Hà Nội, Ngày 04/07/2022

Trao quyền cho phụ nữ để thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam

Ngày đăng: 06/11/2020   03:28
Mặc định Cỡ chữ
Triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới năm 2006, Việt Nam đã ban hành nhiều chương trình và đề án cụ thể về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới nhằm nâng cao quyền năng của phụ nữ. Tuy nhiên, sự biến đổi nhanh chóng của các điều kiện kinh tế - xã hội, nhất là sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đặt ra cho phụ nữ thế giới và Việt Nam những khó khăn, thách thức mới. Vì vậy, cần đẩy mạnh việc trao quyền để phụ nữ tham gia đầy đủ vào tất cả các lĩnh vực và ở tất cả các cấp độ của hoạt động kinh tế - xã hội nhằm thiết lập các quan hệ xã hội bền vững và công bằng hơn.

1. Khái niệm và ý nghĩa của “trao quyền cho phụ nữ”

Từ thế kỷ XIX, đã có nhiều tranh luận về khái niệm “vị thế và vai trò của phụ nữ trong xã hội”. Tuy nhiên, các nhà tư tưởng nam giới của phái “Tự do - Freedom” (Pháp) khi đấu tranh cho mục tiêu giành quyền tự do của con người trong chế độ tư bản đã gạt phụ nữ ra khỏi mục tiêu đó, vì cho rằng: khác với nam giới, phụ nữ phải chịu sự thống trị cố hữu của nam giới từ nhiều thế hệ trước không cần thay đổi. Họ cho rằng: “Sức mạnh của phụ nữ chính là ở chức năng giới tính của họ chứ không phải ở trí tuệ và quyền lực như nam giới”(1). Cho đến nay, quan niệm này vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở nhiều quốc gia.

Khái niệm “trao quyền” được đề cập từ cuối thế kỷ XX trong nhiều lĩnh vực, từ giáo dục tới y tế, trong các vấn đề lớn như chống nghèo đói hay quản lý quốc gia. Cũng trong thời gian này, nhiều quan điểm tiến bộ đã cho rằng phụ nữ là nhóm yếu thế cần được trao quyền. Vì vậy, thuật ngữ “trao quyền cho phụ nữ” đã ra đời. “Trao quyền cho phụ nữ” là tư tưởng chủ đạo của cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ. Nó không chỉ nâng cao quyền năng và tiếng nói của phụ nữ với tư cách là một nửa nhân loại mà còn nâng cao quyền năng của xã hội để xây dựng một xã hội văn minh và nhân đạo. Trao quyền cho phụ nữ và trẻ em là chống lại những quan niệm nam quyền trong gia đình và xã hội để thực hiện quyền con người của họ. Bên cạnh nhu cầu đảm bảo cho cuộc sống vật chất thì việc đáp ứng nhu cầu chiến lược của phụ nữ để đưa họ thoát khỏi vị trí phụ thuộc, bất bình đẳng là vô cùng quan trọng.

Thực tế ở Việt Nam, việc trao quyền cho phụ nữ đã xuất hiện trong xã hội phong kiến, nhưng chỉ trong những tình thế bắt buộc và việc trao quyền này chỉ là hiện tượng mang tính hình thức chứ không phải là bản chất của chính sách.

Ví dụ, trong các triều đình phong kiến trước đây, khi các vị vua đương nhiệm qua đời sớm, hoàng tử còn nhỏ tuổi, triều đình suy tôn họ lên ngôi nhưng vì uy tín của triều đình và vì cả chất lượng của các quyết sách nên đã cho phép những người mẹ của vua (hoàng thái hậu) được tham gia triều chính, cùng các quan lại trọng yếu quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến sự tồn vong của đất nước. Để bảo đảm tính phụ quyền, luật lệ phong kiến buộc những phụ nữ này phải “buông rèm chấp chính”. Biện pháp này đã làm giảm bớt uy tín và quyền lực của phụ nữ và kiểm soát được họ, tránh những trường hợp “vượt rào” hoặc lộng quyền. Hoặc đối với gia đình, khi người chồng mất sớm và trưởng nam còn nhỏ, người đàn bà góa có thể nắm quyền điều hành gia đình tạm thời trong sự kiểm soát của dòng họ bên chồng và trao lại cho con trai khi chúng trưởng thành.

Như vậy, hoạt động chính trị thời phong kiến ở Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác hầu như nằm trong sự điều hành của nam giới. 

Ngày nay, ở hầu hết các nước trên thế giới và Việt Nam, việc trao quyền cho phụ nữ đã được thực hiện công khai, có sự bảo vệ của pháp luật. Nhưng trên thực tế, mức độ trao quyền không giống nhau giữa các vùng, các quốc gia và phụ thuộc vào chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, trình độ nhận thức của từng xã hội. Sự chồng chéo và phức tạp của phạm trù “trao quyền” đã khiến nhiều người không nhận thức được rõ nghĩa đích thực của nó.

Có thể hiểu, ý nghĩa bản chất tích cực của trao quyền cho phụ nữ là tạo cơ hội bình đẳng và công bằng cho phụ nữ về các quyền cơ bản, tiếng nói và quyền lực để họ tham gia đầy đủ vào tất cả các lĩnh vực và ở tất cả các cấp độ của hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và gia đình nhằm xây dựng xã hội công bằng, phát triển bền vững.

Trao quyền cho phụ nữ nhằm đáp ứng nhu cầu cho hai nhóm phụ nữ: 

Thứ nhất, khuyến khích, nâng đỡ những phụ nữ tài năng đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau và có khả năng giải quyết những vấn đề cấp bách của thế giới, đất nước hoặc địa phương, ngành, lĩnh vực...

Thứ hai, trao quyền cho mọi phụ nữ không phân biệt giàu nghèo, trình độ học vấn, trình độ chính trị… với tư cách là công dân của đất nước, là thành viên của gia đình. 

Xét về bản chất, trao quyền cho phụ nữ chính là thực hiện quyền con người của họ giống như nam giới, nhưng có tính đến khía cạnh giới tính và chống lại các hủ tục ràng buộc, áp bức phụ nữ. Đó chính là bình đẳng giới thực chất và thước đo của bình đẳng giới chính là tỷ lệ tham chính của phụ nữ. Tham chính thể hiện ở sự tham gia chính trị bình đẳng của phụ nữ với tư cách công dân và số lượng cao những phụ nữ trực tiếp tham gia các vị trí trong hệ thống chính trị, bộ máy công quyền.

2. Thực trạng vấn đề trao quyền cho phụ nữ ở Việt Nam

Ở Việt Nam, với những chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực của các cấp, các ngành và toàn xã hội, trong những năm qua công tác bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, trong từng lĩnh vực cụ thể vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập nên vị thế, vai trò của phụ nữ chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và đóng góp của họ trong thực tế đời sống và xã hội.

Trong lĩnh vực chính trị, mặc dù Việt Nam là nước có tỷ lệ cao nhất về nữ đại biểu Quốc hội trong khối ASEAN, song vẫn chưa có nhiều phụ nữ nắm giữ các vị trí ra quyết định ở cấp cao trong bộ máy chính quyền. Một trong những lý do chính của tình trạng này là Việt Nam chịu ảnh hưởng của Nho giáo và văn hóa phương Đông cho rằng phụ nữ phải thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ; là người nội trợ cho gia đình. Áp lực này rất lớn khiến cho phụ nữ phải toàn tâm, toàn ý với gia đình và hầu như không được chia sẻ khi phải gánh vác công việc xã hội. 

Hiện nay, tỷ lệ phụ nữ có chức danh khoa học và học vị cao vẫn chiếm tỷ lệ thấp so với nam giới: nữ giáo sư là 3,5%, phó giáo sư là 5,9%, tiến sĩ là 12,6%, tiến sĩ khoa học là 5,1%. Có 19 người được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và nhiều phụ nữ đạt các giải thưởng Kovalepskaia, danh hiệu nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú(2). Mặt khác, dù phụ nữ có cố gắng nhưng họ vẫn có nhiều rào cản cả về tuổi tác và cơ hội được học tập, thăng tiến so với nam giới.

Trong lĩnh vực lao động và việc làm, khoảng cách giới vẫn còn sự chênh lệch khá xa giữa nam và nữ trong sử dụng nguồn nhân lực và hưởng thụ các chính sách đãi ngộ. Báo cáo của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) năm 2018 cho thấy: “Trong phạm vi toàn cầu, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam giới và phụ nữ từ 15 tuổi trở lên tiếp tục giảm dài hạn. Nó vào khoảng 61,8% năm 2018, thấp hơn khoảng 1,4% so với hơn một thập kỷ trước. Tỷ lệ tham gia của phụ nữ thấp hơn so với nam giới đã chỉ ra rằng đó là kết quả của sự coi thường việc thu hẹp khoảng cách giới”(3).

Ở Việt Nam, tỷ lệ lao động nữ đạt 46,6%. Lao động nữ chiếm số đông trong các công việc đơn giản, thu nhập thấp ở các vùng nông thôn hoặc các vùng kinh tế phi chính thức. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ cao hơn so với lao động nam do những hạn chế về sức khỏe, gia đình, con cái, tuổi nghỉ hưu sớm là những vấn đề xã hội liên quan đến giới và giới tính chưa được giải quyết.

Mặt khác, cơ cấu lực lượng lao động phân theo khu vực thành thị và nông thôn cũng có sự chênh lệch lớn. Nhìn chung, lực lượng lao động ở nước ta chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn (chiếm khoảng gần 70%), trong đó lao động phụ nữ chiếm trên 60%. Con số này có xu hướng giảm qua các năm, nhưng vẫn ở mức cao và khoảng 80% số lao động này chưa qua đào tạo chuyên môn. Đặc điểm này là trở ngại lớn cho lao động nông thôn trong tìm kiếm việc làm và thu nhập(4).

Nguồn cung lao động ở Việt Nam hiện nay luôn xảy ra tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động có kỹ thuật, trình độ cao ở tất cả các ngành, đặc biệt là lao động nữ. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, kỹ năng, tay nghề, thể lực và tác phong lao động công nghiệp còn yếu nên khả năng cạnh tranh thấp. Kỷ luật lao động của người Việt Nam nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra của quá trình sản xuất công nghiệp hiện đại.

Thực tế cho thấy, khi phụ nữ có trình độ thấp, không có việc làm và thu nhập ổn định, họ sẽ không được chồng con và xã hội tôn trọng, điều này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trao quyền của họ. Đảm bảo được vấn đề bình đẳng giới trong việc làm và thu nhập không những giải phóng được sức lao động, tận dụng nguồn lực, làm lành mạnh thị trường lao động, mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 

Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã cảnh báo: sự bất bình đẳng giới trong thu nhập là sự khác biệt giữa thu nhập của lao động nam và lao động nữ mặc dù có cùng các đặc tính năng lực và năng suất lao động. Phân tích bất bình đẳng giới trong thu nhập là quá trình phân tích thông tin về thu nhập giữa nam và nữ nhằm đảm bảo rằng các lợi ích phát triển và các nguồn lực được sử dụng và phân phối một cách hiệu quả và công bằng cho cả nam giới và phụ nữ. Không nhận thức đầy đủ về vấn đề giới đồng nghĩa với việc hạn chế sự tiếp cận của phụ nữ với các nguồn lực sản xuất và việc làm, loại trừ lực lượng lao động nữ và công việc của phụ nữ ra khỏi quá trình phát triển của địa phương và quốc gia…(5).

Bất bình đẳng giới trong thu nhập vừa là một trong những nguyên nhân gây ra nghèo đói, vừa là yếu tố cản trở lớn đối với quá trình phát triển. Tình trạng nghèo đói, tình trạng suy dinh dưỡng, đau ốm và những nỗi khổ cực khác ở mức độ lớn chính là sự trả giá của những xã hội có sự bất bình đẳng giới lớn và kéo dài. Ngược lại, tăng trưởng kinh tế sẽ mang lại hiệu quả tích cực đối với giảm tỷ lệ nghèo đói ở những xã hội có bình đẳng giới ở mức độ cao.

Từ sự hạn chế trong các cơ hội để phụ nữ tiếp cận nền giáo dục và đào tạo, việc lựa chọn ngành nghề, cơ hội nâng cao trình độ chuyên môn cũng bị ảnh hưởng. Ngoài ra, phụ nữ cũng có ít cơ hội tiếp cận hơn đối với các dịch vụ cũng như nguồn lực cơ bản khác như nước sạch, giao thông và thị trường, nguồn vốn... điều này cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc cải thiện tình trạng và vị thế kinh tế của họ.

Mức độ bất bình đẳng giới tại mỗi quốc gia không chỉ phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của những định kiến giới mà còn phụ thuộc vào sự nỗ lực của nhà nước trong việc cải thiện sự bất bình đẳng giới. Trong lĩnh vực kinh tế lao động, chính phủ các quốc gia thường ban hành các chính sách và quy định riêng để bảo vệ quyền lợi của lao động nữ, nhưng không phải lúc nào các chính sách và quy định cũng phát huy được hiệu quả như mong muốn. Những phụ nữ làm công ăn lương chỉ có mức thu nhập bằng 87% tiền thù lao theo giờ của nam giới. Kết quả điều tra gia đình toàn quốc lần đầu tiên do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tiến hành cho thấy, phụ nữ Việt Nam không được tham gia một cách bình đẳng vào việc ra quyết định trong gia đình cũng như có mức độ sở hữu và kiểm soát ít hơn đối với các tài sản chính như nhà cửa, đất đai và các khoản mua sắm lớn(6). Vì vậy, tình trạng bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại ở nhiều vùng, nhiều địa phương.

Bên cạnh đó, định kiến giới cũng ảnh hưởng không tốt đến việc quyết định bố trí phụ nữ vào các vị trí quan trọng trong bộ máy công quyền, dẫn đến việc phụ nữ ít nằm trong quy hoạch đội ngũ lãnh đạo kế cận. Chịu áp lực phải gánh vác chính công việc gia đình, phụ nữ hầu như không có thời gian mở rộng các mối quan hệ xã hội để làm tốt vai trò lãnh đạo, cũng như vai trò đại biểu của nhân dân khi được bầu. Thêm vào đó, một số quy định khác biệt giữa nam và nữ như độ tuổi nghỉ hưu, tuổi đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cũng làm hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào các lĩnh vực của đời sống xã hội.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trao quyền cho phụ nữ ở Việt Nam

Mục tiêu bình đẳng giới trong chính trị, kinh tế, văn hóa vừa là vấn đề quyền con người; vừa là một yêu cầu cơ bản cho sự phát triển công bằng và hiệu quả. Vì vậy, nghiên cứu về tình trạng bất bình đẳng giới trong xã hội và đẩy mạnh việc trao quyền cho phụ nữ có ý nghĩa quan trọng không chỉ hướng tới tạo sự bình đẳng mà còn góp phần đưa ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả và hiệu lực của tăng trưởng kinh tế - xã hội. Từ thực trạng nêu trên, có thể gợi mở một số giải pháp sau để nâng cao hiệu quả việc trao quyền cho phụ nữ ở nước ta hiện nay:

Một là, cần tăng cường tuyên truyền rộng rãi về pháp luật bình đẳng giới nới chung; về quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ nói riêng để mọi người hiểu rõ đây là những vấn đề thiết thực, nếu hiểu đúng và thực hiện tốt thì có lợi cho gia đình, xã hội và đất nước.

Hai là, cần có những chính sách riêng về vấn đề tham chính của phụ nữ. Thời gian qua, tỷ lệ phụ nữ tham chính ở nước ta đã tăng lên so với những năm trước, nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của phụ nữ. Do đó, cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ, công chức nữ trước và sau các kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Có chính sách riêng cho phụ nữ - không phải là ưu tiên, mà là phải chú trọng đến chức năng giới tính để thực hiện bình đẳng giới một cách hiệu quả.

Ba là, đưa chính sách bình đẳng giới vào trong gia đình và xã hội bằng cách khuyến khích nam giới chia sẻ việc nhà với phụ nữ và khuyến khích phụ nữ tham gia các hoạt động chính trị. Xử lý nghiêm và kịp thời các hành vi ngược đãi, xâm phạm nhân phẩm và tính mạng phụ nữ và trẻ em như: bạo lực, hành hạ, ngược đãi, xâm hại tình dục… trong gia đình và xã hội./.

----------------------------------------

Ghi chú:

(1) Lê Thị Quý, Giáo trình Xã hội học về giới, Nxb Giáo dục Việt Nam, H.2010.

(2) Thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam năm 2017.

(3) Tài liệu từ ILO: http://www.ilo.org/ilostat-files / Documents/LFEPbrief.pdf. For further information on long-term trends in labour force participation rates and related gender gaps, see the brief ILO Labour Force Estimates and Projections (LFEP) 2017: Key trends, Trends for Women 2018 - Global snapshot.

(4) John Hendra, Báo cáo Phát triển con người về Giới của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (2010).

(5) Báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), năm 2010.

(6) Tổng cục Thống kê và UNICEF, Báo cáo điều tra đánh giá các Mục tiêu trẻ em và phụ nữ (2013-2014).

 

GS.TS Lê Thị Quý, Giám đốc Viện Nghiên cứu Giới và Phát triển

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Giải pháp nâng cao tỉ lệ nữ trong bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV

Ngày đăng 29/04/2021
Trong thời gian qua, nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định trong thúc đẩy quyền chính trị của phụ nữ thể hiện ở những quy phạm pháp luật tiến bộ và đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực chính trị. Đại biểu Quốc hội là nữ đã không ngừng tăng về số lượng và chất lượng; tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao hơn so với trung bình của khu vực châu Á và thế giới.

Bộ Nội vụ ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo

Ngày đăng 06/04/2021
Ngày 02/4/2021, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ký ban hành Quyết định số 482/QĐ-BNV về việc ban hành Kế hoạch hướng dẫn triển khai thực hiện Quyết định số 2282/QĐ-TTg ngày 31/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo quản lý ở tất cả các cấp hoạch định chính sách từ 2021 đến 2030.

Phấn đấu đến năm 2030 có 75% các cơ quan quản lý nhà nước có lãnh đạo chủ chốt là nữ

Ngày đăng 05/01/2021
Ngày 31/12/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2282/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo và quản lý ở các cấp hoạch định chính sách giai đoạn 2021 - 2030”.

Thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao năng lực đối với phụ nữ khuyết tật, phụ nữ dân tộc thiểu số

Ngày đăng 25/12/2020
Sáng nay 25/12/2020, tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu và Hành động Vì sự Phát triển hòa nhập (IDEA) tổ chức Diễn đàn: “Thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao năng lực đối với phụ nữ khuyết tật, phụ nữ dân tộc thiểu số trong thực thi Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân và gia đình”.

Quảng Ninh: 100% Chủ tịch Hội LHPN cấp huyện tham gia cấp ủy

Ngày đăng 22/12/2020
Vừa qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Hội và phong trào phụ nữ năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021; sơ kết 3 năm thực hiện mô hình “Biến rác thành tiền”.

Tiêu điểm

Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện đưa lên mức độ 4 là 97,3%

Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông về tình hình thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ "về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025" (Báo cáo số 91/BC-BTTTT ngày 30/6/2022), tính đến ngày 28/6/2022, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện đưa lên mức độ 4 là 97,3% (chiếm 53,56% tổng số thủ tục hành chính).