Hà Nội, Ngày 02/12/2020

Hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực hành chính nhà nước ở Việt Nam

Ngày đăng: 28/10/2020   04:01
Mặc định Cỡ chữ
Theo phân công, phân cấp quản lý nhân lực của nền hành chính, hệ thống tổ chức bộ máy quản lý phát triển nhân lực hành chính nhà nước ở nước ta được thiết kế đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 26-NQ/TW) đã đánh giá: công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, bất cập, trong đó có việc quản lý phát triển nhân lực khu vực công. Do đó, cần có những nghiên cứu, đánh giá để đưa ra giải pháp khắc phục những hạn chế, bất cập này.

1. Một số yêu cầu đặt ra đối với nhân lực hành chính nhà nước

1.1. Bối cảnh chung

Năm 2020 và trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác, hội nhập và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo; các mối đe dọa truyền thống, phi truyền thống và biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Sự bùng nổ của khoa học - công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức và xu hướng quốc tế hóa nguồn nhân lực vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với Viêt Nam. Hiện nay, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế đang đi vào chiều sâu, sức mạnh tổng hợp và uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao, tạo tiền đề để đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình hình an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động ngày càng tinh vi, nguy hiểm, phức tạp hơn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, sự bùng nổ của hệ thống thông tin truyền thông toàn cầu, chiến tranh mạng... Thời gian tới cũng là giai đoạn chuyển giao từ thế hệ cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước xã hội chủ nghĩa, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hoà bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều quốc gia có thể chế chính trị khác nhau.

1.2. Quan điểm và mục tiêu công tác cán bộ của Nghị quyết số 26-NQ/TW

1.2.1. Quan điểm

Nghị quyết số 26-NQ/TW đã chỉ rõ các quan điểm sau đây: 

Một là, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

Hai là, thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân khi có sai phạm.

Ba là, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của Nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài.

Bốn là, quán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ. Xử lý hài hoà, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, trong đó tiêu chuẩn là chính; giữa xây và chống, trong đó xây là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên; giữa đức và tài, trong đó đức là gốc; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.

Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là các cấp ủy, tổ chức đảng, mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu của Đảng, trong đó cơ quan tổ chức, cán bộ là nòng cốt. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với Nhân dân; phải thực sự dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ.

1.2.2. Mục tiêu

Nghị quyết số 26-NQ/TW đã khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”(1).

Theo đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW đã xác định các mục tiêu cụ thể theo 03 giai đoạn, cụ thể như sau:

- Đến năm 2020: 1) Thể chế hóa, cụ thể hóa Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; 2) Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xóa bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên; 3) Đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; 4) Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm và rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

- Đến năm 2025: 1) Tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hóa, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; 2) Cơ bản bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh không là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện; đồng thời khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác; 3) Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định.

- Đến năm 2030: 1) Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý, bảo đảm sự chuyển giao thế hệ một cách vững vàng; 2) Cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ(2).

Nghị quyết cũng đã đề ra các mục tiêu cụ thể theo từng nhóm: cán bộ cấp chiến lược; cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tổng cục, cục, vụ, phòng và tương đương ở Trung ương; cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương; cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội, công an; đội ngũ cán bộ khoa học, chuyên gia; cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước; cán bộ nữ, cán bộ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số.

2. Đề xuất định hướng hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực hành chính nhà nước

2.1. Đối với bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về công tác cán bộ

2.1.1. Về nhiệm vụ

Thứ nhất, tập trung hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về công tác cán bộ bảo đảm thống nhất, đồng bộ, liên thông trong hệ thống chính trị và phù hợp với thực tế, trong đó chú trọng tới các quy định về: thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ, đặc biệt là công tác quản lý cán bộ; kiểm soát quyền lực; kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, trong đó chú trọng xử lý nghiêm những trường hợp sai phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu; chuẩn hóa, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, đánh giá cán bộ, công chức.

Làm rõ nguyên tắc, cơ chế liên thông trong công tác cán bộ nhằm bảo đảm sự liên thông trong hệ thống chính trị, nhất là liên thông giữa các cơ quan đảng và chính quyền, giữa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã với cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên, giữa nhân lực ở khu vực công với nhân lực ở khu vực tư; xác định vị trí việc làm gắn với chức danh, chức vụ để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tiến tới bỏ chế độ “công chức suốt đời”; hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài có trọng tâm, trọng điểm, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững; các nội dung về thi đua, khen thưởng bảo đảm đúng người, đúng việc, đúng thời điểm, khắc phục tình trạng chia tỷ lệ, cào bằng.

Thứ hai, nghiên cứu, xây dựng các đề án, chiến lược, chương trình về công tác cán bộ, trong đó tập trung vào một số nội dung chủ yếu như: 1) Sơ kết việc thực hiện Đề án thí điểm bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị thông qua thi tuyển cạnh tranh, công khai, minh bạch, dân chủ; 2) Rà soát, hoàn thiện chính sách về tuyển dụng, bổ nhiệm, quản lý người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; 3) Đề án cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước các cấp; 4) Đề án thực hiện thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức; 5) Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức (theo hướng không phân biệt đảng viên hay người ngoài Đảng, người Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài; quy định khung cơ chế, chính sách ưu đãi để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài có trọng tâm, trọng điểm, nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững); 6) Chương trình quốc gia về học tập ngoại ngữ cho cán bộ các cấp, trong đó chú trọng phân biệt từng đối tượng theo quy hoạch, tiêu chuẩn; 7) Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và cơ chế phát hiện, bồi dưỡng tài năng trẻ từ học sinh, sinh viên, đặc biệt chú trọng tới đội ngũ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở trong nước và nước ngoài để tạo nguồn cán bộ lâu dài; 8) Sơ kết việc thực hiện Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhân lực khoa học và công nghệ ở trong nước và nước ngoài bằng ngân sách nhà nước.

2.1.2. Về mô hình tổ chức

Trên cơ sở xác định các nhiệm vụ chủ yếu tập trung vào tham mưu, xây dựng thể chế, chính sách về công tác cán bộ, tổ chức bộ máy thực hiện nhiệm vụ này cần được kiện toàn theo mô hình tổ chức tham mưu.

Để bảo đảm thực hiện nguyên tắc “một việc chỉ giao một tổ chức chủ trì, chịu trách nhiệm chính và một tổ chức có thể đảm nhiệm nhiều việc”, các nhiệm vụ tham mưu, xây dựng thể chế, chính sách về công tác cán bộ (tuyển dụng, quản lý, sử dụng; đào tạo, bồi dưỡng; tiền lương…) nên thống nhất một đầu mối tổ chức thực hiện, bảo đảm tinh gọn bộ máy và đáp ứng yêu cầu liên thông giữa các chính sách về công tác cán bộ.

2.2. Đối với bộ máy quản lý cán bộ theo phân công, phân cấp

2.2.1. Về nhiệm vụ

Một là, rà soát đội ngũ cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý trong việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, uy tín, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, phù hợp về độ tuổi, tỷ lệ nữ và dân tộc thiểu số, có tính đến kế thừa và chuyển tiếp trong từng giai đoạn cụ thể.

Hai là, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết xóa bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên; đồng thời chú trọng tạo lập môi trường làm việc dân chủ, cạnh tranh, bình đẳng, tạo mọi điều kiện để phát huy trí tuệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, hoàn thiện cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Ba là, xây dựng kế hoạch phát triển cán bộ thuộc phạm vi quản lý trên cơ sở gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh; đẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý để rèn luyện qua thực tiễn ở các lĩnh vực, địa bàn khác nhau tạo sự liên thông trong công tác cán bộ; xác định rõ trách nhiệm của lãnh đạo các cấp, đặc biệt là của người đứng đầu trong việc tiến cử người có đức, có tài để đào tạo, bồi dưỡng, tiến cử người thay thế mình; hoàn thiện cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ.

Bốn là, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ để chủ động xây dựng các tiêu chí cụ thể để đánh giá cán bộ theo từng vị trí việc làm trên cơ sở lượng hóa bằng sản phẩm cụ thể, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương. Kết quả đánh giá cá nhân gắn với kết quả đánh giá tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương; xây dựng quy chế thực hiện phân công, phân cấp gắn với trách nhiệm cụ thể trong nội bộ từng đơn vị.

Năm là, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nắm chắc lịch sử chính trị và tập trung vào vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ. Quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản của cấp ủy chủ trương không xem xét quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử đối với cán bộ khi chưa có kết luận về tiêu chuẩn chính trị.

Sáu là, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất; theo chuyên đề, chuyên ngành; của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới giám sát cấp trên. Coi trọng cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm.

Bảy là, xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. Hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, đảm bảo không có “vùng cấm”.

2.2.2. Về mô hình tổ chức

Trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ về công tác theo phân cấp quản lý cán bộ từng ngành, lĩnh vực và giữa các cấp trong hệ thống tổ chức hành chính nhà nước, tổ chức bộ máy thực hiện nhiệm vụ này cần được kiện toàn theo mô hình tổ chức tham mưu hoặc mô hình tổ chức có sự kết hợp giữa tham mưu và thực thi (trong trường hợp có sự phân cấp quản lý theo đối tượng).

3. Một số vấn đề cần quan tâm trong việc kiện toàn tổ chức quản lý phát triển nhân lực hành chính nhà nước

Thứ nhất, phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan, tổ chức.

Thứ hai, phải phù hợp với các quy định của Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội khóa XIV về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm thực hiện đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn đầu mối, giảm cấp trung gian, tăng cường quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; bảo đảm số lượng lãnh đạo cấp phó tối đa, đáp ứng tiêu chí, số lượng biên chế tối thiểu để thành lập tổ chức và thực hiện tinh giản biên chế theo đúng mục tiêu đã đề ra.

Thứ ba, việc sắp xếp tổ chức bộ máy phải mang tính kế thừa các kết quả, thành tựu mà giai đoạn trước đã có, hiệu quả đã được ghi nhận; ứng dụng có chọn lọc phù hợp với điều kiện, tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội và có thể tham khảo mô hình của một số quốc gia trên thế giới. Việc hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống các cơ quan, tổ chức ngành Nội vụ nói riêng và hệ thống các cơ quan hành chính nói chung cần được nghiên cứu, làm rõ cả về lý luận và thực tiễn, tiếp cận theo hướng vừa “động” vừa “mở”, bảo đảm đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra trong tình hình mới./.

----------------------------------------

Ghi chú:

(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2018, tr.57, tr.57-58.

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/11/2017 của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

2. Quốc hội, Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 về việc tiếp tục cải cách bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

4. Chính phủ, Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 03/02/2018  ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/11/2017 của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, khóa XII.5. Bộ Nội vụ, Báo cáo số 116/BC-BNV ngày 08/01/2020 tổng kết công tác năm 2019 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2020 của Bộ, ngành Nội vụ.

 

TS Vũ Hải Nam, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Biên chế (Bộ Nội vụ)

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập lưu trữ

Ngày đăng 06/11/2020
Trong những năm qua, các đơn vị sự nghiệp lưu trữ trực thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ về tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập lưu trữ, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cần có các giải pháp phù hợp để tháo gỡ, khắc phục những vướng mắc, bất cập, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập lưu trữ.

Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong kiểm soát quyền lực và nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng

Ngày đăng 05/11/2020
Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong kiểm soát quyền lực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả phòng, chống tham nhũng là quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị nhằm tạo sự đột phá, đảm bảo cho công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Thực hiện có hiệu quả nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 2013

Ngày đăng 03/11/2020
Khoản 2, Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Như vậy, bên cạnh việc quy định cụ thể hơn về phân công, phối hợp thực hiện quyền lực nhà nước thì đây là lần đầu tiên Hiến pháp nước ta quy định về nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan thực thi quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tuy nhiên, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết nhằm có những giải pháp thực hiện tốt hơn nữa nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước của Hiến pháp năm 2013.

Phát triển nhân lực quản lý nhà nước về văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Ngày đăng 02/11/2020
Những năm qua, công tác phát triển nhân lực quản lý nhà nước của ngành Văn hóa, thể thao và du lịch đã được quan tâm, đạt nhiều kết quả, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch. Tuy nhiên, nhân lực quản lý của ngành vẫn còn có những bất cập, hạn chế như thiếu tính chuyên nghiệp, không đủ nhân lực có kỹ năng nghề và trình độ chuyên môn cao, trình độ quản lý còn yếu, còn có những bất hợp lý trong quản lý và sử dụng nhân lực, đào tạo phát triển nhân lực chưa gắn với thực tiễn…, nên đội ngũ nhân lực quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu phát triển văn hóa, thể thao và du lịch theo định hướng của Đảng và Nhà nước.

Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ngành Nội vụ

Ngày đăng 30/10/2020
Mục tiêu của công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành Nội vụ nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính chuyên nghiệp, tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững chuyên môn nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả. Bài viết phân tích, đánh giá sự cần thiết và đề xuất giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ngành Nội vụ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.