Hà Nội, Ngày 02/12/2020

Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong kiểm soát quyền lực và nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng

Ngày đăng: 05/11/2020   04:07
Mặc định Cỡ chữ
Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong kiểm soát quyền lực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả phòng, chống tham nhũng là quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị nhằm tạo sự đột phá, đảm bảo cho công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

1. Quyền lực và kiểm soát quyền lực

“Quyền lực là cái sức có thể dùng để bắt người ta phải theo mình”(1), là năng lực, khả năng của một tổ chức hay cá nhân, tác động đến hành động, hành vi của những người khác, buộc họ phải thực hiện ý chí của mình thông qua các phương tiện, phương thức như: uy tín, quyền hành, cơ chế, chính sách, thậm chí cưỡng bức thực hiện. Quyền lực được trao đúng cho người có tài năng và đạo đức thì sẽ phát huy tác dụng, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân, sự hưng thịnh cho đất nước. Khi đó, quyền lợi của Nhân dân, của Tổ quốc được đặt lên trên lợi ích cá nhân; các giá trị đạo đức, nhân văn của chế độ được trân trọng, đề cao. Ngược lại, nếu quyền lực bị trao nhầm vào tay những người tha hóa, biến chất sẽ bị lợi dụng để phục vụ cho lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm” mà bỏ qua lợi ích quốc gia, dân tộc.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, cán bộ, đảng viên được giao nhiều quyền lực để làm việc cho nhân dân, cho đất nước. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã xuất hiện nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan “làm cho quyền lực của cán bộ, đảng viên rất dễ bị tha hóa”, dễ bị “biến chất, trở nên xấu đi”(2), trong đó một phần không nhỏ là do thiếu kiểm soát. 

Quyền lực luôn có nguy cơ bị tha hóa dẫn đến tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh của quyền lực”. Vì vậy, một trong những giải pháp được Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng Trung ương đưa ra để ngăn chặn nạn tham nhũng là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng để kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát quyền lực của cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XII của Đảng chỉ rõ một trong những biểu hiện về suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống là: “Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”(3). Do đó, khi đã giao quyền, ủy quyền thì Nhân dân phải thực hiện kiểm tra, kiểm soát, giám sát xem tổ chức, cá nhân được giao quyền, ủy quyền có thực hiện đúng, đầy đủ, nghiêm túc chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ được giao không; có lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì mục đích cá nhân, vì “lợi ích nhóm” hay không. Người chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(4)... Cán bộ là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân. Để chống lại tình trạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân, đòi hỏi các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và cán bộ phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân và của tổ chức đảng. Người nhắc nhở: “Những người làm việc trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân…”(5). Vì vậy, cơ chế kiểm soát quyền lực đối với bộ máy nhà nước, chính là kiểm soát “cán bộ”, Người chỉ rõ: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(6).

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng Trung ương nhấn mạnh: “Những năm tới, sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước đang chuyển sang giai đoạn mới, cao hơn, ngày càng đi vào chiều sâu; cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng còn nhiều khó khăn, phức tạp; nhân dân đòi hỏi công tác phòng, chống tham nhũng phải tiếp tục quyết liệt, duy trì được phong trào, xu thế như hiện nay”(7). Bởi vậy, cấp ủy đảng và chính quyền các cấp không được chủ quan, thỏa mãn với những kết quả đạt được, mà vẫn phải kiên quyết, kiên trì, tiếp tục phòng, chống tham nhũng quyết liệt hơn, hiệu quả hơn. 

2. Quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước trong kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên để phòng, chống tham nhũng

Phòng, chống tham nhũng được Đảng ta xác định là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đó là nhân tố quan trọng nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng hiện nay. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII chỉ rõ: “Kiên quyết phòng, chống tham nhũng với yêu cầu chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí”(8). Trên cơ sở đó, Đảng ta chủ trương hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách nhằm phòng ngừa, răn đe, trừng trị nghiêm khắc hành vi tham ô, tham nhũng: “Kiên quyết, kiên trì xây dựng cơ chế phòng ngừa để không thể tham nhũng; cơ chế răn đe, trừng trị để không dám tham nhũng”(9). 

Hệ thống thể chế, chính sách được bổ sung, hoàn thiện, chặt chẽ sẽ không có kẽ hở để cho những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thoái hóa, biến chất lợi dụng thực hiện hành vi tham nhũng. Đảng ta yêu cầu: “Xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền, đặc lợi, khắc phục “tư duy nhiệm kỳ”(10). Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XII nêu rõ những biểu hiện vi phạm trong sử dụng quyền lực của cán bộ, đảng viên, đó là: “Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để tham ô, tham nhũng; dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi”(11). Nghị quyết đề ra giải pháp kiểm soát quyền lực trong công tác xây dựng Đảng với 3 nội dung chính: 1) Rà soát hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn; 2) Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức cán bộ yếu kém về trình độ, năng lực, phẩm chất, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu; 3) Trước mắt rà soát, kiểm tra, xử lý vi phạm trong thực thi quyền lực. 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh, để phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, phải có cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực trong tổ chức đảng và cơ quan nhà nước, phải “nhốt quyền lực vào  lồng cơ chế, pháp luật”. Để tạo sự chuyển biến trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư luôn đề cao việc gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức và yêu cầu: “Kiên quyết xử lý và kịp thời thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm minh trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng, lãng phí”(12).

3. Một số giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong kiểm soát quyền lực của cán bộ, đảng viên để phòng, chống tham nhũng

Để tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong kiểm soát quyền lực của cán bộ, đảng viên; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, chủ động, tích cực phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân vào việc kiểm tra, giám sát quyền lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền; đồng thời tiếp tục hoàn thiện thể chế, có quy định, chế tài đủ mạnh để các tổ chức, cá nhân được giao quyền lực phải thực hiện đúng, đầy đủ, có trách nhiệm với nhiệm vụ được giao, không dám - không thể - không muốn lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì mục đích, lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Cuộc đấu tranh phòng, chống tha hóa quyền lực, kiểm soát quyền lực đòi hỏi quyết tâm rất cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” tạo ra sức mạnh tổng hợp để thực hiện có hiệu quả cao nhất. 

Hai là, kiểm soát quyền lực phải trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây là chính, chống phải kiên quyết, nghiêm minh và lấy chống để xây. Kiểm soát quyền lực không có “vùng cấm”, không loại trừ bất cứ đối tượng nào, ở bất kỳ cấp nào, giữ bất kỳ cương vị nào: nếu lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân, tham nhũng, “lợi ích nhóm” đều phải được kiểm tra, thanh tra, điều tra, xem xét, kết luận và xử lý nghiêm minh theo kỷ luật của Đảng và xử lý nghiêm hoặc truy tố theo pháp luật của Nhà nước. Bổ sung, hoàn thiện các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước để có cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ và có chế tài xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”. 

Ba là, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ phải thật sự công khai, minh bạch. Đây là giải pháp quan trọng, là vấn đề then chốt để kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền. Bởi vì, hệ thống quy chế, quy định đồng bộ, nhất quán là cơ sở đảm bảo cho công tác cán bộ thực hiện đúng nguyên tắc, quyền hạn; khắc phục biểu hiện tùy tiện của người đứng đầu trong quyết định các vấn đề liên quan đến cán bộ. 

Những năm qua, công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc về tham nhũng được thực hiện đồng bộ, hiệu quả, tạo bước đột phá trong phát hiện, xử lý nghiêm những sai phạm theo quy định của Đảng, Nhà nước; có sức cảnh báo, răn đe mạnh mẽ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, khẳng định quyết tâm chính trị cao chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước: “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “bất kể người đó là ai”. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã mở rộng phạm vi, đối tượng kiểm tra đến cả cấp ủy cấp huyện và cơ sở. Cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra các cấp đã tập trung kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; xử lý nghiêm cả cán bộ đương chức và nghỉ hưu, cả cán bộ cấp cao, kỷ luật từ trên xuống dưới, kỷ luật Đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho thanh tra, điều tra, xử lý nghiêm các hành vi sai phạm. 

Tuy nhiên, trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng cần khắc phục những biểu hiện thiếu quyết liệt, thiếu bền bỉ, thiếu toàn diện và thiếu đồng bộ; tình trạng “trên nóng dưới lạnh”; việc phát hiện và xử lý tham nhũng chưa mạnh, chưa đạt yêu cầu; sự yếu kém trong công tác tự kiểm tra, kiểm soát quyền lực, tự phát hiện; tình trạng tham nhũng, tham ô, lãng phí còn khá phổ biến ở các lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, ngân hàng, tài chính, thuế, hải quan, hành chính công, dịch vụ công….

Bốn là, tăng cường kiểm tra, giám sát để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm và xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đánh giá: “Việc kiểm tra, giám sát thiếu chủ động, chưa thường xuyên, còn nặng về kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp hiệu quả để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm”(13). Vì vậy, để kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền, các cấp ủy, tổ chức đảng cần xây dựng, thực hiện nghiêm kế hoạch kiểm tra, giám sát về công tác cán bộ. Về nội dung, phải hướng vào kiểm tra việc thực hiện quy trình, chấp hành các nguyên tắc, quy định trong thực hiện các khâu, các bước của công tác cán bộ; chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu, cơ quan chuyên trách trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. 

Quá trình kiểm tra, thanh tra, giám sát phải quán triệt, thực hiện đúng nguyên tắc, phương châm, phương pháp, đề cao dân chủ, tự phê bình và phê bình, gắn với tăng cường kỷ luật, bảo đảm đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về cán bộ được chấp hành triệt để trên thực tế, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Mặt khác, các cấp ủy, tổ chức đảng cần bổ sung, xây dựng quy định nhằm phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, cơ quan báo chí đối với công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện phản biện xã hội trong công tác cán bộ. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Nhất quyết không được để lọt những người có biểu hiện tham ô, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống vào cấp ủy sắp tới, nơi nào để xảy ra cái này, mai kia kỷ luật chỗ ấy. Chủ trương có rồi, quy trình, quy định có rồi… rà soát đi rà soát lại. Có dấu hiệu vi phạm thì phải kiểm tra, kiểm soát; kiểm tra có vấn đề thì không đưa vào cấp ủy”(14). 

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, chống tha hóa quyền lực, kiểm soát quyền lực đòi hỏi quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, tạo ra sức mạnh tổng hợp để thực hiện có hiệu quả cao nhất. Trên cơ sở tuân thủ nghiêm những quy định của Đảng và Nhà nước về kiểm soát việc lạm dụng quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, từng cán bộ, đảng viên cần đề cao đạo đức cách mạng, thực hiện đầy đủ trách nhiệm người “công bộc” của dân; đồng thời tổ chức đảng các cấp cần chú trọng việc giáo dục cán bộ, đảng viên, thường xuyên kiểm tra, giám sát để bảo đảm cho quyền lực không bị lợi dụng, lạm dụng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong sạch, vững mạnh, bộ máy nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước./.

-------------------------------------------

Ghi chú:

(1) Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, H.2005, tr.1.626.

(2) Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Sài Gòn, TP Hồ Chí Minh, 2005, tr.1.077.

(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.211.

(4),(5),(6) Sđd, tập 5, tr.10, tr.122, tr.10.

(7) Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tại phiên họp thứ 15 ngày 21/01/2018.

(8),(9),(10),(12), Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG-ST, H.2016, tr.211, tr. 213, tr. 213, tr.212.

(11) Vũ Lân, “Lồng nhốt quyền lực, lồng nhốt tham vọng”, Tạp chí Cộng sản, số 9/2015. 

(13) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2018, tr.50.

(14) Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tại phiên họp thứ 16 ngày 26/7/2019.

 

PGS.TS Trần Nam Chuân - Nguyên cán bộ Viện Chiến lược Quốc phòng, Bộ Quốc phòng

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập lưu trữ

Ngày đăng 06/11/2020
Trong những năm qua, các đơn vị sự nghiệp lưu trữ trực thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ về tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập lưu trữ, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cần có các giải pháp phù hợp để tháo gỡ, khắc phục những vướng mắc, bất cập, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập lưu trữ.

Thực hiện có hiệu quả nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 2013

Ngày đăng 03/11/2020
Khoản 2, Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Như vậy, bên cạnh việc quy định cụ thể hơn về phân công, phối hợp thực hiện quyền lực nhà nước thì đây là lần đầu tiên Hiến pháp nước ta quy định về nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan thực thi quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tuy nhiên, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết nhằm có những giải pháp thực hiện tốt hơn nữa nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước của Hiến pháp năm 2013.

Phát triển nhân lực quản lý nhà nước về văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Ngày đăng 02/11/2020
Những năm qua, công tác phát triển nhân lực quản lý nhà nước của ngành Văn hóa, thể thao và du lịch đã được quan tâm, đạt nhiều kết quả, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch. Tuy nhiên, nhân lực quản lý của ngành vẫn còn có những bất cập, hạn chế như thiếu tính chuyên nghiệp, không đủ nhân lực có kỹ năng nghề và trình độ chuyên môn cao, trình độ quản lý còn yếu, còn có những bất hợp lý trong quản lý và sử dụng nhân lực, đào tạo phát triển nhân lực chưa gắn với thực tiễn…, nên đội ngũ nhân lực quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu phát triển văn hóa, thể thao và du lịch theo định hướng của Đảng và Nhà nước.

Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ngành Nội vụ

Ngày đăng 30/10/2020
Mục tiêu của công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành Nội vụ nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính chuyên nghiệp, tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững chuyên môn nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả. Bài viết phân tích, đánh giá sự cần thiết và đề xuất giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ngành Nội vụ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực hành chính nhà nước ở Việt Nam

Ngày đăng 28/10/2020
Theo phân công, phân cấp quản lý nhân lực của nền hành chính, hệ thống tổ chức bộ máy quản lý phát triển nhân lực hành chính nhà nước ở nước ta được thiết kế đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 26-NQ/TW) đã đánh giá: công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, bất cập, trong đó có việc quản lý phát triển nhân lực khu vực công. Do đó, cần có những nghiên cứu, đánh giá để đưa ra giải pháp khắc phục những hạn chế, bất cập này.