Hà Nội, Ngày 03/03/2021

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Bạc Liêu

Ngày đăng: 17/02/2021   03:29
Mặc định Cỡ chữ
Cán bộ, công chức cấp xã là những người làm việc trong bộ máy chính quyền cấp xã - cấp chính quyền gần Nhân dân nhất, là những người trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện, đưa đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống. Do đó, đội ngũ này có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện quản lý nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Từ việc đánh giá thực trạng trên các mặt năng lực chuyên môn và phẩm chất chính trị, đạo đức, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Bạc Liêu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

1. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Bạc Liêu

Tỉnh Bạc Liêu hiện có 64 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 10 phường, 05 thị trấn và 49 xã. Trong những năm qua, cấp ủy đảng và chính quyền các cấp của tỉnh Bạc Liêu luôn quan tâm đến nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh thông qua việc ban hành và thực hiện các chính sách thu hút, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng… để từng bước nâng cao chất lượng cả về chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị của đội ngũ này nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

1.1. Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ

So sánh với giai đoạn năm 2014 - 2018, đến nay trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Bạc Liêu đã được nâng lên rõ rệt. Nếu như năm 2014, số cán bộ, công chức cấp xã chưa qua đào tạo là 30 người, chiếm tỷ lệ 3,01%; trình độ sơ cấp là 03 người, chiếm tỷ lệ 0,30%; trung cấp là 527 người, chiếm tỷ lệ 52,81%; cao đẳng là 13 người, chiếm tỷ lệ 1,30%; đại học là 424 người, chiếm tỷ lệ 42,48%; sau đại học là 01 người, chiếm tỷ lệ 0,10%, thì đến năm 2018 đã có 100%  cán bộ, công chức cấp xã có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, trong đó: cao đẳng có 21 người, chiếm tỷ lệ 2,09%; đại học có 758 người, chiếm tỷ lệ 75,42%; sau đại học có 04 người, chiếm tỷ lệ 0,40%(1).

Theo Quyết định số 04/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ về việc ban hành tiêu chuẩn cụ thể đối với  cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và Thông tư số 13/2019/ TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ Nội vụ hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách của tỉnh Bạc Liêu đều đạt tiêu chuẩn theo quy định.

1.2. Về trình độ lý luận chính trị

Theo số liệu của Sở Nội vụ tỉnh Bạc Liêu, năm 2014, trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức cấp xã từ trung cấp trở lên chiếm 63,43% (trình độ sơ cấp và chưa qua đào tạo là 36,57%) thì đến năm 2018, trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên của cán bộ, công chức cấp xã đã chiếm 77,61% (trình độ sơ cấp và chưa qua đào tạo là 22,39%). Tuy nhiên, đánh giá chung cho thấy trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức cấp xã theo vị trí công tác không đồng đều và mới chỉ tập trung ưu tiên đào tạo lý luận chính trị từ trung cấp trở lên cho các chức danh chủ tịch UBND (đạt 100%), chỉ huy trưởng quân sự (đạt 100%), phó chủ tịch UBND (đạt 95,08%), trưởng công an (đạt 93,65%). Các chức danh còn lại cũng được quan tâm đào tạo, nhưng số lượng có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên còn hạn chế như văn phòng - thống kê (76,88%), văn hóa - xã hội (70,08%), địa chính - nông nghiệp - xây dựng - môi trường (69,31%), tư pháp - hộ tịch (62,20%) và tài chính - kế toán (56,25%).

Mặt khác, trình độ lý luận chính trị của  cán bộ, công chức theo địa bàn công tác không đồng đều; đơn vị có số cán bộ, công chức đạt trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên cao nhất là huyện Hồng Dân (86,71%); thị xã Giá Rai đạt 85,06%; huyện Hòa Bình đạt 84,00%; huyện Đông Hải đạt 80,46%; huyện Phước Long đạt 69,60%; huyện Vĩnh Lợi đạt 64,00%; thành phố Bạc Liêu đạt 71,07%(2). 

1.3. Về trình độ quản lý nhà nước

Việc bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Bạc Liêu thời gian qua còn nhiều hạn chế. Cụ thể, năm 2018 tỷ lệ cán bộ, công chức giữ các vị trí lãnh đạo ở cấp xã được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước từ chuyên viên trở lên còn thấp; đối với chức danh chủ tịch UBND đạt 41,27%; chức danh phó chủ tịch UBND đạt 13,11%; chức danh trưởng công an đạt 11,11%; chỉ huy trưởng quân sự đạt 4,69%; trong khi đó tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã chưa qua bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chiếm tới 91,94%.

1.4. Về trình độ tin học

Trình độ tin học của cán bộ, công chức cấp xã được nâng lên đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính. Nếu như năm 2014, tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã có trình độ tin học từ chứng chỉ A trở lên đạt 63,33%; năm 2015 là 69,78%; năm 2016 là 87,40%; năm 2017 là 91,21%; thì đến năm 2018 đã đạt 93,93%. Trong đó, trình độ tin học của cán bộ, công chức cấp xã được phân bố đều ở các chức danh, riêng chức danh văn phòng - thống kê được bố trí người có trình độ tin học từ trung cấp trở lên là 27 người, chiếm 61,36% trong tổng số cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh. 

Về cơ bản, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Bạc Liêu đã và đang được nâng cao về năng lực và rèn luyện các kỹ năng cần thiết trong xử lý đối với công việc được giao, có thái độ đúng đắn trong quá trình thực thi công vụ; thể hiện rõ tính tích cực, tự giác, thực hiện nghiêm kỷ cương hành chính; ít để xảy ra hiện tượng sách nhiễu, phiền hà trong thực thi công vụ. Phần lớn đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vận dụng thành thạo kiến thức chuyên môn được đào tạo vào việc triển khai các văn bản, quy định của Nhà nước trong xử lý công việc và ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện nhiệm vụ.

Bên cạnh kết quả đạt được, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Bạc Liêu vẫn còn nhiều hạn chế. Đó là, một số cán bộ, công chức thiếu kinh nghiệm thực tiễn, tinh thần học hỏi chưa cao nên trong thực thi công vụ còn nhiều thiếu sót, xử lý công việc thiếu chính xác, làm mất nhiều thời gian, công sức của người dân, chậm tiến độ triển khai công việc, gây ra tình trạng trì trệ ở nhiều khâu; triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao còn chậm, chưa chủ động, vẫn còn tình trạng chờ văn bản giao việc hoặc đôn đốc mới triển khai thực hiện; công tác tham mưu có lúc chưa nhanh nhạy, hiệu quả chưa cao; việc phối hợp giữa các cấp, các bộ phận trong thực thi công vụ có lúc, có nơi chưa chặt chẽ; một bộ phận cán bộ, công chức còn có biểu hiện gây khó khăn, phiền hà cho tổ chức, người dân trong giải quyết công việc.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế nêu trên là do công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ chưa được chú trọng đúng mức, chưa gắn với quy hoạch cán bộ và vị trí việc làm. Công tác đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng chưa đầy đủ và khách quan, còn mang tính hình thức; đào tạo theo hình thức tại chức, từ xa chưa thực sự hiệu quả. Chất lượng, số lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Bạc Liêu nhìn chung chưa đồng đều, có nhiều mặt chưa tương ứng, chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tinh thần trách nhiệm, phong cách làm việc còn có mặt yếu kém và chậm được đổi mới.

Đặc biệt, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Bạc Liêu còn thiếu kỹ năng về nghiệp vụ quản lý, kiến thức về kinh tế và hiểu biết pháp luật. Mặt khác, do trình độ của đội ngũ này chưa đồng đều giữa các địa phương trong tỉnh và thường xuyên thay đổi nên đã ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật tại địa phương. Việc bố trí, sử dụng, phân công công tác đối với cán bộ, công chức ở một số UBND cấp xã còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với chuyên môn, chưa phát huy hết khả năng của đội ngũ cán bộ, công chức hiện có.

2. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Bạc Liêu thời gian tới

Một là, đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

Việc tuyển dụng, bố trí cán bộ, công chức cấp xã cần căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác, tiêu chuẩn và số lượng của chức danh thực tế cần tuyển dụng; phải căn cứ vào ngành nghề đang thiếu và đòi hỏi cao về chất lượng đầu vào. Thực hiện thông tin công khai, rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng (như báo, đài phát thanh - truyền hình, trang thông tin điện tử) về nội dung, yêu cầu, số lượng chức danh cần tuyển, lịch thi, tiêu chuẩn ưu tiên cho người dự tuyển biết để thu hút nhiều người tham gia dự tuyển, vừa bảo đảm tính công khai, công bằng, dân chủ, minh bạch vừa lựa chọn được người tài, có tâm huyết vào làm việc trong hệ thống chính quyền cấp xã. 

Cần xây dựng phương pháp tuyển dụng hợp lý theo hướng quy định phương thức tuyển dụng khác nhau theo lĩnh vực quản lý nhà nước. Quán triệt và thực hiện nghiêm túc quy định về tiêu chuẩn của từng chức danh cán bộ, công chức cấp xã; kiên quyết không bố trí những người không đủ điều kiện, tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ vào các chức danh theo quy định. Trong bố trí, sử dụng cần tạo điều kiện và cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi cán bộ, công chức để họ phát huy được sở trường và năng lực công tác của mình.

Hai là, về công tác đào tạo, bồi dưỡng.

Chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức  cấp xã cho từng năm và cả nhiệm kỳ. Tổ chức rà soát để có phương án đào tạo, bồi dưỡng đối với những người còn thiếu tiêu chuẩn quy định. Đồng thời, xây dựng phương án bố trí, sắp xếp sang vị trí công tác khác đối với những người được cử đi đào tạo, bồi dưỡng nhưng không hoàn thành đúng thời gian quy định. Đối với cán bộ, công chức  lớn tuổi ở cấp xã hiện nay, nếu không đáp ứng đủ trình độ chuyên môn, không có nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng thì có thể giải quyết theo chế độ thôi việc để kiện toàn và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cho phù hợp với quy định. 

Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào nhu cầu thực tế của đơn vị và vị trí công tác của mỗi cán bộ, công chức. Phải đổi mới tư duy trong công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng gắn đào tạo, bồi dưỡng với sử dụng, đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm chứ không chạy theo bằng cấp. Đặc biệt, đối với các xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống phải quan tâm cử cán bộ, công chức đủ điều kiện đi bồi dưỡng tiếng dân tộc; có chính sách khuyến khích đối với cán bộ, công chức đi học tiếng dân tộc để khích lệ tinh thần học hỏi và phát huy năng lực công tác của họ.

Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng tin học và ngoại ngữ cho cán bộ, công chức cấp xã. Nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng  được lấy từ nguồn kinh phí hoạt động của địa phương. Ngoài ra, nếu cán bộ, công chức có nhu cầu nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhưng không nằm trong diện được cử đi học hay cấp kinh phí đào tạo thì cần có chính sách linh động tạo điều kiện hỗ trợ về thời gian giúp họ có cơ hội nâng cao trình độ chuyên môn.

Ba là, tăng cường và nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, đánh giá đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ, công chức cấp xã phải được thực hiện thường xuyên kết hợp với kiểm tra đột xuất, có trọng tâm, trọng điểm của cấp ủy đảng, chính quyền và các đoàn thể ở cấp xã cũng như thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc cấp xã. Đặc biệt, cần nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, tinh thần tương thân tương ái, tuyệt đối không lợi dụng công tác kiểm tra, giám sát để moi móc, cố ý trù dập lẫn nhau. Đối với những cán bộ, công chức cấp xã yếu kém về năng lực và phẩm chất, không đáp ứng được yêu cầu công tác thì cần có kế hoạch luân chuyển sang làm công việc khác phù hợp, hoặc động viên họ xin thôi việc để bố trí, tuyển dụng người có đủ năng lực đáp ứng được vị trí công tác.

Bên cạnh đó, cần có chính sách động viên, khen thưởng kịp thời, xứng đáng đối với những cán bộ, công chức được Nhân dân tín nhiệm, gắn liền với hiệu quả công việc được giao. Đồng thời, phải có hình thức xử lý phù hợp, nghiêm minh đối với cán bộ, công chức không có năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm những quy định trong thực thi nhiệm vụ. 

Bốn là, thực hiện có hiệu quả chính sách thu hút nhân tài, trí thức trẻ.

Cần có kế hoạch thực hiện các chính sách theo hướng mở rộng các đối tượng nhằm thu hút nhân tài, các trí thức trẻ về làm việc tại UBND cấp xã. Trong đó, có chính sách thu hút những sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy đạt loại khá, giỏi, xuất sắc trở lên về công tác, cống hiến tại địa phương; tích cực tuyên truyền và thực hiện nghiêm chính sách thu hút nhân tài về làm việc tại cơ sở; xây dựng chính sách phù hợp áp dụng cho các đối tượng cán bộ, công chức đi học theo hướng khuyến khích; tăng nguồn ngân sách dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng. Thực hiện đồng bộ, kịp thời các chính sách về tiền lương, khen thưởng đối với cán bộ, công chức cấp xã.

Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích cán bộ, công chức tự học tập, rèn luyện để nâng cao kiến thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ, như hỗ trợ kinh phí học tập, tổ chức kiểm tra sát hạch công chức kết hợp với khảo sát lấy ý kiến phản hồi của người dân về thái độ, tinh thần phục vụ, kỹ năng giải quyết công việc của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã để làm cơ sở cho việc bố trí, sử dụng, quy hoạch và giải quyết chính sách tinh giản biên chế.

Năm là, trang bị cơ sở vật chất và thực hiện nghiêm văn hóa công sở.

Cần trang bị các điều kiện về cơ sở vật chất và các văn phòng phẩm khác phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ, công chức cấp xã để giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, cần xây dựng văn hóa công sở thân thiện, hiệu quả. Xây dựng văn hóa ứng xử, giao tiếp cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là một trong những nội dung quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính - cải cách nền công vụ và xây dựng đội ngũ công chức - lực lượng giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng nền hành chính hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ người dân. 

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Bạc Liêu là quá trình lâu dài, đòi hỏi ý thức và tinh thần trách nhiệm cao của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là chính quyền cấp xã và mỗi cán bộ, công chức. Do đó, cần phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng, sự quản lý của chính quyền cấp xã, sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và người dân./.

-------------------------

Ghi chú:

(1), (2) https://snv.baclieu.gov.vn. Báo cáo số liệu thống kê hàng năm của Sở Nội vụ tỉnh Bạc Liêu.

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Cơ bản thông qua các nội dung về cơ chế, chính sách đặc thù đối với Thừa Thiên Huế trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương

Ngày đăng 03/03/2021
Sáng 02/3/2021, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 02/2021 do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Phan Ngọc Thọ đã báo cáo Chính phủ Đề án Cơ chế chính sách đặc thù xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương trên nền tảng bảo tồn và phát huy giá trị di sản cố đô và bản sắc văn hóa Huế.

Bình Định bổ sung nhiệm vụ cho Ban Chỉ đạo xây dựng chính quyền điện tử tỉnh

Ngày đăng 03/03/2021
Sau khi được kiện toàn, Ban Chỉ đạo xây dựng chính quyền điện tử tỉnh Bình Định có 19 thành viên và được bổ sung các nhiệm vụ chỉ đạo về chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh.

Dự thảo Chương trình số 01 của Thành ủy Hà Nội khóa XVII: Đặt con người ở vị trí trung tâm

Ngày đăng 03/03/2021
Dự thảo Chương trình số 01 về “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị thành phố trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh cải cách hành chính giai đoạn 2021-2025” đã được Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội thông qua, sẵn sàng trình Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội khóa XVII xem xét. Với điểm nhấn là đặt con người ở vị trí trung tâm, chương trình hướng tới mục tiêu chuẩn hóa, nâng tầm cán bộ, từ đó nâng cao chất lượng công tác và tăng tỷ lệ hài lòng của người dân.

Thành lập Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh Bình Dương

Ngày đăng 02/03/2021
Ngày 01/3/2021, HĐND tỉnh Bình Dương đã tổ chức Lễ công bố Nghị quyết của HĐND tỉnh về việc thành lập Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và HĐND tỉnh Bình Dương.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Cơ quan hành chính quận, phường phải mạnh, là nơi lo cho dân

Ngày đăng 02/03/2021
Chiều ngày 01/3/2021, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì cuộc họp Thường trực Chính phủ về dự thảo các nghị định quy định chi tiết thi hành các nghị quyết của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị tại TP Hồ Chí Minh và thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP Đà Nẵng.