Hà Nội, Ngày 25/10/2020

Cán bộ ở môn nào phải học cho thông thạo công việc ở trong môn ấy

Ngày đăng: 28/09/2020   02:17
Mặc định Cỡ chữ
Đảng và Nhà nước ta đang ra sức quán triệt và vận dụng những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm tạo đột phá mới về chất lượng nguồn nhân lực, trong đó đội ngũ công chức nhà nước là một mắt xích xung yếu để đổi mới, hội nhập thành công, đất nước phát triển nhanh và bền vững trên con đường hiện đại hóa đất nước - con người - xã hội Việt Nam. GS.TS Hoàng Chí Bảo, chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương đã chia sẻ với Tạp chí Tổ chức nhà nước những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ công chức Việt Nam mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
GS.TS Hoàng Chí Bảo phát biểu tại Tọa đàm khoa học "Tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên" do Tạp chí Tổ chức nhà nước chủ trì tổ chức, tháng 6/2020. Ảnh: tcnn.vn

Công chức là người của Nhà nước trong quan hệ với Nhân dân và hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân

Trên cương vị và trọng trách là người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ công chức của Chính phủ, của Nhà nước. Mối quan hệ giữa Nhà nước với Nhân dân được thể hiện trực tiếp thành mối quan hệ giữa công chức với công dân. Đây là nền tảng để xây dựng đội ngũ công chức Việt Nam về mọi mặt.

Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo, công chức đảng viên và công chức không đảng viên có những điểm khác nhau, nhưng có một điểm chung là phải tuân thủ pháp luật và phục vụ nhân dân, duy trì mối quan hệ trực tiếp, thường xuyên với công dân. Những công chức giữ chức vụ, có vai trò và trách nhiệm trong lãnh đạo và quản lý, ở những cấp độ khác nhau là người đứng đầu. Càng là người đứng đầu càng phải chú trọng đáp ứng những yêu cầu gương mẫu, đề cao trách nhiệm, thực hành dân chủ, giữ vững kỷ cương, làm gương cho công chức, cho những người dưới quyền và tỏ rõ sự mẫu mực trong quan hệ với nhân dân.

Nhân dân là đối tượng phục vụ của công chức, đồng thời là chủ thể trong giám sát, kiểm tra, giúp đỡ công chức, các “đầy tớ” của mình sao cho hoạt động của bộ máy nhà nước được thực hiện tốt hơn, nhân dân được thụ hưởng quyền và lợi ích đầy đủ, thực chất hơn, công chức tận tụy mẫn cán, chuyên nghiệp hơn, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân.

Mức độ hài lòng của người dân, niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước và chế độ phải luôn được củng cố - đó là thước đo hiệu quả công việc, đánh giá chất lượng công chức và là chỉ số phát triển của xã hội dân chủ, của Nhà nước pháp quyền chủ nghĩa xã hội do Đảng lãnh đạo.

Ngày 28/12/2012, Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 1383/QĐ-BNV phê duyệt Đề án “Xây dựng Phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước” theo tinh thần Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ nhằm đánh giá khách quan chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công của các cơ quan hành chính nhà nước. Thông qua đó, các cơ quan hành chính nhà nước nắm bắt được yêu cầu, mong muốn của người dân, tổ chức để có những biện pháp cải thiện chất lượng phục vụ và cung cấp dịch vụ của mình nhằm nâng cao sự hài lòng và lợi ích của người dân, tổ chức. Đây là lần đầu tiên, Chính phủ Việt Nam có một công cụ đánh giá khách quan chất lượng dịch vụ công từ đối tượng sử dụng và cũng là lần đầu tiên, Chính phủ mang đến cho người dân, tổ chức một công cụ để yêu cầu phục vụ tốt hơn từ các cơ quan nhà nước.

Trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Người chú trọng toàn diện các mặt: đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và bố trí cán bộ, kiểm tra, kiểm soát cán bộ, đồng thời quan tâm tới chế độ, chính sách, chăm lo đời sống cho họ và tạo điều kiện cho mọi người phát triển khả năng, năng lực của mình để phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân một cách tốt nhất.

GS.TS Hoàng Chí Bảo cho biết, quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng được thể hiện sâu sắc và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người nêu bật vai trò của nhân dân, sức mạnh của nhân dân khi nói về dân chủ, “dân là chủ và dân làm chủ”. Người cho rằng “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân”, do đó, đoàn kết, đại đoàn kết là nhân tố quyết định thành công và đại thành công. Người xác định: “Dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân”, “thực hành dân chủ rộng rãi là chiếc chìa khóa vạn năng để vượt qua mọi khó khăn, giải quyết mọi nhiệm vụ”. Bởi lẽ, trong một nước dân chủ và dân là người chủ thì “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân, quyền hành, lực lượng đều ở nơi dân”.

Nhà nước là của dân, do dân lập nên, nên nhà nước phải vì dân. Dân là chủ nên từ Chủ tịch nước đến mọi cán bộ, công chức, nhân viên là đầy tớ phục vụ nhân dân. Với lô gích ấy của dân chủ và pháp quyền thì nhân dân ở vị trí cao nhất, luật pháp phải được coi là tối thượng trong quản lý nhà nước và xã hội để phục vụ nhân dân và bảo vệ nhân dân. Thượng tôn pháp luật đảm bảo cho sức mạnh nhà nước, cũng là đảm bảo cho nhân dân thực sự là chủ.

Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo, những quan niệm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho chúng ta thấy rõ tư tưởng sâu xa: trọng dân gắn liền với trọng pháp. Đây là căn cứ để hiểu vì sao Người yêu cầu cán bộ, công chức phải “kính trọng lễ phép đối với nhân dân” và phải “tuyệt đối trung thành với Chính phủ” (cũng với nghĩa là tuyệt đối trung thành với Đảng trong hoàn cảnh lịch sử mà Đảng đã rút lui vào hoạt động bí mật nhưng vẫn lãnh đạo và cầm quyền).

Đã trọng dân thì phải “vì nhân dân phục vụ”, chỉ làm điều lợi cho dân, phải tránh mọi điều hại tới dân, không làm điều gì trái ý dân, phải ăn ở sao cho được lòng dân. Việc gì cũng phải hỏi dân, phải luôn luôn gần dân, học dân, hiểu dân để lãnh đạo dân. Trọng dân nên phải ra sức thực hành dân chủ, không biến dân chủ thành “quan chủ”, làm đầy tớ trung thành, công bộc tận tụy của dân chứ không lên mặt “quan cách mạng”.Đã trọng pháp thì phải hiểu rõ pháp luật là sự thể hiện ý chí của toàn dân, để thực hiện và bảo vệ lợi ích, quyền lực của nhân dân và phải tuân thủ pháp luật, không vi phạm pháp luật.

Đề cao tính uy nghiêm của luật pháp, sự nghiêm minh thi hành luật pháp nên phải dùng pháp luật để nghiêm trị mọi hành vi xâm phạm tới quyền lợi của dân chúng, nhất là quan liêu và tham nhũng. Phải trừng trị tất cả những kẻ bất liêm, hại dân hại nước, bất kể là ai, làm gì, ở cương vị nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chú trọng cảnh báo, răn đe và đưa ra chế tài trừng phạt những kẻ bất minh, bất chính, bất nghĩa, bất liêm. Cán bộ, công chức - theo chức phận, trách nhiệm, nghĩa vụ là chức phận phục vụ công chúng; để phục vụ nhân dân, quan hệ trực tiếp với nhân dân, phải chịu sự kiểm soát của nhân dân.

Người cũng đòi hỏi nhân dân phải thực hiện nghĩa vụ của người chủ, thực hiện bổn phận, trách nhiệm công dân, đạo đức và văn hóa công dân. Ngay những khuyết tật, lỗi lầm, hư hỏng của cán bộ, công chức thì nhân dân cũng có phần trách nhiệm, bởi dân chưa chủ động thực hiện hết quyền của mình. Khi dân ra sức kiểm soát việc làm và hành vi của công chức, quan chức thì quan không thể tham được, quan dù không liêm cũng phải hóa ra liêm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng việc thanh tra ngay từ những ngày đầu gây dựng chính thể dân chủ cộng hòa, sớm phát hiện những căn bệnh thường xảy ra trong bộ máy chính quyền, ở cán bộ. Bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, thói ba hoa, sâu xa là do chủ nghĩa cá nhân mà ra. Các bệnh khác như bè phái, tư túng, ức hiếp quần chúng, cậy thế, cậy quyền, hủ hóa… là những biểu hiện suy thoái, hư hỏng. Người đòi hỏi phải dùng luật pháp mà nghiêm trị, dùng giáo dục để uốn nắn, phê bình, cảm hóa.

Công chức phải tự mình rèn luyện suốt đời, học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy”, từ đó Người rút ra kết luận “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Người khẳng định và nhấn mạnh rằng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là công việc gốc của Đảng. Khi Đảng đã ở cương vị cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì càng phải đặc biệt quan tâm tới nhiệm vụ hệ trọng ở tầm chiến lược này, nhất là giáo dục cho cán bộ, đảng viên, công chức về đạo đức và thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, về dân chủ và thực hành dân chủ để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; về nêu cao tinh thần, trách nhiệm phục vụ nhân dân, thường xuyên giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng.

Công chức nhà nước trong bộ máy công quyền chẳng những phải làm tròn bổn phận, trách nhiệm của người nhà nước với công dân mà còn phải tuyên truyền, giải thích, giúp đỡ nhân dân thực hiện nghĩa vụ của người chủ. Muốn đạt được yêu cầu ấy, họ phải biến nó thành nhu cầu tự giác. Phải tự mình thực hiện và rèn luyện để đạt tới chuẩn mực đạo đức và văn hóa của công chức. Phải coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện công chức. Đào tạo để có những tri thức, hiểu biết cần thiết về nghề và hành nghề cho đúng. Bồi dưỡng để không ngừng nâng cao kỹ năng, tích lũy kinh nghiệm trong công tác thực tế hàng ngày, để làm việc thiết thực, hiệu quả. Huấn luyện để đạt sự thành thạo cả về chính trị lẫn chuyên môn nghiệp vụ.

Trong tư duy lãnh đạo, quản lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhìn từ góc độ giáo dục - đào tạo cán bộ, công chức, GS.TS Hoàng Chí Bảo cho biết, Người thường xuyên nhấn mạnh sự thống nhất giữa chính trị với chuyên môn, vì chính trị là linh hồn, chuyên môn là thể xác nên chính trị phải vững “giữ chủ nghĩa cho vững”, phải thành thạo, chuyên môn - nghiệp vụ phải giỏi, làm việc gì, ở ngành nào, hoạt động và phụ trách ở lĩnh vực nào phải giỏi việc ấy, hiểu sâu ngành ấy, nắm vững và làm chủ lĩnh vực ấy. Phải thực hành khẩu hiệu: "Làm việc gì, học việc nấy. Vô luận ở quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, tổ chức, huấn luyện... cán bộ ở môn nào phải học cho thông thạo công việc ở trong môn ấy". Đó là sự kết hợp hồng với chuyên, “hồng thắm chuyên sâu”.

Công chức nhà nước là người cán bộ cách mạng, lời nói phải đi đôi với việc làm, nếu “miệng nói dân chủ nhưng làm việc thì hệt theo lối “quan chủ” là họ tự tước đi của mình vũ khí hữu hiệu nhất để hoàn thành nhiệm vụ. Khi đó, dù có “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy”. Phải luôn ghi nhớ và thực hành không chỉ quyết tâm mà còn tín tâm đối với dân chúng, chớ có lên mặt “quan cách mạng”, xa rời dân chúng thì nhất định thất bại, dù có tài giỏi mấy cũng không làm gì được.

Công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước phải chú trọng nắm vững và vận dụng khoa học hành chính, luật pháp và chính sách, các chế độ, quy định, thể chế và thể thức nhưng không được rơi vào khuynh hướng hành chính hóa, xa dân, quan liêu, vô trách nhiệm. Chỉ có thấm nhuần dân chủ và tự giác làm dân vận cho đúng và khéo thì mới chống được quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũng, không tự đánh mất mình bởi suy thoái và tha hóa, không làm mất đi lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Ngoài ra, vấn đề đặc biệt cần thiết và quan trọng là huấn luyện lý luận, nhưng không lý luận suông mà phải thiết thực và đưa vào thực hành, nhất là thực hành trong công tác thực tế để kiên quyết chống cho được ba căn bệnh nguy hiểm: chủ quan, hẹp hòi và thói ba hoa.  Người chỉ dẫn hết sức khoa học về nguyên lý thống nhất lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành: “Thực hành sinh ra hiểu biết. Hiểu biết tiến lên lý luận. Lý luận lãnh đạo thực hành”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên yêu cầu cán bộ, công chức phải rèn luyện thói quen, nhu cầu học suốt đời, học mọi lúc, mọi nơi, trong đó coi trọng học ngoại ngữ đối với cán bộ, học trong nhà trường, sách vở và học trong trường đời thực tiễn, nhất là phải khiêm tốn học hỏi quần chúng nhân dân, có làm học trò của nhân dân mới lãnh đạo được nhân dân. Cán bộ, đảng viên, công chức phải làm nòng cốt, gương mẫu cho nhân dân theo trong xây dựng xã hội học tập, xây dựng môi trường văn hóa, từ văn hóa đọc đến văn hóa ứng xử đạo đức và thực hành pháp luật. Không chỉ học suốt đời để thành người có tài mà còn rèn luyện suốt đời theo bốn đức cần, kiệm, liêm, chính, cũng là năm chuẩn tắc nhân - trí - dũng - liêm - trung để thành người có đức,“thiếu một đức thì không thành người”. Vì ở đời, “nhân vô thập toàn” nên phải rèn suốt đời, suốt đời tự đấu tranh với chính mình để quét sạch chủ nghĩa cá nhân, chống giặc nội xâm ngay trong con người mình. Đó sẽ là một cuộc chiến đấu có không ít sự đau đớn ở trong lòng, để thực sự là người cách mạng, sống vì nhân dân, làm việc, cống hiến, hy sinh vì nhân dân.

Công chức phải thạo chính trị; giỏi chuyên môn; tinh thông nghiệp vụ; tận tụy, mẫn cán; suốt đời là đầy tớ trung thành, công bộc tận tụy của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến cốt lõi muôn việc, muôn người xét đến cùng là chuyện ở đời và làm người. Ở đời thì phải thân dân, làm người thì phải chính tâm. Từ truyền thống lịch sử, Người nâng cao tư tưởng thân dân tới dân chủ và chính tâm là đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên phương châm xử thế, với tự mình, với người, với việc, “giữ chủ nghĩa cho vững”, “ít lòng tham muốn về vật chất”, “nghiêm với mình, rộng lòng khoan thứ với người”, “tận trung với nước, tận hiếu với dân”, suốt đời phục vụ nhân dân, không màng danh lợi: “Giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở, căn dặn cán bộ, công chức phải thương yêu, kính trọng, lễ phép với nhân dân, đặt việc dân, việc nước lên trên hết, trước hết, “dĩ công vi thượng”. Do đó, suốt đời phải “quang minh chính đại”, “công bình chính trực”, “chí công vô tư”, “vô ngã vị tha”,  “phụng công thủ pháp”, “tinh thành đoàn kết”.

Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo, những khái quát về triết lý và lý luận nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều toát lên yêu cầu về đạo đức cách mạng, trí tuệ khoa học, chính trị dân chủ trong thể chế pháp quyền nhân nghĩa, đã coi dân là gốc của nước thì cán bộ, công chức phải tận tụy hết mình, phục vụ dân chúng, sao cho nhân dân thực sự là chủ, thật sự có năng lực làm chủ, thực sự được thụ hưởng lợi ích và quyền lực của chính mình trong một xã hội dân chủ, với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà nhân dân kiểm soát được quyền lực, không để cho quyền lực bị tha hóa do cán bộ, công chức, nhất là quan chức hư hỏng, suy đồi.

Từ những quan điểm, tư tưởng sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh toát lên những điểm quan trọng về nhân cách cán bộ, đảng viên, công chức thấm nhuần chân lý và đạo nghĩa trọng dân, trọng pháp. Đó là hệ chuẩn mực: thạo chính trị; giỏi chuyên môn; tinh thông nghiệp vụ; tận tụy, mẫn cán; suốt đời là đầy tớ trung thành, công bộc tận tụy của nhân dân./.

Trí Đức

Tin tức cùng chuyên mục

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ để thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng

Ngày đăng 23/10/2020
Bài viết khái quát và khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, nhấn mạnh một số nội dung cần nghiên cứu vận dụng trong quá trình thực hiện Chiến lược cán bộ của Đảng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Ngày đăng 30/09/2020
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là nội dung mang tính chiến lược trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, là tài sản trí tuệ vô giá mà Bác Hồ để lại cho chúng ta, một nội dung trọng yếu của chủ đề Đại hội Đảng các cấp, là động lực phát triển đất nước.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân - nội dung cốt lõi trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngày đăng 25/09/2020
Xây dựng một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ là tư tưởng nhất quán trong cuộc đời hoạt động cách mạng và lãnh đạo đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó cũng chính là nội dung cốt lõi trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong quá trình cải tổ và hoàn thiện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (từ tháng 8/1945 đến tháng 11/1946)

Ngày đăng 14/09/2020
Trong giai đoạn từ tháng 8/1945 đến tháng 11/1946, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trải qua 5 lần cải tổ, từ Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (UBDTGPVN) đến Chính phủ lâm thời, Chính phủ Liên hiệp lâm thời, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến và Chính phủ kháng chiến - Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Quá trình này diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước, có nhiều điểm độc đáo, thể hiện vai trò lãnh đạo tài tình, sáng tạo Hồ Chí Minh.

Nhuần nhuyễn tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ bất biến ứng vạn biến”

Ngày đăng 27/08/2020
Ngoại giao Việt Nam cần học tập nhuần nhuyễn tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là bảo bối “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” để sớm xây dựng được một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tiêu điểm

Công bố dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng để lấy ý kiến Nhân dân

Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng; Thông báo Kết luận số 159-TB của Bộ Chính trị về việc thảo luận các văn kiện Đại hội XIII của Đảng tại đại hội đảng bộ các cấp, gửi lấy ý kiến nhân dân và tổng hợp các ý kiến đóng góp vào văn kiện Đại hội XIII của Đảng và Hướng dẫn số 151-HD/BTGTƯ ngày 10/9/2020 của Ban Tuyên giáo Trung ương về việc công bố, thảo luận, lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, xin trân trọng giới thiệu 04 dự thảo văn kiện quan trọng này.