Hà Nội, Ngày 04/07/2022

Hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở trong thời kỳ mới

Ngày đăng: 05/06/2022   10:36
Mặc định Cỡ chữ
Dân chủ vừa là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu và động lực của sự phát triển đất nước. Vì vậy, trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng phát huy dân chủ trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân. Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị đã xác định phát huy quyền làm chủ của Nhân dân ở cơ sở là khâu quan trọng, then chốt trong xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Sau hơn 20 năm tổ chức triển khai Chỉ thị số 30-CT/TW, pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở đã bộc lộ những hạn chế, vướng mắc cần được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Đồng thời bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội quốc tế và trong nước sau 20 năm đã có nhiều chuyển biến, đặt ra những yêu cầu, thách thức mới đối với việc hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà trình bày Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, sáng 27/5/2022. Ảnh: quochoi.vn

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ

Ngay sau khi Bộ Chính trị khóa VIII ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18/02/1998 “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” để cụ thể hóa Nghị quyết số 03-NQ/HNTW ngày 18/06/1997 của Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, công tác xây dựng pháp luật nhằm thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về thực hiện dân chủ ở cơ sở được coi trọng. Hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở được ban hành phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ.

Hiện nay, thực hiện dân chủ ở cơ sở cơ bản được điều chỉnh bởi 4 văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực gồm: Nghị quyết số 55/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 30/8/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan; Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân và của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại cơ sở, góp phần xây dựng môi trường chính trị dân chủ, cởi mở, thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của Nhân dân, củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ; tạo động lực thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở mỗi địa phương và trên phạm vi cả nước.

Tuy nhiên, pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở cũng bộc lộ những hạn chế, vướng mắc cần được nghiên cứu hoàn thiện, cụ thể:

Một là, Hiến pháp năm 2013 với tinh thần đề cao quyền dân chủ của Nhân dân, theo đó đã ghi nhận các hình thức thực hiện quyền dân chủ “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” (Điều 6); “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước” (khoản 1 Điều 28) và hiến định trách nhiệm “Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” (khoản 2 Điều 28). Đồng thời, tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Trong khi đó, hiện nay các quy định của pháp luật điều chỉnh chung về thực hiện dân chủ ở cơ sở đang được ghi nhận tại 03 văn bản dưới luật (Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ tại xã, phường, thị trấn; Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động) là chưa thực sự phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng, ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân.

Hai là, mặc dù có sự khác biệt về không gian nhưng cả 3 loại hình cơ sở được quy định tại Chỉ thị số 30-CT/TW và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (gồm: xã, phường, thị trấn; cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; doanh nghiệp) đều có điểm chung là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện việc công khai thông tin, tham gia ý kiến và kiểm tra, giám sát của người dân (với tư cách công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động). Do vậy, việc quy định về thực hiện dân chủ ở mỗi loại hình cơ sở tại các văn bản khác nhau mà không có quy định chung về thực hiện dân chủ ở cơ sở là chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Ba là, nội hàm về thực hiện dân chủ ở cơ sở trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành còn có sự chưa thống nhất và chồng lấn với các văn bản quy phạm pháp luật về quyền dân chủ khác. Điều này một phần xuất phát từ sự chưa rõ ràng trong việc phân định khái niệm “dân chủ” và “thực hiện dân chủ”. Khái niệm “dân chủ” theo nghĩa rộng là quyền lực nhân dân(1), trong đó bao gồm các quyền cụ thể như quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tiếp cận thông tin, quyền khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị, quyền trưng cầu ý dân,... (gọi chung là các quyền dân chủ) đã được quy định tại Hiến pháp và các luật. Trong khi “thực hiện dân chủ” hay “thực hành dân chủ” là tổng hợp các cơ chế, chính sách, nguyên tắc, hình thức và biện pháp để bảo đảm thực hiện quyền dân chủ(2). Trên thực tế, các quy định của pháp luật hiện hành về thực hiện dân chủ ở cơ sở đang bao trùm cả quy định về một số quyền dân chủ cụ thể như quyền tiếp cận thông tin, quyền khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị... Do vậy, nội dung quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở có sự chồng lấn với các luật khác như Luật Tiếp cận thông tin, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo... 

Bốn là, nội dung và hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở còn hạn chế, chưa đáp ứng thực tiễn yêu cầu phát triển ở cơ sở. Theo quy định của Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 thì phạm vi các vấn đề để Nhân dân quyết định chỉ gồm hai nội dung: 1) chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn/tổ dân phố do Nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí; 2) các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật. Ngoài ra, Pháp lệnh chưa quy định cụ thể chủ thể có quyền đề xuất các vấn đề đưa ra để Nhân dân quyết định. Trên thực tế, Nhân dân chủ yếu bàn và quyết định các nội dung do Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố đề xuất, do vậy chưa phát huy được vai trò của người dân và các chủ thể khác trong việc đề xuất những nội dung đưa ra Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp. Pháp lệnh chỉ quy định về nội dung, hình thức công khai mà thiếu quy định đảm bảo tính minh bạch trong việc công khai của chính quyền cấp xã dẫn đến tình trạng tại một số địa phương thực hiện việc công khai một cách “chiếu lệ” (tuy vẫn đúng nội dung cần công khai, đúng địa điểm phải công khai nhưng người dân vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận tất cả nội dung văn bản được công khai, như việc dán thông báo có nhiều trang trên bảng thông báo có lưới bảo vệ(3)...).

YÊU CẦU HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ MỚI

Sau gần 25 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW và 15 năm thực hiện Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế đã có nhiều thay đổi, đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đó là:

Thứ nhất, xu thế toàn cầu hoá kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng. Sự phụ thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa các nước ngày càng trở nên phổ biến. Trong bối cảnh đó, nhu cầu hội nhập quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, củng cố hệ thống chính trị, đồng thời đảm bảo mở rộng và phát huy dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ để giữ vững ổn định chính trị và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thứ hai, những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới đã tạo ra những chuyển biến lớn về nhận thức xã hội. Tư tưởng và ý thức dân chủ ngày càng phát triển trong xã hội. Cùng với sự phát triển của điều kiện kinh tế và mức sống được cải thiện, trình độ dân trí của người dân được nâng lên đáng kể, ý thức về trách nhiệm chính trị và trách nhiệm cộng đồng được vun đắp đặt ra yêu cầu ngày càng cao về đảm bảo quyền dân chủ và tạo ra tiền đề thuận lợi cho quá trình hiện thực hóa các quyền dân chủ của người dân.

Thứ ba, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam là một định hướng có tính nguyên tắc trong chiến lược phát triển của đất nước. Tính tất yếu trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu về hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước, đổi mới phương thức vận hành của Nhà nước theo hướng hoàn thiện thể chế, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân; giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và xã hội, quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân một cách hài hòa, cùng có lợi.

Thứ tư, diễn biến nhanh và phức tạp về tình hình an ninh, chính trị của thế giới và khu vực cùng với sự biến đổi khí hậu, thiên tai dịch bệnh khó lường và những khó khăn nội tại của quá trình phát triển đất nước là những thách thức đặt ra trong quá trình phát triển đất nước, trong thời kỳ mới. Trước những khó khăn, thách thức đó, Đảng ta xác định mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa vừa là yêu cầu, vừa là động lực đưa đất nước vượt qua khó khăn, giành được thắng lợi trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ

Kỳ họp thứ Ba, Quốc hội khóa XV đang xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đây là dự án Luật quan trọng thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về thực hiện dân chủ ở cơ sở, đồng thời là quá trình luật hóa các quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện đang được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau nhằm giải quyết những vướng mắc, bất cập đặt ra trong quá trình tổ chức thực hiện và đáp ứng những yêu cầu của tình hình mới. Với quan điểm của cá nhân tác giả, dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở cần được nghiên cứu, tập trung giải quyết các chính sách sau:

Một là, dự án Luật cần quy định cụ thể phạm vi “cơ sở” cũng như giải thích khái niệm “thực hiện dân chủ ở cơ sở” nhằm phân biệt với các hình thức dân chủ khác hiện đã được quy định cụ thể tại các luật như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật Trưng cầu ý dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật… Theo đó, dự án Luật này chỉ quy định về “thực hiện dân chủ” hay các cách thức, phương pháp và biện pháp bảo đảm để người dân thực hiện quyền dân chủ tại cơ sở mà không quy định nội dung các quyền dân chủ cụ thể. Do vậy, các quy định liên quan đến quyền bầu cử, lấy phiếu tín nhiệm các chức danh lãnh đạo chính quyền địa phương hay các quy định về quyền phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của người dân cần được cân nhắc không thuộc phạm vi điều chỉnh của dự án Luật này. Mặt khác, do giới hạn phạm vi điều chỉnh ở “cơ sở” nên dự án Luật chỉ nên tập trung quy định về hình thức thực hiện dân chủ đặc thù, riêng có tại cơ sở (ví dụ: sáng kiến công dân, tổ chức tự quản địa phương, các hoạt động của cộng đồng dân cư) mà không quy định về thực hiện dân chủ nói chung của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương (ví dụ: hoạt động tiếp công dân, hoạt động tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân…).

Hai là, dự án Luật cần tập trung quy định theo hướng mở rộng hình thức dân chủ trực tiếp bên cạnh hình thức dân chủ đại diện (thông qua Hội đồng nhân dân) hoặc thông qua các cơ chế giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên. Theo đó, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, cần cân nhắc mở rộng phạm vi các nội dung Nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp như quyết định hương ước, quy ước, luật lệ của cộng đồng dân cư; quyết định người đại diện của cộng đồng dân cư... Quyết định của cộng đồng dân cư là quyết định có giá trị thi hành trong cộng đồng dân cư mà không cần được xem xét, phê duyệt bởi một cơ quan, tổ chức khác kể cả Nhà nước. Nhà nước chỉ can thiệp, bãi bỏ quyết định của cộng đồng dân cư trong trường hợp quyết định đó là trái Hiến pháp và pháp luật. Ngoài ra, việc mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở có thể được xem xét theo hướng quy định hình thức sáng kiến nhân dân, công nhận thẩm quyền của người dân trong việc đề xuất các vấn đề để cộng đồng dân cư hoặc chính quyền địa phương quyết định thay vì quyền đề xuất, sáng kiến chỉ thuộc về Nhà nước như quy định hiện hành.

Ba là, thực hiện dân chủ ở cơ sở chỉ mang tính hình thức nếu không có các biện pháp, cơ chế bảo đảm thực hiện. Do vậy, dự án Luật ngoài việc quy định các nội dung, hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở thì còn phải chú trọng đến việc quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện. Biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở bao gồm các yếu tố: sự cởi mở của cơ quan công quyền, bao gồm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền cơ sở; bảo đảm về điều kiện vật chất và phương tiện kỹ thuật, bao gồm chế độ, chính sách và điều kiện hoạt động của các tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư, cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật công khai thông tin, thảo luận, bàn bạc tại cộng đồng dân cư; công cụ đánh giá mức độ thực hiện dân chủ ở cộng đồng dân cư bao gồm các thang, bảng, chỉ số đánh giá chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, đánh giá mức độ tham gia và sự hài lòng của người dân đối với các hoạt động dân chủ tại cơ sở, đánh giá sự phản hồi của chính quyền địa phương đối với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở; năng lực nhận thức của người dân và chính quyền trong việc thực hành dân chủ. Các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở cần được quy định cụ thể, phù hợp với năng lực và điều kiện đáp ứng của Nhà nước và yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn đời sống chính trị - xã hội tại cơ sở./.

-------------------------------

Ghi chú:

(1) GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nền dân chủ trực tiếp đầu tiên của nhân loại, những thành tựu và hạn chế, Kỷ yếu Hội thảo "Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam" (2014).

(2) GS.TS Lê Minh Tâm, tham luận tại Hội thảo góp ý dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Viện Nghiên cứu lập pháp ngày 05/3/2022.

(3) Viện Khoa học pháp lý, Báo cáo tổng hợp kết quả dự án điều tra cơ bản “Nhu cầu tiếp cận thông tin và các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức” (2012).

 

ThS Phạm Thị Hậu - Vụ Chính quyền địa phương, Bộ Nội vụ

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Tổng hợp ý kiến thảo luận của các đại biểu Quốc hội về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở

Ngày đăng 15/06/2022
Sáng ngày 14/6/2022, tại hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội tiến hành thảo luận về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Tạp chí Tổ chức nhà nước tổng hợp những ý kiến của đại biểu Quốc hội mang tính thực tiễn, khoa học, bao quát toàn diện các nội dung của dự án Luật quan trọng này.

Dân chủ là mục tiêu, là động lực để phát triển, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Ngày đăng 14/06/2022
Tiếp tục Chương trình kỳ họp thứ Ba, Quốc hội khóa XV, sáng nay 14/6, tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội tiến hành thảo luận ở hội trường về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đã có 151 ý kiến đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ, trong phiên họp sáng nay có 20 đại biểu Quốc hội phát biểu ý kiến, có 03 đại biểu Quốc hội tranh luận, không khí tranh luận sổi nổi, trí tuệ, dân chủ, rõ ràng, thể hiện trách nhiệm cao, các ý kiến bao quát toàn diện các nội dung của dự án luật.

Các Đoàn đại biểu Quốc hội thảo luận tại Tổ về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở

Ngày đăng 31/05/2022
Chiều 31/5/2022, tại Kỳ họp thứ Ba, Quốc hội khóa XV, các Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đã tiến hành thảo luận tại Tổ, cho ý kiến vào dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Bước tiến mới về quyền làm chủ

Ngày đăng 31/05/2022
Cuối tuần qua, trong chương trình Kỳ họp thứ Ba, Quốc hội khóa XV đã xem xét, cho ý kiến vào dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đây có thể coi là bước tiến mới về thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân.

Khắc phục tính hình thức trong hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân

Ngày đăng 27/05/2022
Tại Kỳ họp thứ Ba, Quốc hội khóa XV tiến hành xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở và dự án Luật Thanh tra (sửa đổi). Báo cáo thẩm tra dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở trước Quốc hội ngày 27/5/2022, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng cho biết, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội tán thành việc chuyển quy định về Thanh tra nhân dân (hiện đang được điều chỉnh tại Luật Thanh tra) sang quy định tại dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, đề nghị kế thừa cách thức quy định của Luật Thanh tra hiện hành, bảo đảm tính đầy đủ và toàn diện của chế định Thanh tra nhân dân.

Tiêu điểm

Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện đưa lên mức độ 4 là 97,3%

Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông về tình hình thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ "về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025" (Báo cáo số 91/BC-BTTTT ngày 30/6/2022), tính đến ngày 28/6/2022, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện đưa lên mức độ 4 là 97,3% (chiếm 53,56% tổng số thủ tục hành chính).