:

(1),(2) Tham luận của đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ tại Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng, Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và xây dựng nền hành chính Nhà nước góp phần đẩy mạnh đổi mới, sáng tạo, phát triển nhanh và bền vững đất nước.

(3) Phan Chí Hiếu, Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Tạp chí Cộng sản, số 979 (tháng 12/2021).

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2021, tr.238.

(5) Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhấn mạnh: “Sớm ban hành khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới hình thành từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Quy định rõ phạm vi không gian và thời gian thử nghiệm. Nghiên cứu, xây dựng các khu thử nghiệm dành cho doanh nghiệp công nghệ theo mô hình tiên tiến của thế giới. Thực hiện định danh, công nhận, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với các sản phẩm, công nghệ, mô hình kinh doanh mới”.

 

TS Lê Thành Long - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp 

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Hoàn thiện chế định đối với các tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong Bộ luật Hình sự đáp ứng yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ

Ngày đăng 14/11/2022
Kiểm soát quyền lực nhà nước là vấn đề mang tính tất yếu khách quan, có đối tượng là hành vi công vụ của cán bộ, công chức và mục đích là tránh việc họ lợi dụng quyền lực làm trái pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Kiểm soát quyền lực có nhiều cơ chế, phương thức, cơ chế pháp lý và mức độ khác nhau, trong đó kiểm soát quyền lực bằng pháp luật hình sự là mức độ kiểm soát cao nhất; có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm do người lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ra, mặt khác áp dụng chế tài hình sự nhằm khôi phục những thiệt hại do tội phạm này gây ra. 

Cải cách chính sách tiền lương phải toàn diện, đảm bảo tiền lương thực sự là đòn bẩy để tăng năng suất lao động, hiệu quả công tác

Ngày đăng 16/11/2022
Trao đổi với Tạp chí Tổ chức nhà nước về các giải pháp cải cách chính sách tiền lương trong thời gian tới, TS Bùi Sỹ Lợi, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, đại biểu Quốc hội các khóa XI, XII, XIII, XIV cho rằng, việc cải cách tiền lương để tạo động lực làm việc cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách.

Đổi mới phương thức hoạt động của chính quyền địa phương ở xã, thị trấn theo hướng hiện đại, hiệu quả

Ngày đăng 08/11/2022
Hoạt động của chính quyền địa phương ở xã, thị trấn được thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và sự phân cấp, phân quyền của chính quyền cấp trên. Trên thực tế, hiện nay phương thức hoạt động của chính quyền địa phương ở xã, thị trấn còn nhiều bất cập, nhất là vai trò và trách nhiệm của chính quyền xã, thị trấn trong thực hiện trách nhiệm giải trình, thu hút sự tham gia của người dân, tăng cường công khai, minh bạch và chất lượng cung ứng dịch vụ công trên địa bàn. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của chính quyền địa phương ở xã, thị trấn để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.

Bàn về khái niệm "Văn hóa giao tiếp trong công vụ" từ giác độ tiếp cận pháp luật

Ngày đăng 02/11/2022
Trên phương diện nghiên cứu, các khái niệm “Văn hóa công sở” và “Văn hóa công vụ” được sử dụng khá phổ biến, tuy vậy nội hàm của hai khai niệm này chưa được nhận thức thống nhất, rõ ràng. Trên phương diện pháp luật, cụ thể là Luật Cán bộ, công chức (Luật CBCC) sử dụng khái niệm “Văn hóa giao tiếp” với hai nội dung: giao tiếp ở công sở và giao tiếp với Nhân dân. Cùng với các quy định của Luật CBCC, trong thời gian qua các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương, địa phương đã ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, đơn vị, địa phương. Vậy “Văn hóa giao tiếp trong công vụ” có gì tương đồng, khác biệt với “Văn hóa công sở”, “Văn hóa công vụ”, “Ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức”? Nhằm góp phần bổ sung về lý luận và cụ thể hóa các quy định trong thực hiện Luật CBCC, bài viết bàn về khái niệm “Văn hóa giao tiếp trong công vụ” với ý nghĩa là quan hệ pháp luật.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đối với kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ

Ngày đăng 17/10/2022
Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”(1). Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(2).