Hà Nội, Ngày 09/12/2021

Chính quyền địa phương và đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã

Ngày đăng: 25/11/2021   02:39
Mặc định Cỡ chữ
Truyền đạt nội dung chuyên đề “Chính quyền địa phương và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã” với các học viên Lớp tập huấn trực tuyến giảng viên, báo cáo viên bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp huyện, cấp xã nhiệm kỳ 2021-2026 từ điểm cầu chính Trụ sở Bộ Nội vụ kết nối tới 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, TS. Phan Văn Hùng, Vụ trưởng Vụ Chính quyền địa phương (Bộ Nội vụ) đã tập trung phân tích những chức năng cơ bản và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương; vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã.
TS Phan Văn Hùng, Vụ trưởng Vụ Chính quyền địa phương (Bộ Nội vụ) truyền đạt nội dung chuyên đề “Chính quyền địa phương và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã”, ngày 16/11/2021.

KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

Hiến pháp năm 2013 quy định: "Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (UBND) được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định".

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) xác định, chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã. Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc Trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, phường, thị trấn.

Chức năng cơ bản của chính quyền địa phương 

Thứ nhất, chức năng thực hiện quyền hành pháp ở địa phương, quản lý dân cư trong lãnh thổ. 

Là trung tâm tổ chức việc thực hiện pháp luật và các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước cấp trên tại địa bàn quản lý của mình, chính quyền địa phương, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao, sử dụng quyền lực nhà nước để quản lý toàn diện (hoặc gần như toàn diện, trừ những mặt không được phân cấp, phân quyền) các quá trình xã hội diễn ra trên địa bàn lãnh thổ. Quyền lực nhà nước mà chính quyền địa phương có được để thực thi không phải là quyền đương nhiên có, mà là quyền Hiến pháp, pháp luật trao cho, thông qua các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của chính quyền địa phương. Nhà nước bảo đảm các phương tiện, nguồn lực, trong đó có ngân sách để chính quyền địa phương thực hiện chức năng này. Chính quyền địa phương thực hiện quyền hành pháp theo các hướng: Thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương và thực hiện quyết định của các cơ quan nhà nước cấp trên; quyết định các chủ trương, biện pháp bằng việc ra nghị quyết để giải quyết các vấn đề của địa phương theo thẩm quyền; kiểm tra, giám sát hoạt động thi hành pháp luật và quyết định của chính quyền địa phương đối với tất cả các cơ quan, tổ chức, công dân trên lãnh thổ hành chính. 

TS Phan Văn Hùng cho biết: Trong những năm vừa qua hoạt động đổi mới chính quyền địa phương đã được diễn ra thường xuyên, bảo đảm nguyên tắc tinh gọn, hiệu quả và phù hợp với xu thế phát triển, bảo đảm tối đa hiệu quả của quản lý đô thị.

Thứ hai, chức năng đại diện cộng đồng, thay mặt cho cộng đồng dân cư tại địa phương, thể hiện tính chất dân chủ của Nhà nước, bảo đảm quyền lợi của địa phương trong mối quan hệ với quyền lợi quốc gia, quyền lợi của các địa phương khác. 

Đại diện cho cộng đồng dân cư địa phương, chính quyền địa phương phản ánh với cơ quan cấp trên về nguyện vọng, mong muốn, nhu cầu chính đáng của địa phương; phản ảnh về những đặc điểm, đặc thù của địa phương; tham gia vào quá trình hoạch định chính sách của cấp trên để bảo đảm cho chính sách phù hợp với tình hình, hoàn cảnh thực tế của địa phương. 

Quyền được quyết định của chính quyền địa phương là quyền tự mình đề ra và thực hiện chính sách cho riêng địa phương theo quy định của Hiến pháp, luật. Ở đây, thể hiện rõ tính chất dân chủ của Nhà nước qua việc trao quyền cho chính quyền địa phương được chủ động tự quyết và tự chịu trách nhiệm về các vấn đề thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương. 

Về mặt hình thức, quyền tự quyết định của chính quyền địa phương được quy định trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, nguồn lực để thực hiện quyền tự quyết này không chỉ từ Trung ương bảo đảm mà địa phương phải tự bảo đảm bằng tài sản, ngân sách riêng và nguồn nhân lực. 

Từ sự luận giải trên, cho thấy "Chính quyền địa phương là những thiết chế quyền lực nhà nước hay quyền lực của cộng đồng lãnh thổ ở địa phương, tùy theo quy định của mỗi quốc gia". Những thiết chế này được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật với chức năng cơ bản là tổ chức thực hiện Hiến pháp, pháp luật, các quyết định của chính quyền Trung ương cũng như giải quyết các vấn đề của địa phương phù hợp với pháp luật và ý nguyện của cư dân ở địa phương.

Cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương

Hội đồng nhân dân: HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Đại biểu HĐND bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND.

Thường trực HĐND là cơ quan thường trực của HĐND, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND. Thành viên của Thường trực HĐND không thể đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp.

HĐND bao gồm các Ban. Ban của HĐND là cơ quan của HĐND, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình HĐND, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND.

HĐND tỉnh có Ban pháp chế, Ban kinh tế - ngân sách, Ban văn hóa - xã hội; nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành lập Ban dân tộc. HĐND thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - ngân sách, Ban văn hóa - xã hội, Ban đô thị. 

HĐND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội. Tại huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành lập Ban dân tộc. 

HĐND cấp xã thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội.

Ủy ban nhân dân: UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. UBND gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên.

Cơ quan chuyên môn thuộc UBND được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên.

Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn.

Nội dung bài giảng của TS Phan Văn Hùng được chia sẻ trực tuyến tới các điểm cầu ở địa phương.

KHÁI QUÁT VỀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, CẤP XÃ

Vị trí, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định: “Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Đại biểu HĐND bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND”. 

Như vậy, xét về mặt cơ cấu tổ chức thì đại biểu HĐND không phải là một cơ cấu riêng biệt của HĐND vì HĐND là một cơ quan hoạt động tập thể có hình thức hoạt động chủ yếu là kỳ họp. Ở đó, tất cả các đại biểu đều tham dự, bình đẳng trong thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND. Có một số đại biểu còn tham gia vào các cơ quan thuộc HĐND như: Thường trực HĐND, các Ban của HĐND. Một số đại biểu khác còn tham gia vào công việc của UBND. Một số hoạt động của đại biểu cùng với tổ đại biểu tại đơn vị bầu cử trực tiếp liên hệ với cử tri, thu thập ý kiến của họ, báo cáo hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết. 

Tuy nhiên, cần phải thấy rằng hoạt động của đại biểu HĐND cũng có tính độc lập nhất định. Bởi lẽ, họ là người phải chịu trách nhiệm trước cử tri và chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Khi làm việc, đại biểu HĐND phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân địa phương. Đại biểu HĐND là người thay mặt nhân dân địa phương quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, thể hiện và phản ánh ý chí, tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân vào nghị quyết của HĐND.

"Các đại biểu HĐND cần nâng cao năng lực của chính mình để đáp ứng được xu thế phát triển, đặc biệt là sử dụng và nắm được công nghệ số nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại và đặc biệt sẵn sàng cho việc xây dựng Chính phủ điện tử giúp nâng cao hiệu quả quản lý tại cấp địa phương." TS Phan Văn Hùng nhấn mạnh.

Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã

Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND ở kỳ họp HĐND: tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên họp HĐND; tham gia thảo luận và biểu quyết chương trình kỳ họp; bầu cử và ứng cử vào các chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND và các Ban của HĐND; thảo luận và biểu quyết những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND. 

Nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND trong mối liên hệ với cử tri: liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập, phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND; trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; tiếp dân định kỳ theo lịch, nhận và chuyển đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, giúp dân theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo đó.

Đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân kịp thời chấm dứt những việc làm trái pháp luật, chính sách của nhà nước trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của cán bộ, công chức, nhân viên cơ quan, tổ chức, đơn vị đó; yêu cầu gặp người phụ trách của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân; kiến nghị với cơ quan nhà nước về việc thi hành pháp luật, chính sách của nhà nước và về những vấn đề thuộc lợi ích chung; đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND bầu.

Bên cạnh đó, đại biểu HĐND có quyền được tạo điều kiện hoạt động; được hưởng các chế độ đối với đại biểu HĐND; miễn trừ của đại biểu HĐND theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

Đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND, Ủy viên UBND, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu HĐND chất vấn. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu, đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.

Đại biểu HĐND có thể đề nghị thôi làm nhiệm vụ đại biểu vì lý do sức khỏe hoặc vì lý do khác. Việc chấp nhận đại biểu HĐND thôi làm nhiệm vụ đại biểu do HĐND cùng cấp xem xét, quyết định. Đại biểu HĐND đã thôi làm nhiệm vụ đại biểu hoặc bị mất quyền đại biểu thì đương nhiên thôi đảm nhiệm các chức vụ trong Thường trực HĐND, Ban của HĐND./.

Tâm Anh

Tin tức cùng chuyên mục

Cán bộ, công chức, viên chức không phải thực hiện nội dung bồi dưỡng tiếng dân tộc, tin học và ngoại ngữ

Ngày đăng 08/12/2021
Ngày 10/12/2021, Nghị định số 89/2021/NĐ-CP ngày 18/10/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức có hiệu lực thi hành.

Xây dựng nội dung bồi dưỡng gắn với vị trí việc làm phù hợp với các đối tượng tham gia bồi dưỡng

Ngày đăng 06/12/2021
Đó là một trong những yêu cầu được nêu trong Quyết định số 1234/QĐ-BNV ngày 03/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về Phê duyệt Kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2021-2025.

Khẩn trương, rà soát để sửa đổi các quy định về mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy cho phù hợp với các quy định tại Nghị định số 89/2021/NĐ-CP

Ngày đăng 05/12/2021
Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 324/TB-VPCP về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam tại cuộc họp về các vấn đề đại biểu Quốc hội chất vấn tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV, liên quan tới việc đổi mới, sắp xếp, nâng cao chất lượng các đơn vị sự nghiệp công lập cả về đầu mối trường lớp, số lượng, chất lượng giáo viên, cán bộ quản lý theo tinh thần Nghị quyết 19; biên chế giáo viên, chế độ phụ cấp đối với giáo viên vùng cao; chính sách cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

Cân nhắc việc tổ chức mới các lớp bồi dưỡng cấp chứng chỉ tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp để bảo đảm phù hợp với quy định của Nghị định số 89/2021/NĐ-CP

Ngày đăng 03/12/2021
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa có Công văn số 5392/BGDĐT- NGCBQLGD gửi các Sở Giáo dục và Đào tạo về việc bổ nhiệm, xếp lương giáo viên mầm non, phổ thông theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp.

Kỹ năng thuyết trình, thảo luận, tranh luận của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Ngày đăng 02/12/2021
ThS Ngô Tự Nam - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội là giảng viên trực tiếp tham gia bồi dưỡng chuyên đề “Kỹ năng thuyết trình, thảo luận, tranh luận của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh” diễn ra từ ngày 23/11 đến ngày 25/11/2021 do Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức Lớp bồi dưỡng trực tuyến đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026 (lớp thứ hai).