Hà Nội, Ngày 20/06/2021

Các yếu tố tác động đến sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động quản lý nhà nước

Ngày đăng: 31/05/2021   09:00
Mặc định Cỡ chữ
Thông qua việc giới thiệu các hình thức, mức độ tham gia và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động quản lý nhà nước, bài viết khẳng định sự cần thiết phải tiếp huy động và nâng cao hiệu quả sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động quản lý nhà nước ở Việt Nam.

Quan niệm và các hình thức tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động quản lý nhà nước

Theo định nghĩa của Từ điển Oxford, sự tham gia có nghĩa là “có một phần” hay “góp phần”, nhấn mạnh các quyền của cá nhân và những lựa chọn mà họ thực hiện để tham gia vào một hoạt động nào đó. Lần đầu tiên thuật ngữ “sự tham gia” được đưa ra thảo luận trong cộng đồng kiến trúc vào thập niên 60 của thế kỷ XX và đến giữa năm 1970, thuật ngữ này đã được sử dụng rộng rãi sau khi các trang web và các dịch vụ về thiết kế nhà ở có sự tham gia của cộng đồng nhận được sự chấp thuận và tài trợ của Ngân hàng Thế giới tại các nước đang phát triển.

Sự tham gia có thể được hiểu là một số hình thức tham gia của người dân, với các nhu cầu và mục tiêu giống nhau, nhằm đưa ra những quyết định có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ. Trên thế giới, không một chính phủ hay chính quyền nào có đủ điều kiện để có thể giải quyết tất cả các vấn đề công, do đó sự tham gia của người dân, doanh nghiệp vào giải quyết các vấn đề công là thực sự cần thiết. Tuy nhiên, việc trao quyền kiểm soát và ra quyết định đối với các chính sách cho những người bị ảnh hưởng nhiều nhất không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, vì vậy đòi hỏi các nhà chức trách và chính quyền phải có thái độ phù hợp.

Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về Phát triển có sự tham gia (1995) định nghĩa sự tham gia là “một quá trình mà qua đó các bên liên quan ảnh hưởng và kiểm soát đối với các sáng kiến phát triển cũng như các quyết định và các tài nguyên có ảnh hưởng đến họ”(1).

Như vậy, tham gia là một quá trình mà thông qua đó các bên liên quan có ảnh hưởng và chia sẻ quyền kiểm soát các sáng kiến cũng như các quyết định và nguồn lực có ảnh hưởng đến họ.

Quản lý nhà nước (QLNN) là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân, tổ chức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Nội dung cơ bản của hoạt động QLNN có thể tóm lược thông qua việc thực thi các loại quyền lực nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh mọi quan hệ xã hội, làm cho quốc gia phát triển ổn định và bền vững theo đúng định hướng xác định. Hoạt động QLNN bao gồm: 1) Xây dựng pháp luật; 2) Tổ chức thi hành pháp luật; 3) Kiểm soát hoạt động của đối tượng quản lý theo quy định của pháp luật.

Việc tham gia vào QLNN có thể được định nghĩa là quá trình mà qua đó những người quan tâm (các bên liên quan) ảnh hưởng và chia sẻ quyền kiểm soát các sáng kiến QLNN, các quyết định và các nguồn lực để thực hiện. Trong thực tế, điều này liên quan đến việc sử dụng các biện pháp: xác định các bên liên quan, chia sẻ thông tin, lắng nghe các quan điểm, tham gia vào quá trình lập kế hoạch phát triển và đưa ra quyết định, đóng góp vào xây dựng năng lực và trao quyền cho họ để bắt đầu, quản lý và tự kiểm soát. Sự tham gia của doanh nghiệp vào QLNN là quá trình tham gia ý kiến hoặc trực tiếp thực hiện các hoạt động cung ứng dịch vụ công và được chia sẻ quyền kiểm soát hoạt động QLNN.

Doanh nghiệp có thể tham gia vào quá trình QLNN thông qua nhiều kênh và hình thức khác nhau, cụ thể là:

Một là, hình thức tham gia trực tiếp: theo hình thức này, doanh nghiệp được tiếp cận thông tin, chia sẻ sáng kiến, đóng góp nguồn lực trực tiếp vào quá trình QLNN thông qua hội thảo, hội nghị, đối thoại, tiếp xúc doanh nghiệp của cơ quan nhà nước; cổng thông tin điện tử của cơ quan hành chính nhà nước; hòm thư góp ý/phiếu góp ý/máy đánh giá… tại cơ quan hành chính nhà nước; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng…

Hai là, thông qua các hiệp hội: là những hình thức tổ chức tự nguyện phi lợi nhuận của các cá nhân, tổ chức cùng ngành nghề, cùng sở thích, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên. Các hiệp hội doanh nghiệp hiểu rõ những tác động của chính sách, pháp luật đến hoạt động của doanh nghiệp và nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, đặc biệt là trong việc tuân thủ pháp luật. Do đó, các hiệp hội đóng vai trò quan trọng trong việc đóng góp ý kiến, tham gia vào quá trình xây dựng các văn bản pháp luật liên quan tới doanh nghiệp, đồng thời kiến nghị các giải pháp tháo gỡ vướng mắc liên quan trong quá trình thực thi pháp luật.

Sự cần thiết và mức độ huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động quản lý nhà nước

Thứ nhất, sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình QLNN là một kênh để đánh giá hiệu quả QLNN.

Sự tham gia tích cực trong các phản hồi chính sách, trong các nỗ lực về cắt giảm thủ tục hành chính cho phép các cơ quan hành chính đánh giá về hiệu quả QLNN. Bởi sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong giải quyết các công việc chính là tiêu chí đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước. Với mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh, huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào QLNN có thể xem như một thước đo để đánh giá về môi trường kinh doanh. Cơ quan QLNN khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật cũng khó dự báo hết những tác động tích cực và không tích cực của văn bản đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN giúp cơ quan nhà nước nhận diện đầy đủ hơn về tính hợp pháp, tính hợp lý của các quy định và những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn.

Thứ hai, doanh nghiệp có thể đề xuất những sáng kiến cho QLNN.

Những phản ánh của doanh nghiệp về vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật, các quy định về thủ tục hành chính, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, chất lượng cung ứng dịch vụ công… là những thông điệp, những tín hiệu sinh động nhất của thực tiễn để các cơ quan hành chính nhà nước tìm ra những điểm nghẽn, bất cập trong QLNN. Những bất cập của chính sách, pháp luật sẽ không thể được nhìn nhận thấu đáo và toàn diện nếu thiếu sự phản hồi từ phía người dân và doanh nghiệp. Những phản ánh, kiến nghị, đề xuất của doanh nghiệp có thể cung cấp những thông tin có giá trị cho hoạt động QLNN, kiến tạo nền tảng cho sự phát triển, hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm phát huy hiệu quả.

Thứ ba, huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN là sự khẳng định về tinh thần phục vụ của nền hành chính nhà nước.

Doanh nghiệp là khách hàng, là đối tượng phục vụ của Nhà nước, vì vậy, thiếu vắng sự tham gia của người dân, doanh nghiệp trong QLNN sẽ không thể hiện được đầy đủ tinh thần phục vụ của Nhà nước.

Thứ tư, sự tham gia của doanh nghiệp trong QLNN góp phần nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức.

Trong các mức độ tham gia thì mức độ cao nhất là giám sát hoạt động QLNN. Các doanh nghiệp tham gia ở mức độ này sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, giảm sách nhiễu, tiêu cực và nâng cao tinh thần phục vụ.

Thứ năm, sự tham gia của doanh nghiệp vào QLNN góp phần bổ sung những kinh nghiệm quản lý có giá trị cho các cơ quan hành chính nhà nước.

Một trong những tinh thần của quản lý công mới là sự áp dụng những kinh nghiệm thành công của khu vực tư vào khu vực công, trong đó có kinh nghiệm quản lý. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà xu hướng quản lý công mới được áp dụng ở nhiều quốc gia. Đối với Việt Nam, kinh nghiệm về quản lý nhân sự, các sáng kiến trong thực hiện thủ tục hành chính nội bộ của các doanh nghiệp có thể là những gợi mở quan trọng cho các cơ quan hành chính nhà nước trong hoạt động QLNN.

Bên cạnh sự cần thiết thì sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN được thể hiện ở 04 mức độ như sau:

Mức độ 1: Doanh nghiệp tiếp cận thông tin về QLNN.

Tiếp cận thông tin là nhu cầu không chỉ của doanh nghiệp mà của mọi đối tượng, do đó mỗi địa phương, cơ quan, tổ chức cần nâng cao chất lượng cung cấp thông tin để doanh nghiệp có thể tiếp cận dễ dàng và thuận tiện. Hiện nay, Nhà nước đang xây dựng chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số và nền kinh tế số ở Việt Nam, do đó người dân, doanh nghiệp càng phải được tiếp cận đầy đủ thông tin liên quan đến sự quản lý điều hành và phát triển kinh tế - xã hội. Đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự tham gia ở những mức độ cao hơn.

Mức độ 2: doanh nghiệp tham gia ý kiến trong quá trình xây dựng chính sách.

Sự tham gia ý kiến của doanh nghiệp góp phần đảm bảo các quyết định của Nhà nước có cân nhắc đến những đóng góp của doanh nghiệp, đặc biệt là những vấn đề liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp và cũng để doanh nghiệp thực sự tin tưởng vào phương hướng hành động được lựa chọn; đồng thời tăng cường hiệu quả của chính sách trong thực tiễn.

Mức độ 3: doanh nghiệp trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ công.

Một giải pháp thúc đẩy thành công của cải cách hành chính ở các nước phát triển là xã hội hóa cung ứng dịch vụ công. Các nước thực hiện mô hình quản lý công mới luôn tìm cách giảm bớt số lượng và quy mô của các dịch vụ trước đây do nhà nước cung cấp và chuyển giao cho khu vực ngoài nhà nước đảm nhiệm. Quá trình tái cơ cấu khu vực công bằng cách chuyển giao cho tư nhân và huy động các nguồn lực của tư nhân tham gia cùng với nhà nước cung cấp dịch vụ công góp phần giảm gánh nặng chi ngân sách của nhà nước, đồng thời giúp bộ máy nhà nước tái cơ cấu để trở nên gọn nhẹ hơn, hoạt động nhanh nhạy hơn, đáp ứng đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa.

Mức độ 4: doanh nghiệp giám sát hoạt động QLNN.

Giám sát là mức độ tham gia cao nhất của doanh nghiệp trong QLNN. Trách nhiệm giải trình trong khu vực công là điều kiện huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình hoạch định, xây dựng, thực thi chính sách cũng như giám sát hoạt động của các cấp, các ngành.

Các yếu tố tác động đến sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động quản lý nhà nước

Các yếu tố về phía nhà nước

Thứ nhất, nhận thức về huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN.

Các quy định pháp lý, cơ chế, phương thức huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN chỉ có ý nghĩa khi đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước chủ động, tích cực thực hiện, biết lắng nghe và sẵn sàng lắng nghe các ý kiến, sự phản hồi của doanh nghiệp về kết quả, những vấn đề cần tiếp tục được cải thiện, đổi mới trong hoạt động QLNN.

Các cơ quan nhà nước cần nhìn nhận doanh nghiệp vừa là đối tượng chịu sự tác động, vừa là đối tác. Tính chất đối tác thể hiện trên nhiều hình thức khác nhau và phải thể hiện trong tư duy luôn coi doanh nghiệp là khách hàng của các cơ quan hành chính nhà nước; từ đó thiết lập cơ cấu tổ chức hợp lý để hiểu khách hàng thông qua điều tra, nghiên cứu khách hàng, chăm sóc, theo dõi khách hàng, giải quyết các kiến nghị, yêu cầu của khách hàng. Xây dựng các cam kết về sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước đối với doanh nghiệp, đồng thời thừa nhận vai trò khách hàng của doanh nghiệp đối với hoạt động QLNN.  

Thứ hai, thể chế bảo đảm huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN.

Sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN cần được ghi nhận và đảm bảo bằng các thể chế QLNN. Bên cạnh đó, cần xác lập phương thức, cơ chế tham gia, vai trò, tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp đối với hoạt động QLNN để giúp doanh nghiệp có được khung pháp lý cho việc tham gia và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan QLNN trong việc huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN.

Thứ ba, trách nhiệm huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN.

Yếu tố này thể hiện cơ quan QLNN thực sự quan tâm, mong muốn, lắng nghe ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp. Khi các cơ quan QLNN chưa thực sự sẵn sàng, chưa thực sự quan tâm và coi doanh nghiệp là một chủ thể quan trọng trong hoạt động QLNN thì việc huy động sự tham gia của doanh nghiệp sẽ không thể đạt được kết quả như mong đợi.

Thứ tư, cơ chế, phương thức huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN.

Để tham gia vào hoạt động QLNN, cộng đồng doanh nghiệp cần được Nhà nước cho phép tham gia vào những nội dung gì, cách thức, hình thức tham gia và giá trị của sự tham gia đối với hoạt động QLNN. Việc xác định rõ cơ chế, phương thức tham gia sẽ tạo điều kiện thuận lợi, tạo ra sự chủ động của doanh nghiệp trong quá trình tham gia vào hoạt động QLNN.

Thứ năm, tính công khai, minh bạch của nền hành chính.

Công khai nghĩa là hoạt động của nhà nước phải được công bố hoặc phổ biến, truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng để doanh nghiệp có thể tiếp cận dễ dàng. Minh bạch nghĩa là không khuất tất, không rắc rối, không gây khó khăn cho người dân trong tiếp cận thông tin. Và thực hiện đúng chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Các yếu tố về phía doanh nghiệp

Một là, nhận thức của doanh nghiệp về vai trò và việc tham gia vào hoạt động QLNN, thể hiện trước hết ở nhận thức về vai trò của doanh nghiệp trong hoạt động QLNN. Nếu doanh nghiệp cảm nhận rõ ý kiến của mình được các cơ quan nhà nước lắng nghe trong hoạt động QLNN, doanh nghiệp sẽ tham gia tích cực vào hoạt động này. Sự chủ động tham gia vào hoạt động QLNN giúp doanh nghiệp có tinh thần chủ động, tích cực đưa ra các ý kiến liên quan đến QLNN về ngành/lĩnh vực có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp chủ động và mong muốn tham gia sẽ tìm hiểu các quy định của pháp luật, tăng cường tham gia ý kiến vào quá trình xây dựng và triển khai thực hiện.

Hai là, năng lực tham gia vào hoạt động QLNN của doanh nghiệp, thể hiện ở sự am hiểu pháp luật liên quan đến quyền tham gia QLNN của doanh nghiệp. Khi đó, doanh nghiệp sẽ chủ động, tích cực hơn trong quá trình tham gia vào hoạt động QLNN. Trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc tham gia vào hoạt động QLNN, trong khi đó đây là phương thức quan trọng nhất, định hướng doanh nghiệp trở thành một bộ phận của quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước.

Năng lực tham gia vào hoạt động QLNN của doanh nghiệp còn thể hiện ở nguồn lực để tham gia vào hoạt động QLNN, như: năng lực tham gia góp ý kiến, năng lực giám sát hoạt động QLNN, đặc biệt là năng lực cung ứng các dịch vụ công, thường là yêu cầu đầu tư vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu dài và các yêu cầu chặt chẽ về quy trình kỹ thuật và thái độ phục vụ.

Ba là, vai trò của các hiệp hội, các tổ chức doanh nghiệp.

Sự chủ động tham gia của các hiệp hội, các tổ chức doanh nghiệp phản ánh tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động QLNN, bởi đây là một kênh để các doanh nghiệp tham gia vào quá trình QLNN.

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả huy động sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp vào hoạt động quản lý nhà nước

Về phía Nhà nước

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế về huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN.

Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin, quyền tham gia ý kiến của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN; những quy định đảm bảo doanh nghiệp được tham gia cung ứng dịch vụ công; đảm bảo quyền giám sát của doanh nghiệp đối với hoạt động QLNN.

Thứ hai, xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN.

Xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp tiếp cận các thông tin của Nhà nước, tham gia góp ý kiến vào hoạt động QLNN. Đồng thời, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia cung ứng dịch vụ công và giám sát hoạt động QLNN.

Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện các phương thức huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động QLNN.

Đa dạng hóa các phương thức để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng tham gia vào hoạt động QLNN. Mặt khác, đảm bảo cho doanh nghiệp có cơ sở pháp lý và khả năng buộc các cơ quan, công chức nhà nước giải trình về những gì đã làm, chưa làm hoặc không làm trong quá trình thực thi công vụ.

Về phía doanh nghiệp

Một là, tăng cường nhận thức về vai trò, vị trí của doanh nghiệp trong hoạt động QLNN: doanh nghiệp cần nhận thức được vị trí, vai trò quan trọng trong hoạt động QLNN và chủ động tiếp cận thông tin, trực tiếp thực hiện, tham gia ý kiến và giám sát hoạt động QLNN.

Hai là, nâng cao năng lực tham gia vào hoạt động QLNN của doanh nghiệp: doanh nghiệp cần nâng cao năng lực để có đủ khả năng tham gia ý kiến vào quá trình xây dựng dự thảo chính sách, pháp luật; trực tiếp thực hiện các hoạt động cung ứng dịch vụ công và tham gia giám sát các hoạt động QLNN.

Sự kết hợp thực sự hiệu quả giữa hoạt động của Nhà nước và sự tham gia của người dân, doanh nghiệp chỉ có thể đạt được khi có những biện pháp, cơ chế khuyến khích những người thụ hưởng, chịu sự tác động tham gia vào quá trình xây dựng, hoạch định và thực hiện chính sách. Điều này vừa tăng tính khả thi của các chính sách, pháp luật trong thực tiễn, đồng thời đảm bảo quyền được tham gia - loại quyền mới của các đối tượng thụ hưởng chính sách theo các lý thuyết quản trị nhà nước hiện đại./.

-------------------------------

Ghi chú:

(1) World Bank (1995), World Bank participation sourcebook, Series: Environmiiiental manaagemilenlt series (Washington. D.C.).

Tài liệu tham khảo:

1. Bùi Thị Ngọc Hiền (2019), Huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bộ Nội vụ, mã số 04/2017.

2. Charles Abrams, Robert Kolodny (1971), The Language of Cities: A Glossary of Terms, The Viking Press, Inc., 625 Madison Avenue, New York, New York 10022

3. Creighton JL (2005), The Public Participation Handbook: Making Better Decisions Through Citizen Involvement. San Fransisco: Jossey-Bass

 

TS Bùi Thị Ngọc Hiền - Khoa Hành chính học, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Tạp chí Tổ chức nhà nước số 5/2021

Tin tức cùng chuyên mục

Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc

Ngày đăng 07/06/2021
Cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số có vai trò rất quan trọng trong hệ thống chính trị ở vùng dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc; là những hạt nhân tiêu biểu trong việc phát huy sức mạnh đoàn kết của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là người trực tiếp góp phần tổ chức đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc. Vì vậy, để xây dựng chính quyền cấp cơ sở vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, cần quan tâm thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc đủ về số lượng, cao về chất lượng, năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Nâng cao năng lực cho đội ngũ viên chức lãnh đạo, quản lý tại các trường đại học công lập ở Việt Nam

Ngày đăng 27/05/2021
Năng lực là một tập hợp các kỹ năng, kiến thức, hành vi, thái độ được cá nhân tích lũy và sử dụng để đạt được kết quả theo yêu cầu công việc. Các năng lực này có thể gia tăng hoặc bị kìm hãm từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Qua việc phân tích các yếu tố tác động này, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ viên chức lãnh đạo, quản lý tại các trường đại học công lập ở Việt Nam.

Phát triển kinh tế - xã hội: nhiệm vụ trung tâm trong Chiến lược phát triển tổng thể của đất nước

Ngày đăng 25/05/2021
Qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử về mọi mặt, đặc biệt là sự phát triển kinh tế - xã hội. Bài viết đề cập những nội dung cơ bản về vai trò của phát triển kinh tế - xã hội với tính chất là nhiệm vụ trung tâm trong Chiến lược phát triển Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng để phát triển đất nước nhanh và bền vững

Ngày đăng 24/05/2021
Bài viết khái quát quá trình xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam qua 91 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt là tinh thần, nội dung của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm tiếp tục tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng để đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam 

Ngày đăng 21/05/2021
Qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những thành tựu đó là do Đảng và Nhà nước ta không ngừng mở rộng dân chủ và thực hiện dân chủ trên mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị, tạo điều kiện giải phóng năng lực con người, khơi dậy và phát huy sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của Nhân dân. Sự thống nhất giữa “ý Đảng” với “lòng Dân” trên nền tảng nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển đất nước.