Hà Nội, Ngày 02/12/2020

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam đáp ứng yêu cầu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư 

Ngày đăng: 22/10/2020   11:41
Mặc định Cỡ chữ
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, rộng khắp trên toàn thế giới. Sự phát triển đột phá của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ số đã tác động và làm thay đổi sâu sắc mọi lĩnh vực, từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cho đến văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh.

Điều này mang lại những thời cơ nhưng cũng tạo ra nhiều thách thức đối với nước ta trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Việt Nam cần giải quyết nhiều vấn đề khác nhau, trong đó xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng là một yếu tố đặc biệt quan trọng. Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; đào tạo, bồi dưỡng để trang bị cho cán bộ, công chức kiến thức chuyên môn đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế; xây dựng chiến lược thu hút nhân tài vào làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước là những biện pháp thiết thực, hiệu quả theo hướng này. 

Ảnh minh họa: Internet

1. Khái niệm và các đặc điểm của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư 

1.1. Khái niệm

Thuật ngữ “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” đã được đề cập và sử dụng phổ biến trên toàn thế giới. Khái niệm “công nghiệp 4.0” (industry 4.0) hay nhà máy thông minh lần đầu tiên được đưa ra tại Hội chợ công nghiệp Hannover (Cộng hòa Liên bang Đức) vào năm 2011. Đến năm 2012, khái niệm “công nghiệp 4.0” lần đầu được đề cập trong bản Kế hoạch hành động chiến lược công nghệ cao của Chính phủ Đức. Năm 2013, thuật ngữ công nghiệp 4.0 bắt đầu được tìm hiểu và tìm kiếm rộng rãi xuất phát từ một báo cáo của Chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người. Tại Diễn đàn kinh tế thế giới lần thứ 46 ở thành phố Davos-Klosters, Thụy Sĩ (tháng 01/2016) với chủ đề “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, Giáo sư Klaus Schwab - Chủ tịch Diễn đàn kinh tế thế giới đã đưa ra một khái niệm mới, mang tính phổ quát hơn. Theo đó, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) được định nghĩa là: “Một cụm thuật ngữ cho các công nghệ và khái niệm tổ chức trong chuỗi giá trị” đi cùng với hệ thống vật lý không gian ảo, internet kết nối vạn vật (IoT) và internet các dịch vụ (IoS).

1.2. Đặc điểm

Sự phát triển của Cách mạng công nghiệp 4.0 dựa trên ba trụ cột chính: 

Một là, nguồn dữ liệu lớn (Big data). Dữ liệu lớn được thể hiện ở cả ba phương diện thời gian, không gian, đối tượng.  

Hai là, trí tuệ nhân tạo (AI). Trí tuệ nhân tạo được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau nhưng tập trung chủ yếu vào robot và camera nhận diện thông minh. 

Ba là, internet kết nối vạn vật. Internet ngày nay đã trở thành một lực lượng vật chất quan trọng đối với mọi hoạt động của cuộc sống con người. Nó không chỉ kết nối giữa con người với con người, giữa con người với vật thể mà còn giữa vật thể với vật thể - làm cho máy móc giao tiếp được với máy móc thông qua việc sử dụng công cụ hiện đại như email, website, điện thoại thông minh, thiết bị điện tử, thiết bị số hóa.

Đặc trưng của Cách mạng công nghiệp 4.0 được thể hiện ở 3 điểm chính:

Thứ nhất, sự kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực tế. Đây là xu hướng kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, vạn vật kết nối IoT và các hệ thống kết nối IoS. Nhờ khả năng kết nối thông qua các thiết bị di động và khả năng tiếp cận với cơ sở dữ liệu lớn, các tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởi những đột phá công nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ người máy, xe tự lái, công nghệ in 3D, công nghệ nano, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu, lưu trữ năng lượng và tính toán lượng tử.

Thứ hai, có quy mô và tốc độ phát triển chưa từng có trong lịch sử loài người. “Nếu như các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây diễn ra với tốc độ theo cấp số cộng (hay tuyến tính) thì tốc độ phát triển của cách mạng công nghiệp lần thứ tư này là theo cấp số nhân”(1). Theo đó, những đột phá công nghệ diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tốc độ nhanh chóng và mức độ tương tác rộng lớn sẽ tạo ra một thế giới được số hóa, tự động hóa và hoạt động ngày càng trở nên hiệu quả, thông minh hơn.

Thứ ba, có sự tác động mạnh mẽ và toàn diện đến thế giới đương đại. Điều này thể hiện ở sự ảnh hưởng sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh… với các cấp độ từ toàn cầu đến châu lục, khu vực và trong từng quốc gia. Nó tạo ra những tác động tích cực nhưng cũng đem đến nhiều thách thức trong quá trình thích ứng và vận dụng công nghiệp 4.0 của từng đối tượng. Có thể khẳng định, Cách mạng công nghiệp 4.0 chính là xu hướng của tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất. Bản chất của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất.

2. Những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Từ những đặc điểm nêu trên cho thấy, hiện tại và dự báo trong tương lai, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cụ thể là:

Thứ nhất, tác động đến sản xuất.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với công nghệ kỹ thuật số sẽ tác động mạnh mẽ đến các ngành sản xuất. Sản xuất trong tương lai sẽ mang thế giới ảo (mạng) và thực (máy móc) xích lại gần nhau bởi các thiết bị thông minh giao tiếp và chia sẻ thông tin về quy trình sản xuất bằng hệ thống mạng, máy tính cảm biến sẽ thay thế các công cụ lao động truyền thống. Từ đó, làm cho quá trình sản xuất được phối hợp nhịp nhàng, năng suất, chất lượng sản phẩm được nâng cao. Các nhà máy sản xuất dựa vào nguyên, nhiên, vật liệu từ tự nhiên sẽ dần được thay thế bởi sự kết nối thông minh trong chuỗi sản xuất giá trị hàng hóa có tính liên kết rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới. Sự áp dụng tự động hóa, kỹ thuật số, công nghệ mới vào sản xuất sẽ nâng cao vị thế, quyền lực các nước phát triển, tận dụng tối ưu những thành quả của cuộc cách mạng công nghệ và ngược lại, sẽ làm giảm vị thế của các nước chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Tư liệu sản xuất thay đổi sẽ tác động đến cách thức tổ chức sản xuất. Giữa các lĩnh vực sản xuất, ngành sản xuất được kết nối tối ưu hóa quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng, trao đổi, quản lý… trong cơ cấu ngành, tính chất giữa các ngành: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ ngày càng được thu hẹp về khoảng cách.

Đồng thời, Cách mạng công nghiệp 4.0 làm xuất hiện những mô hình sản xuất kinh doanh mới; với sự số hóa sẽ rút ngắn quy trình, thời gian sản xuất, hàng hóa ra thị trường nhanh hơn. Vì vậy, các doanh nghiệp sẽ phải cải thiện chất lượng, tăng cường sự minh bạch, sự tham gia của người tiêu dùng trên các mạng di động và mạng dữ liệu, khiến các công ty phải định hướng lại quá trình thiết kế thị trường và quá trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ. Đây là cơ hội và cũng là thách thức, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi tư duy cũ, chủ động đưa công nghệ mới vào sản xuất nhằm rút ngắn thời gian, quy trình đưa sản phẩm ra thị trường đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Thứ hai, tác động đến tiêu dùng và thương mại.

Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và sẽ tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới, đa dạng với chi phí sản xuất thấp, giảm chi phí giao dịch, chi phí nhân công và các chi phí khác, kết quả mang lại là giảm giá thành sản phẩm. Chính điều này giúp cho người tiêu dùng được hưởng lợi với mức giá thấp và chất lượng cao hơn. Thông qua internet kết nối thông minh, người tiêu dùng có được những thông tin khá đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ (công năng, kích cỡ, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu, giá cả…), từ đó giúp cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình. Sự kết nối giữa cung và cầu với chi phí thấp như: mua hàng hóa, thực hiện thanh toán, đặt phòng khách sạn, mua vé máy bay, tàu, tìm kiếm việc làm… đều có thể thực hiện từ xa qua điện thoại thông minh, internet giúp cho chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao.

Sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt internet kết nối sẽ làm cho nhiều doanh nghiệp chuyển đổi từ kinh doanh truyền thống sang thương mại điện tử với việc hình thành các hình thức kinh doanh tiện ích, cải thiện hiệu quả và sản sinh các loại hình kinh doanh mới. Khi internet kết nối tăng lên, người mua và người bán trên thị trường có thể sử dụng các dữ liệu để phân tích nhu cầu của khách hàng, từ đó đưa ra những quyết định nhanh, hiệu quả hơn.

Việc áp dụng công nghệ cao dẫn tới những thay đổi lớn các hoạt động vận tải, bao gói hàng hóa, giao hàng… giúp cho chi phí kinh doanh giảm, dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt hơn, làm cho việc mở rộng thị trường, thúc đẩy thương mại phát triển. Sự kết nối giữa các quốc gia bằng công nghệ thông tin đã xóa dần khoảng cách về địa lý, không gian, thời gian, từ đó làm cho việc kinh doanh mang lại hiệu quả cao hơn. 

Thứ ba, tác động đến xã hội.

Thông qua các công nghệ hiện đại, con người có thể dễ dàng giao lưu, kết nối với nhau một cách thuận tiện. Đặc biệt, Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ làm thay đổi bản sắc “truyền thống” của con người như: sự riêng tư, ý thức về sở hữu, phương thức tiêu dùng, trau dồi kỹ năng, gặp gỡ mọi người… Những biến đổi trong công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo và nhiều lĩnh vực khác đang làm thay đổi sâu sắc bản thân con người từ việc nâng cao tuổi thọ, sức khỏe, nhận thức… đến các chuẩn mực đạo đức xã hội.

Thứ tư, tác động đến quản lý nhà nước.

Với sức mạnh của công nghệ mới, nhờ các phương tiện, thiết bị hiện đại và thông minh xuất hiện trong Cách mạng công nghiệp 4.0, nhà nước có thêm công cụ hữu hiệu để gia tăng kiểm soát xã hội. Vai trò của nhà nước cũng thay đổi một cách căn bản, chuyển từ vai trò cai trị và quản lý xã hội sang hỗ trợ người dân, hỗ trợ doanh nghiệp. Tuy nhiên theo dự báo, tốc độ thay đổi và tác động rộng khắp của Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ làm cho các nhà lập pháp và các cơ quan quản lý phải đối mặt với những thách thức chưa từng có. Ví dụ, với sự xuất hiện công nghệ mới, internet vạn vật giúp cho Chính phủ triển khai nhiều dịch vụ tự động, trực tuyến như: điều tra dân số, thuế, hải quan, đăng ký kinh doanh… Điều này vừa tăng tính công khai, minh bạch với các dịch vụ công, vừa làm thay đổi cơ bản tổ chức bộ máy nhà nước. 

3. Thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư 

3.1. Về thực trạng

Trong thời gian qua, đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta đã có sự phát triển về chất lượng, số lượng từng bước được tinh giản hợp lý, trình độ và năng lực được nâng cao đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Phần lớn cán bộ, công chức sau khi được đào tạo, bồi dưỡng đều có khả vận dụng kiến thức vào hoạt động thực tiễn, từ đó hiệu quả công tác được nâng lên rõ rệt. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ, công chức được thực hiện bài bản, gắn với nhu cầu sử dụng và vị trí bổ nhiệm, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý có tầm nhìn và tư duy chiến lược xuất sắc, nhanh nhạy nắm bắt xu thế và sự phát triển của thời đại để đề ra phương hướng hành động phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đất nước nhằm tận dụng được những điều kiện, thời cơ và nguồn lực vào sự phát triển kinh tế - xã hội. 

Bên cạnh những mặt đạt được, đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Mặc dù đã rất quyết liệt trong thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, nhưng đội ngũ cán bộ, công chức vẫn còn tình trạng “đông nhưng chưa mạnh”. Năng lực, trình độ của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng được nhiệm vụ thực tiễn đổi mới đất nước. Chưa phải tất cả cán bộ, công chức đều có kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ, về ngoại ngữ, về nghiên cứu khoa học và có thể sử dụng, ứng dụng kỹ thuật mới vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Nhận thức về Cách mạng công nghiệp 4.0 của một bộ phận cán bộ, công chức chưa thực sự đầy đủ, sâu sắc. Phần lớn cán bộ, công chức đều thực hiện các công việc hành chính theo khuôn mẫu, quy định có sẵn, chưa có tư duy đột phá, cải tiến để thay đổi lề lối, phương thức làm việc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước. Số cán bộ, công chức có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế ở nhiều cơ quan, đơn vị còn rất hạn chế.

Những bất cập nêu trên có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân cơ bản là do xuất phát điểm về khoa học, công nghệ, kỹ thuật của nước ta thấp, nên trong ngắn hạn chưa thể phát triển kịp các nước tiên tiến trên thế giới. Chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chưa có nhiều nội dung về kiến thức thực tiễn và kỹ năng hội nhập nên chưa bắt kịp xu thế phát triển của thời đại. Tâm lý ngại học, ngại đổi mới còn ăn sâu trong suy nghĩ của một bộ phận cán bộ, công chức dẫn đến không đủ khả năng tiếp thu những cái mới, cái tiến bộ để ứng dụng vào công việc. Bên cạnh đó, cơ chế, chính sách thu hút nhân tài còn nhiều bất cập khiến cho nhiều trí thức trẻ được đào tạo bài bản ở nước ngoài, am hiểu về khoa học, công nghệ, kỹ thuật không muốn vào làm việc trong khu vực công. 

3.2. Về giải pháp 

Để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý về vai trò của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với sự nghiệp đổi mới đất nước. Việc nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức về cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cần bám sát tinh thần của Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. 

Cần làm cho mỗi cán bộ, công chức hiểu rõ bản chất, yêu cầu đặt ra trong thực thi nhiệm vụ dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, từ đó hình thành ý thức công vụ của từng cán bộ, công chức gắn với mục tiêu phát triển của đơn vị, địa phương hay quốc gia. Đây là tiền đề, động lực quan trọng để phát huy tài năng, tâm huyết, khát vọng cống hiến, làm việc của cán bộ, công chức vào sự nghiệp đổi mới của đất nước, qua đó góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam vừa hồng vừa chuyên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Hai là, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo hướng chú trọng các kiến thức chuyên môn về Cách mạng công nghiệp 4.0 phù hợp với đặc thù công tác của từng đối tượng. Thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chất lượng cao, gắn với việc sẵn sàng tiếp nhận và ứng phó với những tác động sâu sắc của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Chú trọng đào tạo kỹ năng sử dụng công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào phát triển kinh tế, quản lý xã hội... Việc đào tạo, bồi dưỡng phải đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ truyền thống, tiếp cận công nghệ hiện đại, tiến tới sáng tạo công nghệ. Trong thời gian tới, cần tập trung đầu tư cho đào tạo cán bộ, công chức trong các lĩnh vực về vật liệu mới tiên tiến, công nghệ thông tin, công nghệ nano, tự động hóa, điện tử viễn thông, lưu trữ năng lượng để tạo ra một lực lượng sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. 

Theo đó, cần tích cực mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức bằng nhiều cách thức và giải pháp khác nhau. Cụ thể, tăng cường hợp tác, giao lưu giữa các quốc gia, hoặc liên kết, hợp đồng với các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước với các quy định cụ thể về quyền lợi, trách nhiệm để thu hút đầu tư và sử dụng có hiệu quả. Mặt khác, cần có cơ chế thu hút đầu tư nước ngoài trong xây dựng các cơ sở đào tạo và đẩy mạnh thực hiện chính sách thu hút các chuyên gia có kinh nghiệm và chuyên môn giỏi. 

Ba là, xây dựng chiến lược phát triển và thu hút, trọng dụng nhân tài vào làm việc trong khu vực công một cách thiết thực, hiệu quả.

Trước hết, mỗi đơn vị, tổ chức phải chủ động phát triển nguồn nhân lực tại chỗ cùng với thu hút nguồn lực bên ngoài, đặc biệt là những vị trí liên quan đến kỹ năng lãnh đạo, quản lý, cần chuyên môn sâu về công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, tạo môi trường làm việc thuận lợi, có cơ chế đãi ngộ đặc biệt đối với những người có tài năng để họ phát huy khả năng sáng tạo của bản thân, yên tâm cống hiến cho sự phát triển của cơ quan, đơn vị. Mặt khác, việc tinh giản biên chế cần thực hiện thận trọng, kỹ lưỡng, xác định đúng vị trí nào cần tinh giản, người nào cần giữ lại. Tránh việc sử dụng lao động không đúng năng lực khiến cho người tài phải ra đi, tự tinh giản hay cắt giảm biên chế quá mức khiến cho những người còn lại chịu nhiều áp lực trong công việc, mất dần đam mê, động lực lao động và cống hiến.

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là thời cơ quan trọng để Việt Nam có thể tận dụng những thành tựu tri thức, khoa học kỹ thuật của nhân loại, thực hiện việc “đi tắt, đón đầu” trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, yếu tố quyết định là xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng; giỏi về chuyên môn nghiệp vụ; có tính chuyên nghiệp cao trong thực thi nhiệm vụ trước những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, hướng đến xây dựng một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế trong tình hình mới./.

-------------------------------

Ghi chú:

(1) Làm gì để “đi tắt đón đầu” cuộc cách mạng công nghiệp 4.0?, http://www.tuyengiao.vn

Tài liệu tham khảo:

1. Cao Thị Phương, Trí thức Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 1/2020.

2. https://www.quanlynhanuoc.vn/2020/01/07/ nhung-yeu-cau-dat-ra-doi-voi-dao-tao-boi-duong-ky-nang-hanh-chinh-trong-thoi-dai-cach-mang-cong-nghiep-4-0.

3. http://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/quan- triet-nghi-quyet-so-52-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-546166.html.

4. Nguyễn Đắc Hưng, “Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước”, Nxb CTQG,  H.2007. 

5. Phạm Minh Hạc (chủ biên), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb CTQG, H.2001.

6. Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm, Phát huy nguồn nhân lực: Kinh nghiệm của thế giới và của nước ta, Nxb CTQG, H.2005.

7. Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương, Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, H.2004.

 

TS Trần Viết Quân - Học viện Chính trị khu vực III, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Nhân tài cần hội đủ 3 tiêu chí: Đức - Tài - Bản lĩnh

Ngày đăng 15/10/2020
Lịch sử dân tộc ta đã minh chứng, thời nào hưng thịnh nhất nhờ thời đó tập hợp nhân tài tốt nhất. Dân tộc ta, đất nước ta chưa bao giờ thiếu người tài, chỉ sợ thiếu cách tập hợp người tài. Trong thời đại ngày nay, nhân tài cần hội đủ cả ba tiêu chí: Có đức, có tài và có bản lĩnh.

Giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Ngày đăng 08/10/2020
Trong thời gian qua, chất lượng giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) cho người dân, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã có nhiều chuyển biến, mang lại kết quả tích cực, nâng cao chất lượng phục vụ và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp khi giao dịch với các cơ quan hành chính nhà nước, thông qua các giải pháp chủ yếu như sau: 

Tăng số lượng đại biểu chuyên trách cho HĐND thành phố

Ngày đăng 30/09/2020
Bên cạnh bố trí nhân sự đảm trách các chức danh trong cơ quan dân cử cần nghiêng về năng lực và phẩm chất, nhiệt huyết, có vị trí cơ cấu trong Đảng phù hợp, đã có những địa phương thí điểm không tổ chức HĐND phường ở những nơi áp dụng mô hình Bí thư cấp ủy kiêm Chủ tịch UBND. Ở những nơi thí điểm, cần tăng số lượng đại biểu chuyên trách cho HĐND thành phố; có quy định phân công đại biểu chuyên trách đứng điểm tại các địa phương không tổ chức HĐND.

Phát huy “sức mạnh mềm” trong phòng, chống dịch COVID-19 ở Việt Nam

Ngày đăng 24/09/2020
Đại dịch COVID-19 đã và đang gây ra cuộc khủng hoảng chưa từng có trên toàn cầu. Mức độ nghiêm trọng phụ thuộc vào việc đại dịch kéo dài trong bao lâu cũng như phản ứng ở cả cấp độ quốc gia lẫn quốc tế của các chính phủ. Để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, không thể chỉ dùng sức mạnh kinh tế, quân sự, mà cần phải phát huy cả “sức mạnh mềm” để giải quyết.

Nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, công chức ở Việt Nam

Ngày đăng 18/09/2020
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách và quy định pháp luật nhằm nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, công chức. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất giải pháp tiếp tục nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, công chức.