Hà Nội, Ngày 21/01/2021

Bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã - kết quả và những giải pháp cho thời gian tới

Ngày đăng: 06/01/2021   03:03
Mặc định Cỡ chữ
Cán bộ, công chức cấp xã có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là lực lượng trực tiếp đưa đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội ở cấp cơ sở; đồng thời phản ánh tình hình thực tiễn để cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung đường lối, chính sách và pháp luật. Những yêu cầu khách quan hiện nay đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh công tác bồi dưỡng để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

1. Những bất cập trong thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã

Số lượng, tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức (CBCC) cấp xã được quy định chi tiết tại tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ) và Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/1019 của Bộ Nội vụ “Hướng dẫn quy định về CBCC cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố”. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn một số vướng mắc, bất cập như sau:

Thứ nhất, một công chức cấp xã phải đảm nhiệm nhiều công việc thuộc nhiều chuyên ngành/lĩnh vực khác nhau. Cụ thể, theo quy định tại Thông tư số 13/2019/TT-BNV thì nhiệm vụ của công chức địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc công chức địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã) bao gồm:

- Tham mưu giúp Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong các lĩnh vực: đất đai, địa giới hành chính, tài nguyên, môi trường, xây dựng, đô thị, giao thông, nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn theo quy định của pháp luật;

- Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:

+ Thu thập thông tin, tổng hợp số liệu, lập sổ sách các tài liệu và xây dựng các báo cáo về đất đai, địa giới hành chính, tài nguyên, môi trường và đa dạng sinh học, công tác quy hoạch, xây dựng, đô thị, giao thông, nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn theo quy định của pháp luật;

+ Tổ chức vận động nhân dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bảo vệ môi trường trên địa bàn;

+ Tham gia giám sát về kỹ thuật các công trình xây dựng thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp xã;

+ Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện các thủ tục hành chính trong việc tiếp nhận hồ sơ và thẩm tra để xác minh nguồn gốc, hiện trạng đăng ký và sử dụng đất đai, tình trạng tranh chấp đất đai và biến động về đất đai trên địa bàn; xây dựng các hồ sơ, văn bản về đất đai và việc cấp phép cải tạo, xây dựng các công trình và nhà ở trên địa bàn để chủ tịch UBND cấp xã quyết định hoặc báo cáo UBND cấp trên xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật;

- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do chủ tịch UBND cấp xã giao.

Như vậy, một công chức địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường cấp xã phải thực hiện các công việc thuộc lĩnh vực công thương, giao thông, thủy lợi, xây dựng, môi trường, lâm nghiệp, ngành nghề nông thôn, làng nghề... Để hoàn thành công việc đó, ít nhất họ phải nắm được các quy định của luật chuyên ngành, như: Luật Trồng trọt, Luật Thú y, Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Luật Lâm nghiệp, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Xử lý vi phạm hành chính, ... và rất nhiều văn bản hướng dẫn thi hành. Trong khi đó, giữa các văn bản cũng đã có không ít sự chồng chéo, mâu thuẫn, đòi hỏi CBCC cấp xã không chỉ vững vàng về trình độ chuyên môn, mà còn phải có sự nhanh nhạy, khéo léo trong giải quyết công việc.

Thứ hai, do đặc thù của công tác quản lý nhà nước ở cấp xã, công việc nhiều nhưng số lượng người có hạn nên thực tế CBCC cấp xã không chỉ thực hiện các nhiệm vụ được quy định cụ thể, mà phải làm tất cả các công việc được chủ tịch UBND cấp xã giao và nhiều việc trong số đó không thuộc lĩnh vực chuyên môn được đào tạo và chưa bao giờ phải làm.

Đối tượng phục vụ của CBCC cấp xã chủ yếu là người dân ở địa phương, một phần trong số đó còn có những hạn chế nhất định về nhận thức và tư duy; một bộ phận nhỏ có quan hệ họ hàng, làng xóm, do vậy sẽ rất khó khi giải quyết công việc nếu chỉ dựa trên những quy định của luật pháp một cách cứng nhắc. Như vậy, CBCC cấp xã ngoài kiến thức, kỹ năng, thái độ liên quan đến chuyên môn trực tiếp, cần phải có các kỹ năng khác như kỹ năng tuyên truyền, kỹ năng hòa giải và kỹ năng thuyết phục...

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 34/2019/NĐ-CP), số lượng công chức cấp xã tối đa không quá 23 người(1), trong đó hầu hết mỗi vị trí chỉ do một người đảm nhiệm, điều đó rất khó để sắp xếp được thời gian tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng, trong khi nhu cầu của họ là rất lớn và thường xuyên.

Thứ ba, năng lực thực thi công vụ của một bộ phận CBCC cấp xã không đồng đều và còn hạn chế. Không ít CBCC cấp xã chưa qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, không được thường xuyên bồi dưỡng bổ trợ kiến thức nghiệp vụ chuyên môn và các kỹ năng cần thiết khác cho công tác quản lý nhà nước ở cấp xã, dẫn đến một số CBCC cấp xã chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Trên thực tế, CBCC cấp xã đang phải tiếp nhận, xử lý khối lượng công việc ngày càng nhiều, trong khi nhiều người lại chưa được đào tạo cơ bản, ít được bồi dưỡng nghiệp vụ. Việc nắm bắt thông tin chậm và xử lý công việc thiếu tính nhạy bén, linh hoạt, hiệu quả thấp, gây bức xúc, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Thứ tư, ý thức tự học, tự đào tạo, bồi dưỡng của một số CBCC cấp xã chưa cao. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng chậm đổi mới, chưa phù hợp với các đối tượng, vùng miền. Cơ cấu ngành nghề đào tạo còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng bố trí sử dụng, sắp xếp CBCC cấp xã không đúng chuyên môn đào tạo. Ở một số địa phương vùng miền núi, biên giới và hải đảo trình độ dân trí thấp, tỷ lệ người dân tộc học hết trung học phổ thông còn ít. Do đó, khi tổ chức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng và đưa đội ngũ CBCC cấp xã đi đào tạo, bồi dưỡng theo hình thức tập trung gặp rất nhiều khó khăn.

Từ phân tích trên cho thấy, để CBCC cấp xã có thể đảm nhiệm tốt chức trách được giao trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa với sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với CBCC cấp xã phải được triển khai một cách thường xuyên, liên tục, với những phương thức linh hoạt và phù hợp.

2. Kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã thời gian qua

Qua 10 năm thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 và Quyết định số 1600/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, số CBCC cấp xã được bồi dưỡng là 403.183 lượt người, đạt 80,6% so với mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1956/QĐ-TTg cho giai đoạn 2016-2020 là 146.691 lượt người; đạt 30% so với mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 1600/QĐ-TTg(2); về chất lượng, chưa có những nghiên cứu đánh giá cụ thể, chi tiết cũng như chưa có thông tin phản hồi, nhưng nhìn chung sau khi tham dự các khóa bồi dưỡng thì chất lượng CBCC cấp xã đã được cải thiện đáng kể và có những đóng góp không nhỏ vào sự thành công của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Qua việc triển khai thực hiện quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về bồi dưỡng CBCC cấp xã đã nổi lên một số khó khăn, bất cập như sau:

Một là, chương trình bồi dưỡng vẫn có những nội dung chưa thực sự gắn với nhu cầu của đối tượng, đôi khi quá tập trung vào các vấn đề mang tính lý thuyết, nhẹ về kỹ năng thực hành và tổng kết thực tiễn; trong khi CBCC cấp xã cần nhất là những kỹ năng, kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề cụ thể. Có những chuyên đề có nội dung rất lớn, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực nhưng thời lượng theo khung chương trình lại không đủ để truyền tải (ví dụ, chuyên đề “Bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng nghiệp vụ trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở địa phương” thuộc chương trình bồi dưỡng chuyên sâu lĩnh vực triển khai, quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư; đăng ký, thống kê đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai dành cho công chức địa chính - xây dựng - nông nghiệp và môi trường xã, thời lượng 5 tiết)(3).

Hai là, CBCC cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực ở địa phương và mỗi địa phương, mỗi vùng miền lại có những đặc thù riêng đòi hỏi có sự vận dụng sáng tạo, trong khi tài liệu bồi dưỡng lại viết chung, không tách bạch cụ thể cho các địa phương, vùng miền. Do vậy, nếu sử dụng bộ tài liệu chung sẽ không thể phát huy hết giá trị của hoạt động bồi dưỡng.

Ba là, các lớp học thường được mở tại địa phương nên cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác bồi dưỡng còn thiếu và lạc hậu, do vậy rất khó để triển khai các phương pháp và công cụ giảng dạy hiện đại, tích cực; số lượng học viên lớn (thường xấp xỉ 100 học viên), không đủ thời lượng để tương tác giữa giảng viên với học viên, giữa các học viên với nhau dẫn tới thực hành các kỹ năng không được cải thiện nhiều.

Bốn là, giảng viên tham gia công tác bồi dưỡng CBCC cấp xã hiện nay chủ yếu đến từ các trường chính trị và các trường đại học, là những người có kiến thức lý luận và nghiệp vụ sư phạm tốt, nhưng đa phần lại thiếu kiến thức và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn. Một số ít là cán bộ quản lý lãnh đạo ở cơ sở, đây là những người những kiến thức thực tiễn và kinh nghiệm giải quyết các vấn đề ở cơ sở, nhưng lại thiếu lý luận và nghiệp vụ sư phạm.

3. Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã thời gian tới

Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đề ra mục tiêu đến năm 2030: “Đối với cán bộ chuyên trách cấp xã: 100% có trình độ cao đẳng, đại học và được chuẩn hoá về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác”(4). Theo đó, CBCC cấp xã phải được tham gia đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng đủ các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định hiện hành. Theo kế hoạch, từ nay đến năm 2025, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của các bộ, ngành dự kiến mở 2.000 lớp bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu cho 100.000 lượt CBCC cấp xã trong cả nước các chức danh theo 28 bộ tài liệu đã ban hành và ban hành mới (nếu có). Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ bồi dưỡng cho khoảng 400.000 lượt CBCC cấp xã. Theo đó, Bộ Nội vụ sẽ triển khai trên diện rộng việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng công nghệ thông tin theo phương thức trực tuyến (E-Learning) cho CBCC cấp xã tại các địa phương với mục tiêu mở rộng triển khai dạy và học theo phương pháp mới, áp dụng đào tạo trực tuyến để tăng số lượng học viên, giảm thiểu chi phí, thời gian bồi dưỡng(5).

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả bồi dưỡng CBCC cấp xã đến năm 2025, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

3.1. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý bồi dưỡng

Một là, nâng cao chất lượng tài liệu bồi dưỡng.

Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tế của học viên, khung chương trình bồi dưỡng cần được chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể. Những chuyên đề có nhiều nội dung, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực phải được chia thành nhiều chuyên đề khác nhau; hoặc thiết kế theo dạng mô đun để trong những trường hợp nhất định, giảng viên và học viên có sự lựa chọn về các nội dung cụ thể trong mô đun đó.

Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy phải phù hợp với từng đối tượng CBCC cấp xã theo từng vùng miền (đồng bằng, miền núi, vùng dân tộc thiểu số...), theo từng giai đoạn phát triển đến năm 2025. Cử giảng viên tham gia các lớp tập huấn để sử dụng 28 bộ tài liệu bồi dưỡng cho các chức danh công chức cấp xã do Bộ Nội vụ ban hành và cập nhật những văn bản mới cho những năm tiếp theo.

Hai là, tăng cường thời lượng dành cho việc rèn luyện, nâng cao các kỹ năng cho cán bộ, công chức cấp xã.

Để có nhiều cơ hội cho học viên được thực hành các kỹ năng cần xem xét lại quy mô lớp học, tránh tình trạng các lớp học quá đông người như trong thời gian vừa qua, với những lớp học có số lượng học viên nhiều cần áp dụng theo hình thức báo cáo chuyên đề. Đồng thời, có những chuyên đề nếu điều kiện cho phép thì nên tổ chức học tập, trao đổi ở theo mô hình “Hội nghị đầu bờ”.

Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.

Giảng viên của các lớp bồi dưỡng CBCC cấp xã phải kết hợp giữa những người am hiểu lý luận và những người làm công tác thực tiễn, do vậy cần tập huấn cho đội ngũ giảng viên để có sự trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và kỹ năng giảng dạy. Ở những chuyên đề đòi hỏi tính chuyên sâu cao, bao gồm nhiều lĩnh vực, diễn ra trên phạm vi rộng có thể bố trí hai giảng viên cùng lên lớp (01 giảng viên cơ hữu và 01 giảng viên kiêm chức). Tổ chức bồi dưỡng phải đảm bảo cho đội ngũ giảng viên cơ hữu và kiêm chức vững vàng về chuyên môn, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sư phạm.

Xây dựng các tiêu chuẩn, nhiệm vụ, chính sách và chế độ đãi ngộ phù hợp để thu hút những CBCC đã được đào tạo cơ bản, có kinh nghiệm thực tiễn, có năng lực giảng dạy đang công tác tại các cơ quan, đơn vị tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm chức. Kiện toàn tổ chức, biên chế, bổ sung lực lượng giảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã đặt ra.

Bốn là, nâng cao chất lượng các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.

Tiến hành khảo sát, lựa chọn các trường, các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng CBCC đảm bảo quy mô, chất lượng cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên, tài liệu, giáo trình phù hợp với với nhu cầu để hợp đồng triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã lâu dài và ổn định. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBCC để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập đối với CBCC nói chung; CBCC cấp xã nói riêng.

Năm là, triển khai hình thức đào tạo trực tuyến có lựa chọn.

Đào tạo trực tuyến là một xu hướng phổ biến hiện nay, vừa giảm bớt chi phí, vừa tạo độ phủ lớn. Bởi vì, với đặc thù của bồi dưỡng CBCC cấp xã là tập trung vào rèn luyện kỹ năng, do vậy triển khai trên diện rộng việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng công nghệ thông tin theo phương thức trực tuyến (E-Learning) cần cẩn trọng trong việc lựa chọn chuyên đề, lựa chọn nội dung bồi dưỡng. Nên có sự kết hợp phương thức trực tuyến và phương thức trực tiếp để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng CBCC cấp xã.

3.2. Nhóm giải pháp đối với chính quyền địa phương

Một là, làm tốt công tác tuyên truyền, quán triệt tinh thần Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. UBND các cấp cần chủ động xây dựng kế hoạch hoặc chương trình hành động cụ thể để tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã. Làm tốt công tác quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng và bố trí CBCC cấp xã một các hợp lý.

Hai là, tổ chức rà soát, đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch bố trí sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng từng chức danh công chức. Quan tâm đến các xã ở miền núi, vùng biên giới, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo nguồn cán bộ cả trước mắt và lâu dài. Hàng năm tiến hành rà soát, bổ sung quy hoạch cho các chức danh CBCC cấp xã, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với CBCC cấp xã.

Ba là, đưa công tác đánh giá CBCC cấp xã đi vào nề nếp, gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng. Tổ chức tốt việc tuyển dụng, bổ nhiệm mới đối với CBCC cấp xã theo hướng phải đáp ứng tiêu chuẩn chuyên môn theo chức danh quy định. Rà soát bảo đảm đúng tiêu chuẩn về chức danh, chức vụ, không bố trí cán bộ, tuyển dụng công chức cấp xã không đạt chuẩn về chuyên môn, chưa có bằng chuyên môn và tuổi cao, năng lực yếu.

Bốn là, xác định chính xác nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng, trên cơ sở đó xây dựng và triển khai có hiệu quả kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã cho từng năm, từng giai đoạn. Hàng năm tiến hành xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện. Không cử CBCC không nằm trong quy hoạch, kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đi đào tạo, bồi dưỡng.Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho CBCC cấp xã là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới. Để hoạt động bồi dưỡng CBCC cấp xã đem lại kết quả như kỳ vọng, đòi hỏi các cấp, các ngành và các địa phương phải có những chiến lược dài hạn căn cứ vào thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương và thực tiễn hoạt động bồi dưỡng CBCC cấp xã trong những năm qua./.

--------------------------------------

Ghi chú:

(1) Chính phủ, Nghị định số 34/2019/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.

(2) Thanh Tuấn, Thanh Tùng, Kết quả 10 năm thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã,https://moha.gov.vn/baucu/tin-tuc-su-kien/ ket-qua-10-nam-thuc-hien-dao-tao-boi-duong-can-bo-cong-chuc-xa-44545.html.

(3) Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Quyết định số 2063/QĐ-BTNMT ngày 26/6/2018 về bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu về đất đai cho công chức địa chính, nông nghiệp, xây dựng và môi trường.

(4),(5)  Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2018, tr.59.

 

PGS.TS Trần Thị Diệu Oanh, Trưởng khoa, Khoa Nhà nước - Pháp luật và Lý luận cơ sở, Học viện Hành chính Quốc gia

TS Vũ Xuân Thanh - Học viện Hành chính Quốc gia

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Đẩy mạnh hoạt động quan hệ công chúng của Chính phủ - nhìn từ đại dịch COVID-19

Ngày đăng 28/12/2020
Trong tiếng Anh, Public Relations (PR) có nghĩa là quan hệ công chúng, quan hệ cộng đồng. Thuật ngữ PR được sử dụng lần đầu tiên ở Mỹ năm 1807 bởi Tổng thống Thomas Jefferson. Ông cho rằng PR là một hoạt động của các cơ quan chính phủ nhằm tạo không khí tin tưởng của dân chúng vào chính quyền. Ngày nay, PR đã trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhờ có bước phát triển nhảy vọt của các phương tiện truyền thông, tạo nên sự bùng nổ thông tin trong thế giới hiện đại. Hiện nay có nhiều định nghĩa về PR, song có thể hiểu PR là những nỗ lực giao tiếp có hệ thống, có kế hoạch của một cá nhân hay tổ chức nhằm tạo dựng hình ảnh tích cực về tổ chức và thiết lập, duy trì, phát triển những mối quan hệ tốt với công chúng.

Khắc phục tình trạng “nhạt Đảng”, “khô Đoàn”trong thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay

Ngày đăng 18/12/2020
Thanh niên là chủ nhân tương lai của đất nước. Sự lớn mạnh của tuổi trẻ là thành công của Đảng, là thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, là sự trường tồn phát triển của xã hội. Xây dựng Đoàn là xây dựng đội quân xung kích của cách mạng, đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam; vì vậy, phải hết sức coi trọng công tác xây dựng tổ chức đoàn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kế cận cho Đảng nhằm thực hiện thắng lợi Chiến lược cán bộ của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Thực hiện mô hình bí thư đảng ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã ở An Giang - Thực trạng và giải pháp

Ngày đăng 16/12/2020
Thực hiện chủ trương tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, bám sát yêu cầu thực tiễn đặt ra, Đảng bộ tỉnh An Giang đã triển khai thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã một cách bài bản - thí điểm, tổng kết, nhân rộng, đạt được kết quả rất tích cực, góp phần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả phương thức lãnh đạo của Đảng. Bài viết tập trung làm rõ ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và xác định một số giải pháp tiếp tục thực hiện, duy trì bền vững mô hình  ở An Giang.

Giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo

Ngày đăng 09/12/2020
Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ “Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, trên một số mặt vẫn còn bất cập về chất lượng, số lượng, cơ cấu và chính sách đãi ngộ”. Điều đó, đòi hỏi ngành Giáo dục và Đào tạo phải có những giải pháp hiệu quả để tiếp tục phát triển nhân lực quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. GS.TS Phùng Xuân Nhạ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thẳng thắn chia sẻ với Tạp chí Tổ chức nhà nước về những hạn chế của đội ngũ nhân lực quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo; đồng thời đưa ra một số giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Tạp chí Tổ chức nhà nước - 30 năm xây dựng và phát triển

Ngày đăng 07/12/2020
Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển (1990-2020), Tạp chí Tổ chức nhà nước luôn hoàn thành tốt vai trò là cơ quan báo chí duy nhất trong cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ, thực hiện tốt chức năng thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực tổ chức nhà nước và chức năng diễn đàn khoa học, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn, lý luận, nghiệp vụ về tổ chức và hoạt động của nền hành chính nhà nước.