Hà Nội, Ngày 04/07/2022

Phát triển nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số tại vùng Tây Bắc

Ngày đăng: 02/06/2022   11:05
Mặc định Cỡ chữ
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định phát triển nguồn nhân lực là một trong 3 đột phá chiến lược để thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước trong thời gian tới. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách quan tâm đầu tư, phát triển giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) nói chung, vùng Tây Bắc nói riêng và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc vẫn còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước, cần có những giải pháp chiến lược để phát triển nguồn nhân lực của khu vực quan trọng này.
Hội thảo “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững”. Ảnh: nhandan.vn

Thực trạng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc

Tây Bắc là vùng miền núi phía Tây của miền Bắc, gồm 06 tỉnh là Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai và Yên Bái, với diện tích trên 5,64 triệu ha và dân số trên 4,7 triệu người(1). 

- Về quy mô nguồn nhân lực: Tây Bắc là vùng có quy mô nhân lực nhỏ, dân số chủ yếu tập trung tại vùng nông thôn (chiếm 82,9%). Dân cư thưa thớt, mật độ thấp hơn so với các khu vực còn lại của cả nước (121 người/km2), trong đó tỷ lệ người DTTS chiếm 79,2%. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên tính đến thời điểm tháng 10/2019 là trên 2,9 triệu lao động, trong đó có trên 2,2 triệu lao động là người DTTS(2). Với lực lượng lao động khá dồi dào, tỉ lệ tham gia lao động tăng lên hàng năm, nhân lực vùng Tây Bắc ngày càng có những đóng góp quan trọng đối với nguồn lao động chung của cả nước, tuy nhiên lực lượng lao động vẫn còn phân tán, không tập trung, quy mô nhỏ lẻ.

- Về chất lượng nguồn nhân lực: theo kết quả Tổng điều tra năm 2019, tỷ lệ người DTTS có trình độ từ trung học phổ thông trở lên chiếm 20,2% tổng số người DTTS từ 15 tuổi trở lên, thấp hơn tỷ lệ này của toàn quốc 16,3 điểm phần trăm(3). Có 9,1% người DTTS từ 15 tuổi trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ chung của cả nước (19,2%). Trong 9,1% đó, tỷ lệ người DTTS có trình độ từ cao đẳng trở lên chiếm hơn một nửa (5,0%), tăng 2,1 điểm phần trăm so với năm 2015(4).

Lực lượng lao động người DTTS 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo thấp hơn so với mức trung bình cả nước và không đồng đều giữa các tỉnh. Ngoài tỉnh Điện Biên và Hòa Bình có sự gia tăng đáng kể lực lượng lao động DTTS đã qua đào tạo, còn lại các tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái và Lai Châu có tỷ lệ thấp hơn rõ rệt. Về tỷ lệ tham gia lực lượng lao động, cứ 100 người DTTS từ 15 tuổi trở lên, có 83 người tham gia vào lực lượng lao động. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, chỉ có 10,3% lao động DTTS có việc làm đã qua đào tạo, còn lại đến 89,7% cơ bản chưa được đào tạo, không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong số lực lượng lao động DTTS có trình độ kỹ thuật, có 29,3% đã được đào tạo trình độ từ đại học trở lên. Tỷ trọng lao động DTTS có việc làm không có chuyên môn kỹ thuật ở khu vực nông thôn cao gấp 1,2 lần ở khu vực thành thị, tương ứng là 91,2% và 76,8%(5).

Giải pháp phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc hiện nay

Một là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội để nâng cao đời sống cho người DTTS.

Cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới ở khu vực các tỉnh Tây Bắc, gắn với tập trung xây dựng nông thôn có kết cấu cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp và công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Đẩy mạnh đưa công nghệ cao vào sản xuất để nâng cao thu nhập và chuyển hóa cơ cấu lao động nông thôn, mở rộng hệ thống thương mại, dịch vụ phục vụ cho sản xuất, chuyển đổi nghề cho người dân bị ảnh hưởng do quá trình đô thị hóa, làm thủy điện. Xây dựng và phát huy các làng, bản có nghề truyền thống, ưu tiên phát triển các loại hình doanh nghiệp chế biến các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp. Đào tạo các ngành nghề thủ công truyền thống, ngành nghề mới; tăng cường các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và khuyến khích công nghiệp phụ trợ để nâng cao kỹ năng lao động, giúp nông dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành và phát triển nền công nghiệp, nông nghiệp sinh thái trên địa bàn của vùng.

Giải quyết việc làm gắn với nông nghiệp và phát triển nông nghiệp, nông thôn, thực hiện các dự án chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp… để góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn ở các tỉnh Tây Bắc. Các tỉnh trong vùng cần có kế hoạch nhân rộng và đẩy mạnh tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm, đảm bảo cho quá trình phát triển hiệu quả, bền vững. 

Tiếp tục hình thành các khu công nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng, bởi sẽ giải quyết được rất nhiều lao động, khuyến khích lao động nông thôn, vùng sâu, vùng xa tích cực, chủ động nâng cao trình độ tay nghề, tìm kiếm chuyển đổi việc làm, nâng cao đời sống cho người dân. Khuyến khích đẩy mạnh hơn nữa phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực nông thôn. Xây dựng môi trường làm việc thân thiện, hiệu quả, văn minh và công bằng, môi trường làm việc phù hợp với trình độ của lao động, khuyến khích được sự cạnh tranh, tạo sự hấp dẫn, thu hút đối với nguồn lao động dồi dào, nhất là thúc đẩy được lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. 

Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực DTTS.

Cần tiến hành quy hoạch xây dựng mạng lưới đào tạo và dạy nghề trong vùng, phát triển đa dạng các loại hình đào tạo nghề, tăng dần tỷ trọng đầu tư cho giáo dục; lồng ghép nhiều hơn chương trình dạy nghề, hướng nghiệp với chương trình dạy nghề ở trung học phổ thông đối với học sinh DTTS. Các cơ sở đào tạo trên địa bàn các tỉnh tăng cường liên kết với các trường đại học trong vùng. Chú trọng đào tạo theo địa chỉ, đào tạo gắn với việc sử dụng lao động. Xã hội hóa công tác đào tạo nghề, tăng cường đào tạo nghề cho nông dân, tập trung vào đối tượng cụ thể là người DTTS, gắn kết các cơ sở sử dụng lao động với các cơ sở đào tạo nghề. Đồng thời, lựa chọn ngành mũi nhọn để tập trung ưu tiên, đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phù hợp đặc thù của các địa phương. 

Ba là, nâng cao nhận thức của các cấp, ngành về phát triển nguồn nhân lực DTTS trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

Trên cơ sở Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 15/6/2016 của Chính phủ về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030, các địa phương vùng Tây Bắc cần tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục, đào tạo, các tổ chức khoa học, công nghệ với các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển nhân lực. Nâng cao năng lực đào tạo, các hoạt động tư vấn, dạy nghề, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên người DTTS lựa chọn ngành nghề phù hợp. Tổ chức tuyên truyền cho người dân nắm được về định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả vùng và từng địa phương. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người dân về vai trò của công tác phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh; vai trò của dạy nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. 

Bốn là, đổi mới cơ chế quản lý phát triển nguồn nhân lực DTTS phù hợp với xu thế phát triển mới. 

Cần có chính sách đặc thù nhằm khuyến khích đào tạo các môn đặc thù, đặc biệt chú trọng phát triển tiếng dân tộc; xây dựng và nâng dần chất lượng các các trường đào tạo; quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên. Đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng, cơ chế, chính sách sử dụng và đãi ngộ giáo viên để họ yên tâm công tác lâu dài, phục vụ đồng bào DTTS. Khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức người DTTS tham gia học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ tạo mọi điều kiện để họ tham gia các lớp học ở trong tỉnh, ngoài tỉnh và ngoài nước. Có kế hoạch thu hút, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, đổi mới phương pháp đánh giá năng lực công tác và chế độ khen thưởng, kỷ luật, đổi mới phương pháp quản lý theo hướng hiện đại, hiệu quả.

Điều chỉnh và tổ chức lại mạng lưới hệ thống trường đại học, cao đẳng, trung cấp và các trung tâm giáo dục nghề nghiệp phù hợp, hiện đại nhằm mở rộng và đa dạng hóa các ngành, nghề đào tạo, phát triển các trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ nhằm mở rộng đào tạo cho các ngành nghề mũi nhọn của từng tỉnh trong khu vực, nâng cao hơn nữa trình độ dân trí của người dân. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các chủ thể tham gia phát triển nhân lực trên địa bàn các tỉnh và sự chủ động, sáng tạo của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong quá trình phát triển nguồn nhân lực, thường xuyên quan tâm tới công tác đào tạo, đặt hàng các đơn vị đào tạo, thống nhất trong việc phát triển và sử dụng nguồn nhân lực nữ người DTTS. Rà soát chính sách phát triển giáo dục, đào tạo vùng DTTS để đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành mới chính sách phát triển giáo dục, đào tạo vùng DTTS cho phù hợp; tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hóa phát triển giáo dục, đào tạo vùng DTTS, miền núi. 

Năm là, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội. 

Các tổ chức hội, đặc biệt là Hội Nông dân cần đề xuất nghiên cứu những chính sách phù hợp với người DTTS nhằm phát triển kinh tế, ổn định đời sống, vận động hội viên tích cực học tập, vận dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm. Tổ chức các lớp dạy nghề ngắn hạn cho hội viên về trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và ngành nghề nông thôn. Đẩy mạnh các hoạt động khuyến nông, nhân rộng các mô hình chăn nuôi, trồng trọt gắn với thế mạnh của địa phương, vận động, hướng dẫn bà con thoát khỏi lối canh tác cũ, nhỏ lẻ và chấp nhận các mô hình mới, các loại cây, con giống mới, tạo sự đột phá trong phát triển nông nghiệp. 

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cần phối hợp tổ chức tuyên truyền, đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phòng, chống các tệ nạn xã hội, ma túy trong đoàn viên thanh niên. Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh các cấp cần tập hợp, khuyến khích, động viên hội viên tham gia xóa đói giảm nghèo, xây dựng gia đình no ấm hạnh phúc, tham gia phòng, chống tệ nạn xã hội… 

Sáu là, thực hiện tốt công tác bố trí, đào tạo, sử dụng cán bộ là người DTTS trên địa bàn.

Thực hiện Nghị quyết số 52/NQ-CP; Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 theo tinh thần Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội, các địa phương vùng Tây Bắc cần có kế hoạch, giải pháp cụ thể, phù hợp thực hiện tốt công tác bố trí, đào tạo, sử dụng cán bộ, công chức người DTTS. Đối với sinh viên là người DTTS, được đào tạo theo hệ cử tuyển tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trong cả nước, sau khi hoàn thành khóa học, cần sắp xếp, bố trí việc làm kịp thời, hợp lý đúng chuyên môn đào tạo. Bên cạnh đó, cần chú trọng công tác đào tạo lại cán bộ cơ sở là người DTTS nhằm bảo đảm đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ trong tình hình mới.

Bảy là, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần, đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe cho đồng bào DTTS.

Xây dựng môi trường đời sống tinh thần lành mạnh, văn minh; bài trừ các hủ tục lạc hậu gắn với phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của đồng bào DTTS trong học tập, sáng tạo văn hóa, lao động, sản xuất, ý thức cộng đồng tộc người. Tổ chức các hoạt động văn hóa - văn nghệ, tập trung chuyển tải những thông tin mới về chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, giữ gìn vệ sinh môi trường, chăm sóc sức khỏe, kiến thức khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm làm ăn, biết và phòng tránh các tệ nạn xã hội, xây dựng gia đình, làng bản văn hóa. 

Tăng cường công tác y tế, giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình, củng cố, phát triển mạng lưới y tế cơ sở để giúp bà con tiếp cận với dịch vụ y tế kịp thời, đặc biệt trẻ em DTTS được hưởng các dịch vụ y tế một cách tốt nhất. Nâng cao thể lực nguồn nhân lực DTTS phải được cụ thể hóa qua việc cải thiện điều kiện dinh dưỡng, nhà ở và môi trường sống, giảm nhanh tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em và phụ nữ có thai... Các địa phương cần chỉ đạo triển khai thực hiện hiệu quả các mục tiêu quốc gia về y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình; kiểm soát chặt chẽ, thường xuyên hơn tăng trưởng dân số; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến những quy định có liên quan đến hôn nhân gia đình, tảo hôn và hôn nhân cận huyết, những hậu quả, tác hại và hệ lụy liên quan. 

Tám là, tạo cơ chế để khuyến khích, động viên đồng bào DTTS phát huy tính tích cực, tự lực chủ động phấn đấu vươn lên.

Bên cạnh kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống, cần định hướng hình thành những phẩm chất năng động, sáng tạo, kỷ luật, dám nghĩ, dám làm, có nếp sống văn minh, hiện đại, linh hoạt. Có những giải pháp khuyến khích đồng bào DTTS nỗ lực học hỏi, bổ sung kiến thức văn hóa và nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu xã hội; nêu gương, khen thưởng kịp thời người tốt, việc tốt của đồng bào DTTS trong các lĩnh vực./. 

------------------------------

Ghi chú:

(1) Tổng cục Thống kê, Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở, năm 2019.

(2) Tổng quan thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số (5/2017) - tiểu dự án hỗ trợ giảm nghèo PRPP - UBDT do UNDP và Irish Aid tài trợ - Ủy ban dân tộc, Hà Nội tháng 5/2017.

(3),(4),(5) Đỗ Thu Hiền, Nâng cao năng lực của cán bộ chủ chốt cấp huyện trong tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Học viện Chính trị khu vực I, H.2020, tr.73-74, tr.78-79, tr.80-81.

 

TS Phạm Thanh Hà, TS Đỗ Huyền Trang - Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh các nghề nghiệp y tế

Ngày đăng 02/07/2022
Bộ trưởng Bộ Y tế vừa ban hành các Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh các nghề nghiệp: hộ sinh, kỹ thuật y, dược, y tế công cộng.

Lào Cai: Thu hút, trọng dụng nhân tài, hướng tới xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao

Ngày đăng 28/06/2022
Đối với tỉnh Lào Cai, trong những năm qua, tỉnh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác này bằng việc hoàn thiện và ban hành nhiều cơ chế chính sách phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài, nhất là thu hút đội ngũ trí thức có trình độ cao về làm việc tại tỉnh.

Nam Định: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện chuyển đổi số

Ngày đăng 24/06/2022
Bên cạnh đầu tư bao phủ hệ thống thiết bị, công nghệ thông tin (CNTT) thì xây dựng, phát triển nguồn nhân lực kích hoạt, vận hành hiệu quả hạ tầng CNTT là nhiệm vụ quan trọng các cấp chính quyền, ngành chức năng phải quan tâm trong thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số (CĐS), xây dựng chính quyền điện tử. Theo đó, tỉnh Nam Định bám sát tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền Thông (TTTT), chủ động kiện toàn, đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ nòng cốt thực hiện chương trình CĐS của tỉnh.

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Cần có bước đi bài bản

Ngày đăng 13/06/2022
Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ được nêu tại Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII). Triển khai thực hiện Nghị quyết, Đảng bộ các địa phương trên cả nước cần có những bước đi bài bản, khoa học nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao.

Chương trình bồi dưỡng đối với công chức ngạch chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp và tương đương

Ngày đăng 12/06/2022
Bộ trưởng Bộ Nội vụ vừa ban hành Chương trình bồi dưỡng đối với công chức ngạch chuyên viên chính (gồm 20 chuyên đề, thời gian bồi dưỡng là 06 tuần với 240 tiết) và Chương trình bồi dưỡng đối với công chức ngạch chuyên viên cao cấp (gồm 27 chuyên đề, thời gian bồi dưỡng là 08 tuần với 320 tiết).

Tiêu điểm

Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện đưa lên mức độ 4 là 97,3%

Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông về tình hình thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ "về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025" (Báo cáo số 91/BC-BTTTT ngày 30/6/2022), tính đến ngày 28/6/2022, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện đưa lên mức độ 4 là 97,3% (chiếm 53,56% tổng số thủ tục hành chính).