Hà Nội, Ngày 11/08/2022

Phong cách lãnh đạo sâu sát thực tiễn, dám nghĩ, dám làm của đồng chí Võ Chí Công

Ngày đăng: 06/08/2022   10:58
Mặc định Cỡ chữ
Với 100 năm tuổi đời, 76 năm tuổi Đảng, đồng chí Võ Chí Công đã phấn đấu trọn đời và có những cống hiến hết sức to lớn đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Nhân dân ta. Đồng chí là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, mẫu mực, trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công (07/8/1912 - 07/8/2022). TS Trần Nghị - Tổng Biên tập Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ có bài viết "Phong cách lãnh đạo sâu sát thực tiễn, dám nghĩ, dám làm của đồng chí Võ Chí Công".
Đồng chí Võ Chí Công thăm hỏi bà con huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam năm 1989. Ảnh: Tư liệu

Từ truyền thống quê hương Quảng Nam, vùng đất “địa linh”, nơi phát xuất những tài danh, hào kiệt của đất nước

Tỉnh Quảng Nam nằm ở giữa miền Trung Việt Nam, phía bắc Quảng Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng, phía tây giáp nước Lào, phía nam giáp Quảng Ngãi, phía đông giáp biển Đông, ngoài khơi có đảo Cù Lao Chàm với ngư trường rộng lớn. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Quảng Nam một địa thế thuận lợi với những ngọn núi cao: núi Lum Heo cao 2.045m, núi Tion cao 2.032m, núi Gole - Lang cao 1.855m (huyện Phước Sơn). Vùng đất thấp ven biển là đồng bằng châu thổ, chiếm gần 25% diện tích đất của tỉnh tập trung ở phía đông, trải dài hai bên quốc lộ. Các con sông lớn đều chảy từ dãy Trường Sơn ra biển Đông: sông Vu Gia, sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ. Hai dòng sông Thu Bồn và Tam Kỳ vừa tô điểm cho Quảng Nam vừa là đường giao thông rất tiện lợi. 

Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển (chính sử chép vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông lấy đất Hóa Châu đặt làm “Quảng Nam thừa tuyên”, chia làm ba phủ Thăng, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn - tức tỉnh Quảng Nam, tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Bình Định ngày nay). Từ đầu Triều Nguyễn, Quảng Nam đã trở thành trung tâm văn học được coi là đứng thứ hai của đất nước sau kinh thành Thăng Long - Hà Nội. Quảng Nam là nơi phát xuất của nhiều danh nhân khoa bảng, mà tiêu biểu là Khoa thi năm Mậu Tuất (1898), cả nước có 18 vị tân khoa thì riêng Quảng Nam đã có 05 vị (gồm 03 tiến sĩ và 02 phó bảng). Ðó là một điều hiếm thấy trong lịch sử khoa cử của nước ta - kể từ các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn có tất cả 187 khoa thi tiến sĩ với 2971 người đậu tiến sĩ nhưng chưa có khoa nào có 05 người đồng hương cùng đậu tiến sĩ và phó bảng. Vì thế mà Vua Thành Thái và triều Nguyễn đã ban danh hiệu Ngũ Phụng Tề Phi để khen tặng 03 tiến sĩ và 02 phó bảng người Quảng Nam của Khoa thi năm Mậu Tuất (1898), đó là các ông Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Ngô Lý và Dương Hiển Tiến. Ngoài ra khoa Tân Sửu (1901), Quảng Nam còn có 04 vị đỗ đồng khoa phó bảng là các ông Nguyễn Ðình Hiến, Nguyễn Mậu Hoán, Võ Sỹ và Phan Chu Trinh. Bốn vị này được mệnh danh là Tứ Kiệt. Những danh hiệu Ngũ Phụng Tứ Phi hay Tứ Kiệt nói lên tài học và sự vinh hiển đậu đạt của các danh sĩ Quảng Nam, người Quảng Nam luôn lấy đó làm vinh dự và noi gương. 

Tinh túy của học thuật của người Quảng Nam là cái học thấu suốt, cách vật trí tri, học để hiểu biết thêm ý nghĩa và mục đích của học vấn, học đi đôi với hành, học để phát huy đạo đức; đặc biệt là luôn tìm cách phản biện khoa học mọi vấn đề để tìm ra chân lý, là điều mà trong nhân dân hay gọi bằng lối nói dân dã là “Quảng Nam hay cãi”. Và bản chất khoa học của đặc điểm “hay cãi” này được chính đồng chí Võ Chí Công lý giải khi được Bác Hồ hỏi “Bác nghe Quảng Nam hay cãi có phải không?”; khi đó, đồng chí trả lời Bác: “Khi họ (người Quảng Nam) làm một việc gì thì thường hỏi lại cho rõ nội dung việc ấy rồi tích cực làm”(1). Lịch sử cũng ghi nhận và khẳng định các danh sĩ, hào kiệt Quảng Nam luôn là những người yêu nước thương dân. Ra làm quan, họ là những người thanh liêm nổi tiếng; gặp thời loạn ly, đất nước bị ngoại xâm, họ tích cực chống giặc bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng từ quan để tham gia vào các phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Trong quá trình lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam từ các phong trào Cần Vương, Ðông Du, Duy Tân… và sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, các danh sĩ, nhà cách mạng tiêu biểu của quê hương Quảng Nam đã đóng góp cả cuộc đời của mình cho sự nghiệp chung của dân tộc, tiêu biểu như Tổng đốc Hoàng Diệu, Cụ Phan Châu Trinh… 

Với truyền thống vẻ vang, hào hùng đó, không khó hiểu khi trong lịch sử Việt Nam thời hiện đại, Quảng Nam cũng là nơi đóng góp cho cách mạng Việt Nam nhiều chí sĩ yêu nước, nhà hoạt động cách mạng, nhiều vị lãnh đạo xuất sắc, tiêu biểu của Đảng và Nhà nước, như Cụ Huỳnh Thúc Kháng, nguyên Quyền Chủ tịch nước; đồng chí Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam), nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ; đồng chí Võ Chí Công - Chủ tịch Hội đồng Nhà nước; các đồng chí Nguyễn Thị Bình, Đặng Thị Ngọc Thịnh - nguyên Phó Chủ tịch nước; đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch nước - nguyên Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021; các đồng chí nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Mai Thúc Lân, Trương Quang Được; đồng chí Phan Diễn, nguyên Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng… Nếu như tỉnh Vĩnh Long tự hào là quê hương của hai Thủ tướng Chính phủ (đồng chí Phạm Hùng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nhiệm kỳ 1987-1992) và đồng chí Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Chính phủ từ năm 1991 đến năm 1997; thì Quảng Nam cũng rất đỗi tự hào khi có 3 người con ưu tú của vùng đất địa linh, nhân kiệt này đã và đang giữ cương vị Chủ tịch nước (Cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn từ 31/5 đến 21/10/1946; đồng chí Võ Chí Công giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Nhà nước từ năm 1987 đến năm 1992; và đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, nguyên Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021, giữ cương vị Chủ tịch nước từ năm 2021 đến nay). 

Là nhà lãnh đạo thứ tư giữ cương vị Chủ tịch nước (Chủ tịch Hội đồng Nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 1980), giai đoạn từ năm 1987 đến năm 1992, đồng chí Võ Chí Công là một trong những lãnh tụ tiền bối tiêu biểu của cách mạng Việt Nam “Đồng chí Võ Chí Công là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí luôn thể hiện phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng, làm hết sức mình để giữ gìn và tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân; sống giản dị, khiêm tốn, được đồng chí, đồng bào tin yêu, quý mến; được bạn bè quốc tế trân trọng”(2). Cả cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Võ Chí Công là tấm gương tiêu biểu, mẫu mực về phong cách lãnh đạo sâu sát thực tiễn, dám nghĩ, dám làm.

Đến những hiệu quả to lớn từ phong cách lãnh đạo sâu sát thực tiễn, dám nghĩ, dám làm của đồng chí Võ Chí Công

Đồng chí Võ Chí Công (tên khai sinh là Võ Toàn, bí danh Năm Công) sinh ngày 07/8/1912 tại làng Khương Mỹ, xã Tam Xuân, huyện Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam). Đồng chí là một trong những nhà lãnh đạo cao nhất của cách mạng miền Nam trong giai đoạn 21 năm đấu tranh thống nhất đất nước (1954-1975), như Bí thư khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu V, Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam); là một trong 4 nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta những năm đầu thời kỳ Đổi mới (Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo). Với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, đồng chí đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều phần thưởng cao quý khác... Trong quá trình hoạt động cách mạng, đặc biệt là trong vai trò người lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu, một trong những đặc điểm nổi bật của đồng chí Võ Chí Công là phong cách lãnh đạo sâu sát thực tiễn, dám nghĩ, dám làm. Phong cách đó được thể hiện rõ nhất ở những thời điểm đồng chí được Đảng và Nhà nước ta giao giữ những trọng trách vừa lớn lao, vừa ở vào những tình thế cách mạng vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi người lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định và sâu sát thực tiễn thì mới đưa ra được những quyết định vừa quyết đoán, vừa đúng đắn và sáng tạo. 

Có thể nói đó là phong cách lãnh đạo vừa mang đậm phẩm chất, cá tính của đồng chí Võ Chí Công, một người con ưu tú của quê hương Quảng Nam anh dũng kiên cường, địa linh nhân kiệt; vừa phản ánh những tố chất thiên bẩm của một nhà lãnh đạo cách mạng luôn sâu sát thực tiễn, hết lòng vì dân, vì nước, vì sự nghiệp cách mạng, như chính đồng chí bộc bạch “Người chiến sĩ cộng sản phải luôn rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, phải có tinh thần cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải luôn luôn đặt lợi ích cách mạng lên trên hết, trước hết như Bác Hồ đã dạy. Có như vậy mới được nhân dân tin yêu, kính trọng”(3).

Ngay từ năm 1945, khi là người lãnh đạo chủ chốt trong Ủy ban bạo động giành chính quyền của tỉnh Quảng Nam (phụ trách Trưởng ban khởi nghĩa giành chính quyền)(4), đồng chí Võ Chí Công đã vạch kế hoạch chỉ đạo khởi nghĩa ở các phủ, huyện trước rồi mới đến thị xã Hội An, là nơi tập trung đông cơ quan đầu não và lực lượng bảo vệ của địch. Tuy nhiên, khi đến Hội An, nghe Ủy ban lãnh đạo khởi nghĩa của thị xã báo cáo, bằng nhạy cảm, nhạy bén của nhà hoạt động cách mạng sâu sát thực tiễn, nhận định tình hình thực tế tại Hội An đã chín muồi, có đủ điều kiện giành thắng lợi, đồng chí Võ Chí Công đã thay đổi quyết định và trực tiếp chỉ đạo Ủy ban khởi nghĩa giành chính quyền thành công ngay trong đêm 17 rạng sáng ngày 18/8/1945. Với phong cách lãnh đạo sâu sát thực tiễn, dám nghĩ, dám làm, quyết đoán, bằng quyết định đúng đắn, sáng suốt đó của đồng chí Võ Chí Công mà thành công của khởi nghĩa giành chính quyền trước ở Hội An đã đem lại nhiều kinh nghiệm thực tế cho việc khởi nghĩa giành chính quyền thành công ở các phủ, huyện khác trong tỉnh Quảng Nam.

Một trong những việc thể hiện phong cách sâu sát thực tiễn của đồng chí Võ Chí Công là sau hơn một tháng dẫn đầu đoàn cán bộ Khu 5 ra miền Bắc học tập kinh nghiệm thực hiện chính sách cải cách ruộng đất (tháng 3/1953), khi được Bác Hồ tiếp và hỏi về kết quả nghiên cứu của đoàn, đồng chí đã thẳng thắn trả lời Bác “Đoàn đã thu được những kinh nghiệm tốt trong việc chỉ đạo thực hiện chính sách và xin phép Bác là đoàn cũng đã phát hiện một số sai sót ở một số nơi, như việc phân định giữa địa chủ và phú nông, việc xác định tính chất bóc lột đối với nông dân chưa được nhất trí đồng tình giữa cấp ủy đảng với đoàn ủy và nhân dân nên việc thực hiện có ảnh hưởng đến sự đoàn kết nông thôn ở nơi ấy”. Điều này được chính Bác Hồ khen ngợi: “Đó là kết quả tốt trong việc nghiên cứu thực tế của các chú. Những sai sót các chú phát hiện, Trung ương đã thấy và đang tích cực sửa chữa, việc tốt thì tiếp thu, việc sai phải sửa vì mục đích cách mạng và lợi ích của nhân dân. Những kinh nghiệm tốt ở nơi này chưa chắc đã tốt ở nơi khác vì thực tế tình hình ở mỗi nơi khác nhau nên vận dụng những kinh nghiệm ấy phải sáng tạo phù hợp với thực tiễn mới đem lại kết quả tốt. Các cấp ủy đảng lãnh đạo cách mạng, khi quyết định một chủ trương chính sách gì phải phù hợp với tình hình thực tiễn, đem lại lợi ích cho cách mạng và lợi ích của nhân dân, được Đảng và nhân dân tin thì việc thực hiện mới tốt được”... Chính nhờ phát hiện những thiếu sót, khuyết điểm trong thực hiện chính sách cải cách ruộng đất nên việc vận dụng vào thực tiễn Khu 5 sau đó đã không chỉ tránh được những hậu quả đáng tiếc, mà còn đem lại kết quả tích cực, như đồng chí Võ Chí Công kể lại “Khi trở về Khu 5, tôi truyền đạt nội dung trên với Khu ủy và các cấp ủy đảng trong Khu, tất cả đều vui mừng tiếp thu ý kiến của Bác. Lời dạy của Bác đã soi sáng cho Khu ủy quyết định chủ trương đúng đắn là khu 5 không tiến hành cải cách ruộng đất nữa mà triệt để giảm tô, giảm tức, được Trung ương đồng ý phù hợp với tình hình thực tế. Toàn Đảng, toàn dân đồng tình và thực hiện thành công lớn”(5).

Cũng với phong cách sâu sát thực tiễn, dám nghĩ, dám nói thẳng, nói thật, quyết đoán, khi giữ cương vị người đứng đầu Khu ủy Khu 5, trăn trở trước thiệt hại nặng nề của phong trào cách mạng do chính quyền Mỹ - ngụy vi phạm Hiệp định Giơnevơ, ra sức phá hoại, dùng bạo lực đàn áp nhân dân, liên tiếp bắt bớ giết hại cán bộ, đảng viên, trả thù những người kháng chiến cũ, đe dọa những gia đình có người đi tập kết gây nhiều thiệt hại cho phong trào đấu tranh cách mạng trong Khu 5..., đồng chí Võ Chí Công đã báo cáo, xin phép Khu ủy ra Hà Nội xin ý kiến chỉ đạo của Trung ương. Khi gặp Bộ Chính trị và Bác Hồ, đồng chí đã khẳng định “Nếu không có phương pháp đấu tranh mới hiệu quả thì phong trào cách mạng bị thiệt hại càng nặng nề hơn, không bảo tồn cũng không phát triển được lực lượng cách mạng”; “… đề nghị với Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Bác cho phép thay đổi phương pháp đấu tranh theo nguyên tắc: Kẻ thù dùng bạo lực đàn áp quần chúng đấu tranh cách mạng thì quần chúng phải dùng bạo lực cách mạng để chống trả. Cụ thể là phải xây dựng lực lượng tự vệ dần dần phát triển lực lượng vũ trang đấu tranh cùng với đấu tranh chính trị mới bảo vệ và phát triển được lực lượng để thực hiện được mục tiêu cách mạng”. Ý kiến này của đồng chí Võ Chí Công sau đó được Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Bác Hồ đồng ý vì phù hợp với Đề cương cách mạng miền Nam; đồng chí Võ Chí Công được Bác Hồ đề nghị ở lại miền Bắc cùng Trung ương tham gia xây dựng Nghị quyết. Trong Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 26, tr.462-464 thể hiện rất rõ nội dung này như sau: 

Điện mật của Ban Bí thư (Gửi XUNB1)

Số 168, ngày 10 tháng 8 năm 1961

Góp ý về nội dung Hội nghị lần thứ nhất của Trung ương Cục miền Nam  

Phúc CĐS2) 104/NB ngày 11-7-1961 về nội dung Hội nghị Trung ương Cục, Ban Bí thư có một số ý kiến sau đây: 

Vì đây là cuộc họp đầu tiên của TWC3) nên lần này nhằm làm cho TWC nắm được tình hình chung của toàn miền Nam, quán triệt những nghị quyết, chỉ thị của TW gần đây đối với tình hình miền Nam, đặt phương hướng công tác chung cho toàn miền Nam và tổ chức, phân công trong TWC, định ra việc tổ chức các cơ quan của TWC, phân định các chiến trường và bố trí công tác cho những cán bộ chủ chốt, thực hiện thống nhất lãnh đạo... Do đó nội dung hội nghị nên gồm các điểm chính sau đây: 

1- Báo cáo tình hình chung của toàn miền Nam và nêu lên những đặc điểm của cả Khu V và Nam Bộ nhằm làm cho TWC thấy rõ được tình hình của hai vùng để có cơ sở nhận định tình hình và đề ra phương hướng công tác). 

.......................................................................................................................

Đến tháng 01/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II họp lần thứ 15, ban hành Nghị quyết số 15 về cách mạng miền Nam, mở ra bước ngoặt lịch sử cho cách mạng miền Nam và cả nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới để hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Sau Hội nghị này, đồng chí Võ Chí Công được Bộ Chính trị quyết định làm Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Trở về Khu 5, đồng chí trực tiếp truyền đạt Nghị quyết 15 cho Khu ủy Khu 5 rồi vào Nam Bộ tổ chức Đại hội thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tháng 12/1960. Lịch sử cách mạng đã ghi nhận và khẳng định vai trò của đồng chí Võ Chí Công trong việc cùng đồng chí Lê Duẩn tham mưu cho Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 15 để đưa phong trào cách mạng miền Nam lên một tầm cao mới vào năm 1960, cũng như chủ trương “Cách mạng miền Nam không thể khác được, nếu không tiếp tục tiến công kẻ thù”. 

Với cương vị là Phó Bí thư Trung ương Cục, mặc dù tình hình chiến trường vô cùng khó khăn, đồng chí Võ Chí Công đã trực tiếp nghiên cứu phong trào đấu tranh của nhân dân ở Tiền Giang, phong trào đồng khởi ở Bến Tre, kết hợp kinh nghiệm ở Khu 5 và mở Hội nghị tổng kết toàn Miền, đề ra phương châm đấu tranh của nhân dân miền Nam là “Liên tục tiến công địch bằng ba mũi giáp công: Chính trị, quân sự và binh vận”, làm thất bại các kế hoạch chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Bị thất bại trong chiến tranh đặc biệt, tháng 6/1965, đế quốc Mỹ đã đưa quân viễn chinh Mỹ vào Ðà Nẵng tiến hành chiến tranh cục bộ, trực tiếp xâm lược miền nam Việt Nam. Ðồng chí Võ Chí Công đã cùng Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chủ trương xây dựng vành đai nhân dân đánh Mỹ và quyết định dùng chủ lực quân khu và lực lượng vũ trang địa phương đánh phủ đầu quân Mỹ khi chúng mới lấn ra chiếm đóng ở Núi Thành (Quảng Nam). Chiến thắng oanh liệt ở Núi Thành đã mở ra một tư tưởng chiến lược rất quan trọng, chứng minh thực tế là quân dân ta biết đánh và đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải quyết được tư tưởng sợ Mỹ. Trên toàn chiến trường miền Nam lúc bấy giờ đã dấy lên phong trào “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, và tỉnh Quảng Nam đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng tám chữ vàng “Trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ”.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Bí thư Khu ủy Khu 5 Võ Chí Công đã trực tiếp chỉ đạo quân và dân toàn Khu 5 thực hiện tiến công quân địch đồng khắp trên toàn chiến trường Khu 5; nhưng ngay sau khi giành thắng lợi và đạt được mục đích đề ra, phán đoán tình hình có thể bất lợi cho cách mạng, đồng chí Võ Chí Công đã quyết định rút quân đúng lúc, cho nên đã tránh được thiệt hại nặng nề khi địch phản công đánh chiếm lại địa bàn.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên cương vị Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu 5, đồng chí Võ Chí Công đã lãnh đạo quân dân toàn Khu tiến công địch ở nhiều nơi, phối hợp chặt chẽ với sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, góp phần giành thắng lợi oanh liệt giải phóng Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975. Ðồng thời, đồng chí luôn theo dõi sát sao sự chuyển biến các trận đánh của quân và dân ta trên toàn miền Nam, từ đó bằng sự nhạy bén của một nhà lãnh đạo sâu sát thực tiễn, nhận định thời cơ có một không hai của cách mạng để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã đến, đồng chí Võ Chí Công đi đến quyết định điện xin Bộ Chính trị cho phép Khu 5 dùng chủ lực quân khu và lực lượng vũ trang địa phương Quảng Ðà để tiến công, giải phóng thành phố Ðà Nẵng. Ðược đồng chí Lê Duẩn thay mặt Bộ Chính trị trả lời đồng ý, đồng chí cùng Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Chỉ huy tiền phương Quảng Ðà lập tức thay đổi kế hoạch tiến công ban đầu ở phía nam, chuyển hướng tiến công của chủ lực Quân khu 5 (Sư đoàn 2) ra cùng với quân dân Quảng Ðà tiến công và nổi dậy, phối hợp với bộ đội chủ lực từ Huế tiến vào tiếp sức nhanh chóng giải phóng Ðà Nẵng ngày 29/3/1975. 

Những dẫn chứng tiêu biểu nêu trên thêm một lần nữa khẳng định đồng chí Võ Chí Công là một trong những nhà lãnh đạo thực tiễn xuất sắc trong cuộc trường chinh 30 năm đấu tranh giải phóng dân tộc (1945-1975). Bản lĩnh của nhà cách mạng Võ Chí Công thể hiện nổi bật ở tác phong sâu sát thực tiễn, sự quyết đoán, năng động và dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong những thời khắc có tính chuyển biến quyết định của cách mạng và chiến tranh, tận dụng triệt để những thời cơ có một không hai của cách mạng Việt Nam. Với phong cách, phẩm chất và bản lĩnh đó, đồng chí Võ Chí Công đã lãnh đạo quân và dân Đà Nẵng giành chính quyền thành công năm 1945; lãnh đạo quân và dân Khu 5 sát cánh cùng các cánh quân chủ lực giải phóng Tây Nguyên, Đà Nẵng và các tỉnh duyên hải miền Trung, làm thay đổi cục diện chiến trường, tạo đà thắng lợi cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Với những phẩm chất của một nhà lãnh đạo xuất sắc, ngay sau ngày thống nhất đất nước (1975), đồng chí Võ Chí Công tiếp tục được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao nhiều trọng trách, như Ủy viên Bộ Chính trị; Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng; Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực nông nghiệp; Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Chủ tịch nước); Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng, đại biểu Quốc hội khóa VI, VII, VIII; Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Và trên cương vị nào, đồng chí cũng luôn phát huy tác phong sâu sát thực tiễn, sự quyết đoán, năng động và dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị; Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, đồng chí Võ Chí Công đã dành sự quan tâm rất lớn cho công tác xây dựng Đảng, nâng cao chất lượng lãnh đạo của các tổ chức đảng và đảng viên, đặc biệt là hiệu quả thiết thực trong việc tổ chức thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng. Chỉ thị số 02-CT/TW ngày 08/5/1982 của Ban Bí thư về việc chuẩn bị và tiến hành Đại hội đảng bộ các cấp đợt 2 thêm một lần nữa thể hiện tác phong sâu sát thực tiễn, chỉ đạo quyết liệt của đồng chí “Nhất thiết không làm báo cáo một cách dàn đều, chung chung hoặc sao chép có thêm bớt chút ít các vấn đề đã nói trong văn kiện của Đại hội toàn quốc hoặc của Đại hội cấp trên. Trên các nhiệm vụ then chốt đó, cần chỉ rõ tinh thần của Nghị quyết Đại hội V, đề ra mục tiêu, nhiệm vụ chủ trương, biện pháp cụ thể, chỉ rõ đảng bộ phải làm gì và làm như thế nào để thực hiện các quyết định của Đại hội toàn quốc, xác định trách nhiệm, định rõ thời gian hoàn thành từng nhiệm vụ”; “Đối với tiêu chuẩn cấp ủy viên, cần nhấn mạnh các nội dung sau đây: Nhất trí với đường lối của Đảng cả về đối nội, đối ngoại, thể hiện ở Nghị quyết của Đại hội toàn quốc lần thứ IV và lần thứ V. Phải là những đồng chí trung thực, liêm khiết, chí công vô tư, không đặt lợi ích cá nhân, lợi ích của bộ phận, của địa phương lên trên lợi ích của tập thể, của Nhà nước, của toàn Đảng. Kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực trong Đảng và ngoài xã hội. Phải am hiểu công việc mình chịu trách nhiệm, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ tùy theo tính chất và cương vị công tác mình đảm nhiệm. Chú trọng kiến thức lãnh đạo và quản lý kinh tế, khoa học kỹ thuật, chuyên môn và năng lực tổ chức thực tiễn. Có khả năng tập hợp được cán bộ, đảng viên chung quanh mình để lãnh đạo và điều hành công việc ở cương vị mình phụ trách và thực sự có thể đóng góp vào sinh hoạt tập thể của cấp ủy. Không để trong cấp ủy những người không nhất trí với đường lối đối nội, đối ngoại của Đảng, với Nghị quyết của Đại hội V những phần tử cơ hội, những người không liêm khiết, không chấp hành hoặc không thuyết phục gia đình chấp hành các chính sách của Đảng, của Nhà nước, những người tư tưởng cá nhân nặng, vô trách nhiệm, độc đoán chuyên quyền, tự do vô kỷ luật, chia rẽ, bè phái, v.v...”; “... phải xem xét để đưa ra khỏi cấp ủy những đồng chí có nhiều khuyết điểm về phẩm chất, hoặc thật sự hạn chế về năng lực, mà còn phải xem xét để thay đổi cả những trường hợp tuy không có khuyết điểm gì lớn, nhưng trong nhiệm kỳ qua ít phát huy tác dụng, để chọn những đồng chí xứng đáng hơn vào thay. Phải trên nhận thức mới về phẩm chất và năng lực của cán bộ và yêu cầu lãnh đạo của cấp ủy mà phát hiện những cán bộ có năng lực trong phong trào từ dưới lên để đưa người vào cấp ủy, khắc phục thiên hướng lệch lạc, không lấy hiệu quả công việc theo đường lối, quan điểm và yêu cầu của Đảng làm thước đo cuối cùng của phẩm chất và năng lực”(6).

Trên cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực nông nghiệp, đồng chí Võ Chí Công đã thể hiện tác phong lãnh đạo sâu sát thực tiễn, dám nghĩ, dám làm để đem lại những thay đổi lớn lao trong chính sách, pháp luật về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, trước hết là trong Báo cáo về nông nghiệp do đồng chí trình bày tại Hội nghị Trung ương lần thứ hai, khóa IV ngày 22/6/1977 và trong vai trò, nhiệm vụ được Đảng phân công “Đồng chí Võ Chí Công chỉ đạo việc nghiên cứu chuyên đề về tổ chức quản lý nông nghiệp gắn với việc tổng kết nông nghiệp và xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệp trong 5 năm 1981-1985”(7).

Trong cuốn hồi ký “Trên những chặng đường cách mạng”, đồng chí Võ Chí Công kể lại: “Sau một thời gian làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Thủy sản, tôi được cử sang làm Bộ trưởng Nông nghiệp và phụ trách khối nông, lâm, hải sản. Đây là một lĩnh vực khá quan trọng vì nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân nước ta lúc bấy giờ. Tôi nghĩ vì sao cũng người thanh niên trong hợp tác xã miền Bắc ở miền Nam đánh giặc chịu đựng gian khổ hy sinh lại hăng hái và hết sức tích cực, còn làm ăn trong hợp tác xã thì lại tiêu cực đến thế? Có lẽ đánh giặc cứu nước là động lực nên có tinh thần tích cực, còn trong lao động sản xuất phải chăng chưa tạo ra được động lực! Trực tiếp đi kiểm tra nhiều nơi và cũng được các tỉnh báo cáo, tôi rất lo lắng. Nếu tình trạng tiêu cực này kéo dài chẳng những sẽ nguy hiểm về kinh tế - xã hội mà còn có thể dẫn đến tiêu cực về chính trị. Với cương vị phụ trách nông nghiệp trước tình trạng tiêu cực tôi thấy hơi ngan ngán, nhưng nghĩ lại trong thời kỳ hoạt động cách mạng, trong chiến tranh có nhiều lúc, có nhiều vấn đề còn khó gấp nhiều lần, thậm chí có những việc tưởng chừng như bế tắc, nhưng rốt cuộc vẫn tìm ra giải pháp, vượt qua, vẫn giải quyết được, nên tôi vững tin hơn. Tôi nghĩ cần đi sâu vào thực tế tìm cho ra nguyên nhân. Khác với những lần kiểm tra trước, đến là hỏi dăm ba câu, anh em dưới trả lời hiện tượng chung chung theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”, lần này tôi quyết tâm làm theo phương pháp đánh giặc: xuống sát chiến trường, để hiểu địch, hiểu ta để chỉ đạo, tác chiến. Do đó không xuống tỉnh, không xuống huyện mà tôi đi thẳng xuống một số hợp tác xã. Phần lớn thời gian tôi gặp các đội trưởng, đội phó đi vào một số gia đình xã viên hỏi thật kỹ, cụ thể cách làm của hợp tác xã và ruộng đất 5%..., đi với đồng bào ra ruộng, xem cách làm, gợi ý cho họ phát biểu...”.

Với phong cách lãnh đạo sâu sát thực tiễn, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, đồng chí đã trực tiếp đi kiểm tra tình hình “khoán chui” ở tỉnh Vĩnh Phú (mà người khởi xướng là đồng chí Kim Ngọc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú), đồng chí đã chỉ đạo một số xã thực hiện khoán mới và so sánh với các xã chưa thực hiện khoán mới để làm cơ sở thực tiễn hoàn thiện chính sách khoán sản phẩm. Kết quả rất tốt: “Tôi trực tiếp chỉ đạo hai xã, còn gợi ý với tỉnh nếu có cán bộ, chỉ đạo chặt chẽ thì có thể mở rộng ra một số xã nữa. Đến vụ thu hoạch xong tôi đến huyện (ngày xưa gọi là phủ) Vĩnh Tường và cùng các đồng chí Thường vụ tỉnh, huyện họp nghe báo cáo. Kết quả rất tốt: làm khoán mới được nửa huyện, năng suất và sản lượng tăng trên 20% so với hợp tác xã chưa khoán; số lượng lao động, ngày công lao động tăng 20 - 25%, tinh thần nhân dân phấn khởi, sôi nổi, tiêu cực biến mất. Đánh giá thí điểm thành công tốt đẹp về nhiều mặt, tôi động viên, vụ mùa tới nên làm hết cả huyện, còn toàn tỉnh nếu có cán bộ trực tiếp hướng dẫn, hội nghị tập huấn chỉ đạo chặt chẽ thì làm hết cũng được. Cuộc họp sơ kết khoán ở phủ Vĩnh Tường kết thúc, mọi người đều rất phấn khởi, hào hứng...”. 

Từ những kết quả rất tốt đẹp này, ngày 21/10/1980, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Thông báo số 22-TB/TW cho ý kiến về công tác khoán trong hợp tác xã và đội sản xuất, ghi nhận và đánh giá những tác dụng tích cực của hình thức khoán mới “... tận dụng được sức lao động của gia đình xã viên, phát huy được tính tích cực lao động, tinh thần hang hái áp dụng các biện pháp kỹ thuật và ý thức chăm lo tiết kiệm chi phí trogn sản xuất, khai thác thêm được một phần vật tư của gia đình và xã viên”(8) và cho phép các địa phương thử nghiệm các hình thức khoán sản phẩm với cây lúa. Đến ngày 13/01/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 100 CT/TW (còn gọi là Chỉ thị về khoán 100) về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp với những nội dung đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt như: “... xóa bỏ chế độ công điểm và ăn chia trong các hợp tác xã, giao ruộng đất cho các cá đơn vị hoặc cá nhân người lao động, áp dụng định mức giao nộp sản phẩm cho hợp tác xã rồi hợp tác xã căn cứ trên các diện tích nhận khoán mà phân bổ nghĩa vụ đó cho từng hộ xã viên. Định mức này căn cứ trên năng suất thực tế của ruộng đất trong những năm trước đó. Người nông dân có trách nhiệm nộp thuế nông nghiệp, nộp thóc nghĩa vụ, nộp phần thóc điều hòa trong nội bộ hợp tác xã (nhằm giúp những hộ gặp khó khăn và những dịch vụ cần thiết của công tác quản lý kỹ thuật cung ứng vật tư…) phần còn lại mình được hưởng”. Chính vì vậy, Chỉ thị số 100 CT/TW  được coi là bước đột phá đầu tiên vào cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, sản xuất tập thể. Từ thành quả tốt đẹp đó, Bộ Chính trị tín nhiệm phân công đồng chí Võ Chí Công làm Trưởng Tiểu ban nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của nước ta, và chính đồng chí đã đề xuất dùng danh từ “Ðổi mới” làm chủ đề để dễ hiểu, dễ làm, ai cũng làm được, triệt để xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng nội dung cơ bản đổi mới cơ chế quản lý, phát triển các thành phần kinh tế, vận dụng đúng đắn quy luật kinh tế thị trường phù hợp thực tiễn kinh tế nước ta. Đề xuất này của đồng chí đã được Ban Chấp hành Trung ương khóa V thông qua, trở thành nội dung cốt lõi cho việc xây dựng đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ, quản lý đất nước tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Ðảng (tháng 12/1986).

Sau bảy năm triển khai thực hiện, đồng chí Võ Chí Công cùng tập thể Bộ Chính trị đã chỉ đạo tổ chức tổng kết tình hình thực hiện Chỉ thị số 100 CT/TW để đến ngày 05/4/1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (hay còn gọi là Nghị quyết về khoán 10). Khoán 10 thừa nhận “hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ” trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất đến phân phối, sử dụng sản phẩm. Nếu như Chỉ thị số 100 CT/TW mới chỉ nhắc đến nhóm lao động thì Nghị quyết số 10-NQ/TW đã khẳng định mạnh mẽ tư tưởng “giải phóng sức sản xuất” và trong các mối quan hệ về lợi ích, nhấn mạnh “nhất là lợi ích người lao động”; và từ đây, chức nǎng kinh tế của hộ nông dân được xác lập trở lại, trở thành động lực chính trong sản xuất nông nghiệp. Có thể khẳng định Nghị quyết số 10-NQ/TW đã khai thông các điểm nghẽn, khơi dậy mạnh mẽ các động lực nội sinh để đem lại những hiệu quả vô cùng to lớn: nếu như năm 1988, sản lượng lương thực cả nước mới đạt 19,58 triệu tấn thì chỉ một năm sau khi có Nghị quyết số 10-NQ/TW (năm 1989), sản lượng lương thực cả nước đã tăng lên 21,58 triệu tấn; góp phần khôi phục, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Ðảng nhằm phát triển nền sản xuất nông nghiệp đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội, dần hình thành nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa hiện đại và hiệu quả ở Việt Nam.

Như vậy, có thể khẳng định những đổi mới hết sức quan trọng, mang tính đột phá của chính sách, pháp luật về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân ở Việt Nam từ thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay có dấu ấn đóng góp rất quan trọng của đồng chí Võ Chí Công, thể hiện trực tiếp trong Chỉ thị số 100 CT/TW ngày 13/01/1981 và Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/4/1988. Qua đó đã đưa Việt Nam từ một quốc gia thiếu lương thực triền miên vươn lên trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu lúa gạo và nông sản đứng hàng đầu thế giới; là bài học kinh nghiệm quý báu cho các mục tiêu phát triển đất nước hiện nay.

Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nhiệm kỳ 1987-1992, với vai trò vừa là Chủ tịch nước tập thể, vừa đứng đầu Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dấu ấn quan trọng nhất của đồng chí Võ Chí Công là đã trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban sửa đổi Hiến pháp năm 1980 (bao gồm 28 thành viên). Ngày 15/4/1992, Kỳ họp thứ XI Quốc hội khóa VIII đã nhất trí thông qua Hiến pháp năm 1992. Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công, việc soạn thảo và ban hành Hiến pháp năm 1992 được thực hiện rất dân chủ, khoa học, tiếp thu nghiêm túc những ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân về tất cả các vấn đề từ quan điểm chung đến các vấn đề cụ thể để ra đời bản Hiến pháp đầu tiên đánh dấu tiến trình đổi mới ở Việt Nam. 

Đồng chí Võ Chí Công đã chỉ đạo quán triệt tinh thần đổi mới của Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ VI và Cương lĩnh năm 1991 để xây dựng Hiến pháp năm 1992 trở thành nền tảng pháp lý chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thời kỳ đổi mới toàn diện, sâu sắc về kinh tế, từng bước và vững chắc về chính trị; chuyển đổi cơ bản nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung hai thành phần sang kinh tế hàng hóa thị trường nhiều thành phần, xác định sự bình đẳng trước pháp luật của các thành phần kinh tế, khuyến khích đầu tư nước ngoài; Bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam, xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được sửa đổi, bổ sung nhiều hơn. Bổ sung nhiều quyền hạn quyết định xây dựng chương trình luật, pháp lệnh, trưng cầu dân ý của Quốc hội, quyết định chính sách dân tộc của Nhà nước. Sửa đổi mạnh mẽ các thiết chế Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ theo quan điểm tập quyền “mềm” - quyền lực nhà nước tập trung thống nhất có sự phân biệt chức năng giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện lập pháp, hành pháp và tư pháp; tăng nhiều quyền hạn và đề cao vai trò của Thủ tướng trong thành lập Chính phủ. Nhấn mạnh tính đại diện của Hội đồng nhân dân; tăng quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Thiết lập thêm các tòa án kinh tế, lao động, hành chính. Hiến pháp năm 1992 vừa đánh dấu sự phục hưng, vừa thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI.  

Với 100 năm tuổi đời, 76 năm tuổi Đảng, đồng chí Võ Chí Công đã phấn đấu trọn đời và có những cống hiến hết sức to lớn đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Nhân dân ta. Đồng chí là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, mẫu mực, trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí là tấm gương ngời sáng về tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, giản dị, khiêm tốn, luôn phấn đấu hết mình vì lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của Nhân dân; về phong cách lãnh đạo sâu sát thực tiễn, dám nghĩ, dám làm; về bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định và đổi mới, sáng tạo. Những thành công của cách mạng Việt Nam có phần đóng góp rất quan trọng, mang ý nghĩa quyết định của những nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu, xuất sắc, trong đó có đồng chí Võ Chí Công “Đường cách mạng, dù trên mặt trận nào, khi gặp khó khăn, không có những con người, những tập thể tự nguyện xung phong mở đường, quyết chí giành cho được thắng lợi thì không thể đạt được những mục tiêu đã định”(9)./.  

-------------------------------

Ghi chú:

(1) https://baoquangnam.vn/chinh-tri/dong-chi-vo-chi-cong-va-ba-lan-duoc-gap-bac-ho-88136.html.

(2) Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trưởng ban Ban Lễ tang đọc tại Lễ truy điệu đồng chí Võ Chí Công.

(3) https://www.nxbctqg.org.vn/vo-chi-cong-tren-nhng-chng-ng-cach-mng.html

(4) https://danang.gov.vn/gioi-thieu/chi-tiet?id=1689&_c=46.

(5) https://baoquangnam.vn/chinh-tri/dong-chi-vo-chi-cong-va-ba-lan-duoc-gap-bac-ho-88136.html.

(6) Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 43, tr.441. Bản CD Rom do Nxb CTQG-ST phát hành.

(7) Thông báo của Ban Bí thư số 36-TB/TW, ngày 22/7/1981 về việc bổ sung Tiểu ban chuẩn bị Hội nghị Trung ương về quản lý kinh tế và các đồng chí phụ trách các tổ báo cáo chuyên đề.

(8) Đặng Phong, Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989, Nxb. Tri thức, 2012, tr.224.

(9) Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tại Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ VI. Nguồn: http://banthiduakhenthuongtw.gov.vn/tabid/154/Entry/611/Default.aspx

 

TS Trần Nghị - Tổng Biên tập Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Tăng phân cấp và trao quyền

Ngày đăng 05/08/2022
Tại Hội nghị “Tự chủ đại học” diễn ra tại Hà Nội ngày 04/8 vừa qua, nhằm đánh giá thực trạng và tìm giải pháp thúc đẩy tự chủ đại học trong thời gian tới. Tự chủ là xu thế khách quan nhằm giúp các cơ sở giáo dục đại học phát huy tính năng động, sáng tạo trong nghiên cứu và đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực không chỉ của hệ thống chính trị mà cả thị trường. Tuy nhiên, chỉ khi mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước và cơ sở giáo dục đại học được giải quyết một cách thỏa đáng, tự chủ giáo dục đại học mới trở nên thực chất.

Nhật Bản chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam về quản lý thị trường mã hóa khi ứng dụng công nghệ Blockchain

Ngày đăng 07/08/2022
Tại Hội thảo "Kinh nghiệm quốc tế về phát triển công nghệ Blockchain và khuyến nghị cho Việt Nam” do Ủy ban Đối ngoại phối hợp với Hiệp hội Blockchain Việt Nam tổ chức, ông Hidaka Yoshihito - Bí thư thứ Nhất, Ban Kinh tế (Đại sứ quán Nhật Bản) có những chia sẻ với Việt Nam về kinh nghiệm quản lý thị trường mã hóa...

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số

Ngày đăng 08/08/2022
Sáng 08/8/2022, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số chủ trì phiên họp thứ ba của Ủy ban.

Quảng Nam cần làm tốt hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ các cấp

Ngày đăng 07/08/2022
Chiều 06/8/2022, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương cùng đoàn công tác đã có buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam và các cơ quan liên quan về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh và công tác triển khai thực hiện Quy định số 11-QĐ/TW ngày 19/5/2021 của Ban Bí thư về trường chính trị chuẩn.

Cụm thi đua 5 thành phố trực thuộc Trung ương sơ kết thực hiện giao ước thi đua 6 tháng đầu năm 2022

Ngày đăng 07/08/2022
Vừa qua, tại thành phố Hải Phòng đã diễn ra Hội nghị sơ kết thực hiện giao ước thi đua 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2022 của Cụm thi đua 5 thành phố trực thuộc Trung ương. Đồng chí Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.

Tiêu điểm

Hà Tĩnh đảm bảo hoàn thành tiến độ tuyển dụng đội viên Đề án 500 trí thức trẻ trước 31/12/2025

Ngày 10/8/2022, Đoàn công tác của Bộ Nội vụ đã làm việc với Sở Nội vụ tỉnh Hà Tĩnh để kiểm tra, khảo sát việc thực hiện chính sách đối với thanh niên xung phong; chính sách thu hút tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ theo Nghị định số 140/2017/NĐ-CP ngày 05/12/2017 của Chính phủ (Nghị định 140); tình hình bố trí sử dụng đội viên Đề án 500 trí thức trẻ sau khi hoàn thành nhiệm vụ, theo Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 01/11/2021 của Chính phủ (Nghị quyết 136). Vụ trưởng Vụ Công tác thanh niên Hoàng Quốc Long làm Trưởng đoàn công tác.