Hà Nội, Ngày 28/02/2021

Quản lý nhà nước đối với các cơ sở trợ giúp xã hội ở Việt Nam

Ngày đăng: 04/02/2021   04:26
Mặc định Cỡ chữ
Trong bối cảnh đất nước đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do tác động bất lợi từ khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và thiên tai, dịch bệnh, công tác bảo trợ xã hội cũng gặp nhiều khó khăn; đã và đang làm cho các nhóm xã hội dễ bị tổn thương có xu hướng gia tăng về số lượng và đa dạng về đối tượng. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về trách nhiệm của Nhà nước trong việc hoàn thiện hệ thống trợ giúp xã hội (TGXH), củng cố, phát triển và quản lý các cơ sở TGXH, góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ trọng tâm “đảm bảo an ninh về đời sống vật chất, tinh thần của nhóm xã hội dễ bị tổn thương” trong Chiến lược An sinh xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2025.

1. Trợ giúp xã hội

Mỗi người sống trong xã hội đều có quyền được sống, được bình đẳng, được thương yêu, đùm bọc, được bảo vệ khỏi những biến cố bất lợi, đặc biệt là khi sự sống bị đe doạ... TGXH xuất phát từ yêu cầu đảm bảo quyền cơ bản của con người đó. TGXH không chỉ là hoạt động của cộng đồng và xã hội mà còn là trách nhiệm của Nhà nước trong việc trợ giúp vật chất và tinh thần cho nhóm đối tượng có vị thế bất lợi, thiệt thòi trong cuộc sống so với những người bình thường khác và không đủ khả năng tự lo liệu.

Trên thế giới, TGXH là một nội dung, một hợp phần quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia với mục tiêu giúp đỡ các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc hẫng hụt trong cuộc sống có điều kiện sinh sống và có cơ hội hòa nhập cộng đồng, góp phần đảm bảo sự ổn định và công bằng xã hội.

Ở Việt Nam, thuật ngữ “trợ giúp xã hội” được các nhà quản lý và nghiên cứu tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Theo Từ điển thuật ngữ An sinh xã hội,  TGXH là sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc hiện vật của Nhà nước, nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu cho đối tượng được nhận. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, TGXH được hiểu là sự giúp đỡ bằng tiền mặt hoặc hiện vật, có tính cấp thiết cho những người bị lâm vào cảnh khó khăn không có khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày của bản thân và gia đình.

Theo sự phân chia nội dung của hệ thống an sinh xã hội, TGXH là một trong bốn nhóm nội dung cơ bản của hệ thống an sinh xã hội, là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội Việt Nam; là hoạt động mang tính nhân văn, nhân đạo, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và pháp luật.  Theo đó, có thể hiểu TGXH là sự giúp đỡ của Nhà nước, cộng đồng đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội bằng việc hỗ trợ về vật chất và tinh thần.

Pháp luật về an sinh xã hội của Việt Nam có những quy định cụ thể về đối tượng và chế độ trợ giúp cho từng hình thức trợ giúp xã hội. Trong đó, trợ giúp xã hội đột xuất là hình thức trợ giúp do Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ khẩn cấp đối với những người không may gặp những biến cố trong đời sống (thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, hoạn nạn, mất mùa…) khiến cho cuộc sống của họ và gia đình lâm vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Trợ giúp xã hội thường xuyên là hình thức trợ giúp bằng tiền mặt hoặc hiện vật do Nhà nước quy định để trợ giúp cho những đối tượng hoàn toàn không thể tự lo được cuộc sống trong một thời gian dài hoặc trong suốt cả cuộc đời. Trợ giúp thường xuyên bao gồm các loại hình trợ giúp thường xuyên cộng đồng và trợ giúp thường xuyên thông qua nuôi dưỡng trong các cơ sở TGXH.

2. Cơ sở trợ giúp xã hội

2.1. Về thuật ngữ

Thuật ngữ “cơ sở trợ giúp xã hội” ở Việt Nam được chính thức sử dụng kể từ khi Nghị định số 103/2017/NĐ-CP quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở TGXH có hiệu lực thi hành. Cơ sở TGXH bao gồm các cơ sở TGXH công lập và ngoài công lập, là một trong những hình thức và phương thức hoạt động của hệ thống TGXH, là nơi các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt tìm đến để nương tựa và vượt qua khó khăn trong cuộc sống. Trong đó, cơ sở TGXH công lập do cơ quan nhà nước thành lập, quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho thực hiện các nhiệm vụ; cơ sở TGXH ngoài công lập do các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho thực hiện các nhiệm vụ của cơ sở.

Mặc dù có sự khác nhau về chủ thể thành lập, nhưng theo quy định của pháp luật, một cơ sở TGXH kể cả là công lập hay ngoài công lập, để được thành lập, tổ chức và hoạt động phải chịu sự quản lý của Nhà nước và phải đảm bảo các yếu tố: có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng; có tên gọi bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài, biểu tượng riêng (nếu có). Tên và biểu tượng của cơ sở TGXH phải đáp ứng các điều kiện: không trùng lắp hoặc gây nhầm lẫn với tên hoặc biểu tượng của cơ sở khác đã được đăng ký trước đó; không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc; trụ sở hoạt động của cơ sở TGXH phải đặt trên lãnh thổ Việt Nam và có địa chỉ cụ thể.

2.2. Về đối tượng phục vụ và loại hình hoạt động của cơ sở trợ giúp xã hội

Theo Điều 6 Nghị định số 103/2017/NĐ-CP và Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, các đối tượng phục vụ của cơ sở TGXH bao gồm:

Một là, đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bao gồm: trẻ em không có người nuôi dưỡng, người bị nhiễm HIV thuộc diện khó khăn không tự lo được cuộc sống và không có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; người cao tuổi thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở TGXH, nhà xã hội theo quy định của pháp luật về người cao tuổi; trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật.

Hai là, đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp, gồm có: nạn nhân của bạo lực gia đình; bị xâm hại tình dục; bị buôn bán; bị cưỡng bức lao động; trẻ em, người lang thang xin ăn trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú.

Ba là, các đối tượng khác, như: người chưa thành niên không có nơi cư trú ổn định, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; những người không thuộc diện đối tượng bảo trợ xã hội nhưng có nhu cầu được TGXH, tự nguyện đóng góp kinh phí hoặc có người thân, người nhận bảo trợ đóng góp kinh phí; các đối tượng khác theo chương trình, đề án hỗ trợ hoặc do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.

Để TGXH cho từng nhóm đối tượng có hoàn có cảnh đặc biệt và tính đặc thù, cơ sở TGXH có các loại hình: cơ sở TGXH chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; cơ sở TGXH chăm sóc người cao tuổi; cơ sở TGXH chăm sóc người khuyết tật; cơ sở TGXH chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí; cơ sở TGXH tổng hợp thực hiện việc chăm sóc nhiều đối tượng bảo trợ xã hội hoặc đối tượng cần TGXH; trung tâm công tác xã hội thực hiện việc tư vấn, chăm sóc khẩn cấp hoặc hỗ trợ những điều kiện cần thiết cho đối tượng cần TGXH; cơ sở TGXH khác theo quy định của pháp luật.

2.3. Nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung hoạt động của các cơ sở trợ giúp xã hội

2.3.1. Về nhiệm vụ

- Cung cấp các dịch vụ khẩn cấp: tiếp nhận đối tượng cần sự bảo vệ khẩn cấp; bảo đảm sự an toàn và đáp ứng các nhu cầu khẩn cấp của đối tượng như nơi cư trú tạm thời, thức ăn, quần áo và đi lại.

- Tham vấn, trị liệu rối nhiễu tâm trí, khủng hoảng tâm lý và phục hồi thể chất cho đối tượng.-

Tư vấn và trợ giúp đối tượng thụ hưởng các chính sách TGXH; phối hợp với các cơ quan, tổ chức phù hợp khác để bảo vệ, trợ giúp đối tượng; tìm kiếm, sắp xếp các hình thức chăm sóc.

- Xây dựng kế hoạch can thiệp và trợ giúp đối tượng; giám sát và rà soát lại các hoạt động can thiệp, trợ giúp và điều chỉnh kế hoạch.

- Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện đặc biệt khó khăn, không tự lo được cuộc sống và không có điều kiện sinh sống tại gia đình, cộng đồng.

- Cung cấp dịch vụ điều trị y tế ban đầu.

- Tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, trợ giúp các đối tượng trong các hoạt động tự quản, văn hóa, thể thao, các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi và sức khoẻ của từng nhóm đối tượng theo quy định của pháp luật.

- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị, tổ chức để dạy văn hóa, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp nhằm giúp đối tượng phát triển về thể chất, trí tuệ, nhân cách và hòa nhập cộng đồng.- Cung cấp các dịch vụ về giáo dục xã hội và nâng cao năng lực để giúp đối tượng phát triển khả năng tự giải quyết các vấn đề; đào tạo kỹ năng sống cho trẻ em và người chưa thành niên; hợp tác với các cơ sở đào tạo tổ chức đào tạo, tập huấn về công tác xã hội cho đội ngũ nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội hoặc làm việc tại các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội; tổ chức các khóa tập huấn, hội thảo cung cấp kiến thức, kỹ năng cho các nhóm đối tượng có nhu cầu.

- Quản lý đối tượng được cung cấp dịch vụ công tác xã hội.

- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn và bị xâm hại, bạo lực, ngược đãi.

- Phát triển cộng đồng, liên hệ với người dân, chính quyền các cấp trong việc xác định các vấn đề của cộng đồng để xây dựng chương trình, kế hoạch trợ giúp cộng đồng; đề xuất chính sách với các cơ quan có thẩm quyền; xây dựng mạng lưới nhân viên, tình nguyện viên công tác xã hội.

- Tổ chức các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức.

- Chủ trì, phối hợp với chính quyền địa phương đưa đối tượng đủ điều kiện hoặc tự nguyện xin ra khỏi cơ sở trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng; hỗ trợ, tạo điều kiện cho đối tượng ổn định cuộc sống.

- Quản lý tài chính, tài sản, công chức, viên chức và người lao động theo quy định của pháp luật.

- Tổ chức vận động và tiếp nhận sự hỗ trợ tài chính, hiện vật của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài để thực hiện các hoạt động của cơ sở TGXH.

- Thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ theo yêu cầu và các nhiệm vụ khác do cấp có thẩm quyền quyết định.

2.3.2. Về quyền hạn

- Tổ chức các hoạt động cung cấp dịch vụ TGXH cho người có nhu cầu theo quy định.

- Từ chối yêu cầu cung cấp dịch vụ TGXH cho đối tượng nếu không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ sở TGXH, trừ trường hợp có quyết định của cơ quan hoặc người có thẩm quyền.

- Lựa chọn các biện pháp nghiệp vụ TGXH để trợ giúp đối tượng theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, cơ sở TGXH còn có các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2.3.3. Nội dung hoạt động của cơ sở trợ giúp xã hội

- Thu hút nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất từ ngân sách nhà nước; nguồn đóng góp từ các tổ chức, đoàn thể và cá nhân trong cộng đồng; nguồn viện trợ từ các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, nguồn tài trợ từ quốc tế cho các cơ sở TGXH hoạt động.

- Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng các đối tượng TGXH, đây là hoạt động trọng tâm của các cơ sở TGXH.

- Tổ chức hoạt động phục hồi chức năng cho đối tượng TGXH thuộc nhóm mất năng lực hành vi và thiếu khả năng lao động.

- Thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa, dạy nghề hướng nghiệp và tạo việc làm, giúp đối tượng phát triển và làm chủ cuộc sống.

- Hòa nhập cộng đồng, hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhóm đối tượng đủ điều kiện hoặc tự nguyện xin ra khỏi cơ sở TGXH để trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống.

- Cung cấp dịch vụ công tác xã hội, tư vấn cho đối tượng TGXH.

3. Quản lý nhà nước đối với các cơ sở trợ giúp xã hội

Quản lý nhà nước đối với các cơ sở TGXH là sự tác động có mục đích, có tổ chức của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (chủ thể quản lý) lên đối tượng quản lý (các cơ sở TGXH) để điều chỉnh việc thực hiện nhiệm vụ và nội dung hoạt động của các cơ sở TGXH theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo hiệu quả trong thực hiện mục tiêu TGXH cho các đối tượng theo quy định của pháp luật. Chủ thể quản lý các cơ sở TGXH là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức, cá nhân được ủy quyền, cụ thể là:

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước đối với cơ sở TGXH trong phạm vi cả nước; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao và quản lý nhà nước đối với cơ sở thuộc phạm vi quản lý và tổng hợp, báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về tình hình hoạt động của các cơ sở TGXH.

- Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở TGXH trên địa bàn.

Đối tượng quản lý là các cơ sở TGXH bao gồm cả cơ sở công lập và cơ sở ngoài công lập với các nội dung hoạt động và hành vi của các chủ thể tham gia thực hiện các hoạt động đối với cơ sở TGXH. Mục tiêu quản lý nhằm đảm bảo hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, nội dung hoạt động của các cơ sở TGXH và mục tiêu TGXH cho các đối tượng theo quy định.

Nội dung quản lý nhà nước đối với các cơ sở TGXH, bao gồm:

Một là, xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển mạng lưới các cơ sở TGXH. Quy hoạch phát triển mạng lưới các cơ sở TGXH vừa là nội dung vừa là công cụ của Nhà nước để phục vụ việc hoạch định chính sách phát triển lĩnh vực an sinh xã hội; tổ chức không gian, quản lý mạng lưới cơ sở TGXH của ngành; đề xuất các giải pháp thực hiện quy hoạch cụ thể đối với từng loại cơ sở TGXH, phù hợp với từng địa phương, từng giai đoạn quy hoạch.

Phạm vi quy hoạch được thực hiện trên cả nước, gồm các cơ sở TGXH công lập trực thuộc các bộ, ngành, địa phương và các cơ sở TGXH ngoài công lập. Mạng lưới cơ sở TGXH được quy hoạch gồm: cơ sở TGXH chăm sóc người cao tuổi; cơ sở TGXH chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; cơ sở TGXH chăm sóc người khuyết tật; cơ sở TGXH chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí; cơ sở TGXH tổng hợp; trung tâm công tác xã hội và cơ sở cai nghiện ma túy.

Mục đích quy hoạch nhằm hình thành mạng lưới cơ sở TGXH đủ năng lực, quy mô, đáp ứng nhu cầu tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ về TGXH, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đối tượng cần trợ giúp; chữa trị, phục hồi cho người khuyết tật; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cai nghiện ma túy; góp phần phòng ngừa người dân rơi vào hoàn cảnh nghèo, đặc biệt khó khăn, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao mức sống vật chất, tinh thần của đối tượng cần được trợ giúp và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Nội dung chính của quy hoạch gồm phân tích, đánh giá yếu tố, điều kiện tự nhiên, nguồn lực, bối cảnh và thực trạng phân bổ, sử dụng không gian của mạng lưới cơ sở TGXH; dự báo xu thế phát triển và các yếu tố tác động đến hoạt động TGXH và quy hoạch mạng lưới TGXH; đánh giá kết quả thực hiện hoạt động TGXH; phương án phát triển mạng lưới; giải pháp và nguồn lực thực hiện quy hoạch.

Hai là, xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống thể chế quản lý nhà nước đối với các cơ sở TGXH. Hệ thống thể chế quản lý nhà nước đối với các cơ sở TGXH đã được xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện bao gồm: 1) Quy định về tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản, tên, biểu tượng và trụ sở của cơ sở TGXH; các loại hình, đối tượng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ sở TGXH; 2) Quy chế hoạt động của các cơ sở TGXH; 3) Quy định về thành lập, tổ chức lại và giải thể cơ sở TGXH công lập và ngoài công lập; 4) Quy định về điều kiện và hoạt động của cơ sở TGXH công lập và ngoài công lập; 5) Quy định về thủ tục, hồ sơ quản lý đối tượng tại cơ sở TGXH; 6) Quy định về cơ cấu tổ chức, định mức nhân viên và quy trình, tiêu chuẩn TGXH tại cơ sở TGXH; 7) Quy định về thẩm quyền và trách nhiệm quản lý của các cơ quan Trung ương và chính quyền địa phương đối với các cơ sở TGXH.

Ba là, xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống chính sách đối với các cơ sở TGXH. Hệ thống chính sách đối với các cơ sở TGXH bao gồm: chính sách hỗ trợ, đầu tư, xây dựng các cơ sở TGXH công lập; chính sách khuyến khích các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước thành lập cơ sở TGXH để chăm sóc, trợ giúp đối tượng có nhu cầu TGXH trên lãnh thổ Việt Nam; chính sách phát triển đội ngũ nhân viên làm việc trong các cơ sở TGXH; chính sách cung cấp các dịch vụ cho đối tượng TGXH: dịch vụ khẩn cấp, dịch vụ điều trị y tế ban đầu, dịch vụ về giáo dục xã hội và nâng cao năng lực; chính sách cụ thể cho các đối tượng người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng yếu thế khác; chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho đối tượng tái hòa nhập cộng đồng ổn định cuộc sống.

Bốn là, xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với các cơ sở TGXH. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với các cơ sở TGXH từ Trung ương tới địa phương đã được quy định cụ thể về thẩm quyền và trách nhiệm. Cụ thể là: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước đối với cơ sở TGXH trong phạm vi cả nước; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm tổ chức thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao và quản lý nhà nước đối với cơ sở thuộc phạm vi quản lý và tổng hợp, báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về tình hình hoạt động của các cơ sở TGXH; Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước đối với cơ sở TGXH trên địa bàn.

Năm là, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn đối với các cơ sở TGXH. Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân viên TGXH bảo đảm đủ về số lượng, trình độ chuyên môn đạt tiêu chuẩn phù hợp để thực hiện các nhiệm vụ của cơ sở TGXH. Quản lý công chức, viên chức và người lao động theo quy định của pháp luật; hợp tác với các cơ sở đào tạo tổ chức đào tạo, tập huấn về chuyên môn và công tác xã hội cho đội ngũ nhân viên, cộng tác viên làm việc tại các cơ sở TGXH. Tổ chức các hội thảo, tọa đàm theo chuyên đề để trao đổi về kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm hoạt động cho đội ngũ nhân viên, cộng tác viên làm việc tại các cơ sở TGXH; xây dựng mạng lưới nhân viên, tình nguyện viên công tác xã hội cho các cơ sở TGXH.

Sáu là, hỗ trợ, huy động và quản lý nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và kỹ thuật đối với các cơ sở TGXH. Nguồn kinh phí hoạt động của cơ sở TGXH công lập, bao gồm: nguồn ngân sách nhà nước cấp; nguồn thu phí dịch vụ từ các đối tượng tự nguyện; nguồn thu từ hoạt động lao động sản xuất, dịch vụ của cơ sở TGXH; nguồn trợ giúp từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; nguồn khác theo quy định của pháp luật. Nguồn kinh phí hoạt động của cơ sở TGXH ngoài công lập, bao gồm: nguồn tự có của chủ cơ sở TGXH; nguồn trợ giúp từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; nguồn thu phí dịch vụ từ đối tượng tự nguyện; nguồn thu khác theo quy định của pháp luật; hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để cung cấp dịch vụ TGXH.

Quản lý tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật; tổ chức vận động và tiếp nhận sự hỗ trợ tài chính, hiện vật của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài để thực hiện các hoạt động của cơ sở TGXH. Việc sử dụng và quản lý các nguồn kinh phí phải thực hiện công khai, minh bạch và theo quy chế hoạt động, quy chế chi tiêu của cơ sở TGXH. Cơ sở TGXH có trách nhiệm báo cáo kết quả tài chính định kỳ và hàng năm theo quy định của pháp luật.

Bảy là, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với các cơ sở TGXH. Trong quá trình hoạt động, cơ sở TGXH không bảo đảm đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì bị tạm đình chỉ hoạt động trong thời gian tối đa 06 tháng để kiện toàn các điều kiện hoạt động.

Khi phát hiện giấy phép hoạt động được cấp cho cơ sở TGXH không đúng quy định của pháp luật sẽ bị thu hồi; TGXH thay đổi mục đích hoạt động không theo quy định của pháp luật, vi phạm nghiêm trọng các hoạt động; TGXH hết thời hạn quy định không hoạt động, hoặc vẫn không bảo đảm đủ điều kiện theo quy định sẽ bị thu hồi giấy phép hoạt động.

4. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở trợ giúp xã hội ở Việt Nam

Một là, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến thành lập, tổ chức và hoạt động của các cơ sở TGXH, đặc biệt là điều kiện về cơ sở vật chất để được cấp giấy phép, tổ chức hoạt động đối với các cơ sở TGXH ngoài công lập; văn bản pháp luật quy định về cho thuê đất thành lập cơ sở TGXH.

Hai là, xây dựng, hoàn thiện và cụ thể hoá chính sách huy động từ các tổ chức, cá nhân góp vốn dưới dạng cổ phần, hợp tác, liên kết và được ưu tiên vay vốn tại các ngân hàng, quỹ đầu tư phát triển để đầu tư nâng cấp, mở rộng hoặc xây dựng cơ sở TGXH.

Ba là, xây dựng và thực hiện các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật đối với tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư nâng cấp, mở rộng hoặc xây dựng cơ sở TGXH; chính sách ưu tiên bố trí quỹ đất phù hợp cho mở rộng và phát triển mạng lưới cơ sở TGXH theo quy hoạch.

Bốn là, phát triển đội ngũ cán bộ, nhân viên của cơ sở TGXH đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng; bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc tại các cơ sở TGXH.

Năm là, đảm bảo ngân sách nhà nước cho chi hoạt động thường xuyên của các cơ sở TGXH công lập theo quy định của pháp luật; huy động từ các nguồn tài chính hợp pháp khác; đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và trang thiết bị đạt tiêu chuẩn chăm sóc đối tượng theo quy định của pháp luật đối với các cơ sở TGXH.

Sáu là, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động của các cơ sở TGXH phải được tiến hành thường xuyên theo kế hoạch và đột xuất, xử lý nghiêm các vi phạm.

Bảy là, thiết lập và quản lý hệ thống thông tin về đối tượng và hoạt động của các cơ sở TGXH, đồng thời thiết lập cơ chế khiếu nại - phản hồi về TGXH một cách minh bạch và kịp thời./.

----------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Quyết định số 1520/QĐ-LĐTBXH ngày 20/10/2015 phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2025.

2. Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2011), Từ điển thuật ngữ An sinh xã hội.

3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Chiến lược An sinh xã hội giai đoạn 2011-2020.

4. Chính phủ, Nghị định số 103/2017/NĐ-CP quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội.

5. Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa, H.2002.

6. Ngân hàng thế giới, Về bảo trợ và thúc đẩy xã hội, Nxb Văn hóa - Thông tin, H. 2008.

 

PGS.TS Đinh Thị Minh Tuyết, Học viện Hành chính Quốc gia

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã - kết quả và những giải pháp cho thời gian tới

Ngày đăng 06/01/2021
Cán bộ, công chức cấp xã có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là lực lượng trực tiếp đưa đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội ở cấp cơ sở; đồng thời phản ánh tình hình thực tiễn để cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung đường lối, chính sách và pháp luật. Những yêu cầu khách quan hiện nay đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh công tác bồi dưỡng để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

Đẩy mạnh hoạt động quan hệ công chúng của Chính phủ - nhìn từ đại dịch COVID-19

Ngày đăng 28/12/2020
Trong tiếng Anh, Public Relations (PR) có nghĩa là quan hệ công chúng, quan hệ cộng đồng. Thuật ngữ PR được sử dụng lần đầu tiên ở Mỹ năm 1807 bởi Tổng thống Thomas Jefferson. Ông cho rằng PR là một hoạt động của các cơ quan chính phủ nhằm tạo không khí tin tưởng của dân chúng vào chính quyền. Ngày nay, PR đã trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhờ có bước phát triển nhảy vọt của các phương tiện truyền thông, tạo nên sự bùng nổ thông tin trong thế giới hiện đại. Hiện nay có nhiều định nghĩa về PR, song có thể hiểu PR là những nỗ lực giao tiếp có hệ thống, có kế hoạch của một cá nhân hay tổ chức nhằm tạo dựng hình ảnh tích cực về tổ chức và thiết lập, duy trì, phát triển những mối quan hệ tốt với công chúng.

Khắc phục tình trạng “nhạt Đảng”, “khô Đoàn”trong thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay

Ngày đăng 18/12/2020
Thanh niên là chủ nhân tương lai của đất nước. Sự lớn mạnh của tuổi trẻ là thành công của Đảng, là thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, là sự trường tồn phát triển của xã hội. Xây dựng Đoàn là xây dựng đội quân xung kích của cách mạng, đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam; vì vậy, phải hết sức coi trọng công tác xây dựng tổ chức đoàn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kế cận cho Đảng nhằm thực hiện thắng lợi Chiến lược cán bộ của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Thực hiện mô hình bí thư đảng ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã ở An Giang - Thực trạng và giải pháp

Ngày đăng 16/12/2020
Thực hiện chủ trương tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, bám sát yêu cầu thực tiễn đặt ra, Đảng bộ tỉnh An Giang đã triển khai thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã một cách bài bản - thí điểm, tổng kết, nhân rộng, đạt được kết quả rất tích cực, góp phần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả phương thức lãnh đạo của Đảng. Bài viết tập trung làm rõ ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và xác định một số giải pháp tiếp tục thực hiện, duy trì bền vững mô hình  ở An Giang.

Giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo

Ngày đăng 09/12/2020
Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ “Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, trên một số mặt vẫn còn bất cập về chất lượng, số lượng, cơ cấu và chính sách đãi ngộ”. Điều đó, đòi hỏi ngành Giáo dục và Đào tạo phải có những giải pháp hiệu quả để tiếp tục phát triển nhân lực quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. GS.TS Phùng Xuân Nhạ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thẳng thắn chia sẻ với Tạp chí Tổ chức nhà nước về những hạn chế của đội ngũ nhân lực quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo; đồng thời đưa ra một số giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.