Hà Nội, Ngày 28/02/2021

Những vấn đề đặt ra qua việc triển khai thực hiện sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã

Ngày đăng: 08/02/2021   11:07
Mặc định Cỡ chữ
Theo số liệu của Bộ Nội vụ, nước ta có tới 6.191/11.160 đơn vị hành chính cấp xã chưa đạt 50% tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên hoặc quy mô dân số (chiếm 55,46%) trong đó có 5.106 xã (gồm 1.922 xã miền núi vùng cao; 3.173 xã đồng bằng, trung du; 11 xã hải đảo), 794 phường (gồm 422 phường thuộc quận; 327 phường thuộc thành phố thuộc tỉnh; 45 phường thuộc thị xã) và 291 thị trấn(1). Căn cứ tiêu chuẩn và phân loại đơn vị hành chính cấp xã, dự kiến từ năm 2019 đến năm 2021 sẽ sắp xếp lại 637 xã, phường, thị trấn chưa đạt 50% tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên và quy mô dân số; tiếp đó, xem xét để sáp nhập trên 6.000 xã có một trong hai tiêu chí diện tích hoặc dân số chưa đạt 50% tiêu chuẩn. Tính đến tháng 12/2020, cả nước có 10.603 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 1.716 phường, 604 thị trấn và 8.283 xã)(2).

1. Những khó khăn, vướng mắc đặt ra khi thực hiện sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã

Thứ nhất, về điều kiện tự nhiên, lãnh thổ.

Theo Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính thì tiêu chuẩn của đơn vị hành chính cấp xã ở nông thôn có quy mô dân số ở xã miền núi, vùng cao từ 5.000 người trở lên; xã không thuộc miền núi, vùng cao từ 8.000 người trở lên. Diện tích tự nhiên xã miền núi, vùng cao từ 50 km2 trở lên; xã không thuộc miền núi, vùng cao từ 30 km2 trở lên. 

Với tiêu chuẩn này, khi thực hiện sáp nhập các xã khu vực nông thôn, miền núi sẽ gặp nhiều vấn đề như địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, dân cư phân bố rải rác… Khoảng cách về địa lý giữa các hộ trong thôn, xã là rất lớn, có nơi từ đầu thôn đến cuối thôn khoảng 6 đến 7km, từ bản này đến bản kia từ 13 đến 15km; khoảng cách địa lý từ nhiều hộ gia đình đến trung tâm thôn, bản và trung tâm của xã rất xa, dẫn đến khó khăn trong việc tổ chức họp, tuyên truyền vận động, sinh hoạt cộng đồng... Mặt khác, một số xóm, tổ dân phố ở vùng đồng bằng có quy mô số hộ gia đình không bảo đảm điều kiện theo quy định, nhưng do không nằm liền kề nhau nên không thể sáp nhập được; thậm chí một số xóm, tổ dân phố phải chia tách để sáp nhập vào nhiều xóm, tổ dân phố khác nhau nên gặp khó khăn khi lấy ý kiến cử tri trong quá trình thực hiện. 

Thứ hai, những đặc thù về tôn giáo, tín ngưỡng.

Tính đến tháng 11/2019, Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo với hơn 26 triệu tín đồ; hơn 57 nghìn chức sắc. Có gần 30 nghìn cơ sở thờ tự tôn giáo, 45 nghìn cơ sở tín ngưỡng, 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo(3). Số tín đồ tôn giáo ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là nông dân (ước tính số tín đồ là nông dân của Phật giáo và Công giáo chiếm 80 đến 85%, của đạo Cao Đài, Hòa Hảo là 95%, của đạo Tin Lành là 65%) và vẫn tiếp tục gia tăng ở các tôn giáo, ở các khu vực kinh tế kém phát triển, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.

Khi tiến hành sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã tại địa phương đã xuất hiện những mâu thuẫn phát sinh liên quan đến đất đai thờ tự, nơi sinh hoạt tôn giáo, hình thức sinh hoạt tôn giáo; những bất ổn như tách, lập giáo họ, chuyển nhượng, hiến đất xây nơi thờ tự trái phép, đòi đất đai, nhà thờ… Đặc biệt, một số biểu hiện lợi dụng việc sáp nhập để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động giáo dân, quần chúng nhân dân tại nhiều địa bàn, dẫn đến các hoạt động phản ứng, gây rối, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Nếu các địa phương không làm tốt công tác tư tưởng, dân vận chính quyền thì những mâu thuẫn nêu trên rất dễ phát sinh.

Thứ ba, những đặc thù về lịch sử, truyền thống, dân tộc, văn hóa, phong tục, tập quán.

Sự khác biệt về phong tục, tập quán của người dân thuộc các dân tộc khác nhau là một khó khăn lớn khi thực hiện sáp nhập. Do đó, cần có giải pháp cụ thể để gìn giữ được các giá trị truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa truyền thống của từng dân tộc. Ở nhiều vùng, tư tưởng dòng họ ăn sâu vào tiềm thức của người dân nên rất khó hòa nhập, khó chấp nhận việc sáp nhập vào làng, xã mới. Làng, ấp, thôn, buôn, bản ở Việt Nam đều có tên gọi cụ thể và gắn với lịch sử. Việc đặt tên làng, xã sau sáp nhập cũng khó khăn, vì hầu hết người dân muốn giữ tên truyền thống đã gắn bó lâu đời. Việc bổ sung, điều chỉnh hương ước, quy ước của các làng, xã sau sáp nhập cũng là điều khó khăn, vì trước đó các làng xã cũ đều có quy ước, hương ước riêng.

Bên cạnh đó, việc lựa chọn nhà văn hóa nào làm điểm trung tâm của một số  thôn, xóm cũng gặp khó khăn, vướng mắc. Với phạm vi, quy mô dân số lớn hơn, các nhà văn hóa trước đây  không còn đáp ứng được nhu cầu của người dân, trong khi đó những khó khăn về kinh phí cải tạo, xây dựng mới, bố trí địa điểm quỹ đất xây dựng nhà văn hóa mới, khu vui chơi, các thiết chế văn hóa ở xóm, tổ dân phố mới cũng được đặt ra cần được tháo gỡ...

Thứ tư, về bảo đảm quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự xã hội.

Ngoài việc quan tâm đến quyền bình đẳng giữa các dân tộc, ngăn ngừa, phát hiện, đấu tranh với các hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng đồng bào dân tộc ít người để kích động gây chia rẽ, xâm hại đến an ninh quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội khi tiến hành sáp nhập các đơn vị hành chính thì việc hình thành và điều chỉnh các quy tắc, quy phạm mới ở những đơn vị mới sáp nhập cần phải được quan tâm. Những quy định chung về trật tự, vệ sinh, nếp sống văn minh; tuân thủ những quy định của pháp luật và phong tục, tập quán, sinh hoạt cần sớm hoàn thiện và được mọi người thừa nhận, chung tay thực hiện. 

Những bức xúc, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân trong quá trình tiến hành sáp nhập, nếu không được kịp thời khắc phục sẽ tiềm ẩn nguy cơ đối với an ninh trật tự của các địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Ngoài ra, một số địa phương chưa làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước dẫn đến người dân còn tâm lý lo ngại khi sáp nhập sẽ khó khăn, xáo trộn trong việc thay đổi giấy tờ có liên quan.

2. Một số giải pháp tháo gỡ, khắc phục khó khăn trong việc thực hiện sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã 

Để khắc phục những khó khăn nêu trên, trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương cần tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân hiểu việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã, cũng như việc sáp nhập các thôn, xóm, tổ dân phố là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho công tác quản lý và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cần lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân để thấu hiểu và nhận được sự đồng thuận của quần chúng nhân dân. 

Trên thực tế, có những xã, phường là địa danh lịch sử, truyền thống văn hóa rất quan trọng đối với người dân đã gắn bó, sinh sống lâu đời tại đây; hoặc có những xã, phường do vị trí địa lý không thể sắp xếp một cách cơ học... Do đó nơi nào thuận lợi, hội đủ điều kiện thì các cấp chính quyền phải có phương án phù hợp với đặc thù của địa phương để thực hiện; nơi nào phức tạp khó khăn hơn thì cần có lộ trình cụ thể, và phải luôn lắng nghe ý kiến từ phía người dân.

Hai là, cần rà soát sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản hướng dẫn điều chỉnh về hồ sơ, giấy tờ, thủ tục hành chính, chế độ, chính sách bảo đảm thuận lợi nhất cho người dân, tổ chức sau khi sáp nhập thôn, tổ dân phố. Các cơ quan hành chính cần tạo điều kiện tốt nhất cho người dân trong việc thay đổi giấy tờ có liên quan như: sổ hộ khẩu, chứng minh thư, căn cước công dân... Bên cạnh đó, cần tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung những quy định về chức danh, số lượng và mức phụ cấp cho đội ngũ cán bộ, công chức, những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã sau khi sáp nhập. 

Ba là, cần tạo sự đồng thuận cao trong đội ngũ cán bộ, công chức khi tiến hành việc thực hiện sáp nhập, kiện toàn tổ chức bộ máy. Các cơ quan Trung ương cần sát sao cùng với địa phương để nắm tình hình và chỉ đạo giải quyết kịp thời những vướng mắc phát sinh; tỉnh ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp có văn bản hướng dẫn cụ thể về quy trình giải thể, sáp nhập, thành lập chi bộ đảng, các đoàn thể theo quy định sau khi thực hiện việc giải thể, sáp nhập, thành lập thôn, tổ dân phố mới; hướng dẫn việc tổ chức tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân hưởng ứng, nghiêm túc thực hiện chủ trương của Đảng, quy định của Nhà nước về sáp nhập thôn, xóm, tổ dân phố. 

Đặc biệt, cần có những giải pháp phù hợp để xử lý vấn đề dôi dư cán bộ, công chức khi tiến hành sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế. Trong quá trình thực hiện phải thận trọng, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, lắng nghe ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động để có giải pháp giải quyết đúng quy định của pháp luật, đồng thời phải đảm bảo hợp tình, hợp lý. 

Bốn là, cần nghiên cứu, đề xuất ban hành quy định về sử dụng chung tài sản công như: nhà văn hóa các phường, xã, nhà đa năng các trường học đồng thời là nhà văn hóa của thôn, tổ dân phố, xóm…; xem xét ban hành cơ chế bán đấu giá tài sản là nhà văn hóa của thôn, tổ dân phố để xây dựng nhà văn hóa mới phù hợp với quy mô thôn, tổ dân phố được tổ chức lại sau khi sáp nhập. Nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện quy chế khoán kinh phí hoạt động của một số tổ chức ở xã, thôn, tổ dân phố, bảo đảm linh hoạt, thuận lợi, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương theo hướng một tổ chức có thể phụ trách nhiều lĩnh vực khác nhau, một chức danh có thể kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ để đạt mục tiêu giảm tối đa việc sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước. 

Năm là, trong quá trình sáp nhập cần chú ý đến những đặc thù về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán; trong đó cần quan tâm đến tính hài hòa giữa văn hóa truyền thống và đặc thù của mỗi vùng miền, nhất là đối với các tín ngưỡng, tôn giáo. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể cần tích cực vận động quần chúng, các tín đồ, chức sắc, chức việc của các tôn giáo thực hiện tốt phong trào sống tốt đời, đẹp đạo để vừa làm tốt việc đạo, vừa góp phần xây dựng đất nước. Chủ động tổ chức những buổi giao lưu, gặp gỡ để giúp các tổ chức xã hội hòa nhập sau sáp nhập, nhằm tạo sự đồng thuận góp phần chung tay, đoàn kết xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh./. 

--------------------------------------------

Ghi chú:

(1) http://baochinhphu.vn/Hoat-dong-dia-phuong/Ban-viec-sap-nhap-cac-huyen-xa-chua-dat-50-tieu-chuan/341086.vgp.

(2) Theo số liệu tổng hợp của Bộ Nội vụ năm 2020.

(3) http://cand.com.vn/Nhan-quyen/Viet-Nam-luon-bao-dam-su-da-dang-hoa-hop-va-binh-dang-ton-giao-622959/.

 

TS Nguyễn Thị Thu Hòa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Ths Phạm Thị Thúy Hồng, Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Công tác quản lý nhà nước đối với tài liệu lưu trữ cá nhân, gia đình, dòng họ ở Việt Nam

Ngày đăng 17/02/2021
Trong những năm qua, sự đóng góp của người dân trong việc công bố, giới thiệu những tài liệu lưu trữ có giá trị vào công cuộc đấu tranh pháp lý nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và phục vụ công tác nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, giáo dục đã cho thấy tiềm năng lưu giữ tài liệu trong cộng đồng là rất lớn. Tuy nhiên, để những tài liệu đó được chia sẻ rộng rãi, vừa phát huy được các giá trị tích cực mà vẫn bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của chủ sở hữu, tránh mất mát, hủy hoại tài liệu, hạn chế tối đa khả năng gây hại của việc sử dụng trái phép thông tin trong tài liệu thì các cơ quan quản lý nhà nước cần có các giải pháp phù hợp và hiệu quả.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tham mưu hoạch định chính sách ở các bộ, cơ quan ngang bộ

Ngày đăng 05/02/2021
Chính sách ban hành có chất lượng, phù hợp với điều kiện thực tế sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội; ngược lại, chính sách không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển, ảnh hưởng đến đời sống xã hội và của người dân. Quá trình hội nhập và toàn cầu hóa cũng như cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống của người dân; xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội và trình độ dân trí ngày càng cao đòi hỏi việc xây dựng và ban hành chính sách phải mang tính khả thi, phù hợp với thực tiễn. Ở mỗi giai đoạn phát triển của xã hội, vấn đề nâng cao chất lượng, hiệu quả các chính sách luôn được các cơ quan quản lý nhà nước đặc biệt quan tâm.

Quản trị nhà nước tốt và những vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước ở Việt Nam

Ngày đăng 04/02/2021
Quản trị nhà nước tốt là một vấn đề mới trong nghiên cứu về quản lý công ở Việt Nam. Đây không phải là mô hình tổ chức, hoạt động của một nhà nước mà là các nguyên tắc định hướng cho việc thiết kế và vận hành bộ máy nhà nước trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước để quản lý tốt mọi vấn đề của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa… ở mỗi quốc gia. Bài viết khái quát lịch sử hình thành và những đặc trưng cơ bản của quản trị nhà nước tốt, qua đó rút ra một số kinh nghiệm có thể vạn dụng trong quản lý nhà nước ở Việt Nam.

Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng - yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Ngày đăng 01/02/2021
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong cách mạng giải phóng dân tộc trước đây và trong thời kỳ đổi mới hiện nay đã tạo nên vị thế, diện mạo mới để Việt Nam chủ động hội nhập, phát triển; trong đó sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là yếu tố đặc biệt quan trọng, đóng vai trò quyết định.

Thứ trưởng Triệu Văn Cường: 4 vấn đề đặt ra trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay

Ngày đăng 01/02/2021
"Tập trung bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức; bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý và kiến thức, kỹ năng cho cán bộ, công chức theo yêu cầu của vị trí việc làm". Đó là 1 trong 4 vấn đề được PGS.TS Triệu Văn Cường, Thứ trưởng Bộ Nội vụ đặt ra khi chia sẻ với Tạp chí Tổ chức nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay.