Hà Nội, Ngày 01/10/2020

Công tác thanh tra của Bộ Nội vụ với việc đảm bảo kỷ luật, kỷ cương trong công tác tổ chức cán bộ

Ngày đăng: 11/09/2020   03:25
Mặc định Cỡ chữ
Đảng ta luôn khẳng định vai trò quan trọng của công tác thanh tra đối với việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Chỉ thị số 50/CT-TW ngày 04/7/1962 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Chính phủ đã khẳng định: “Tổ chức thanh tra chuyên nghiệp là tai mắt của cơ quan lãnh đạo các cấp, nó có trách nhiệm giữ gìn dân chủ kỷ luật nhà nước, bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ”. Nghị quyết các Hội nghị Trung ương lần thứ 3, lần thứ 7 và lần thứ 8 (khoá VIII) đều nhấn mạnh quan điểm coi thanh tra là một nội dung quan trọng của quản lý, nhằm “thiết lập kỷ cương xã hội, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước”.

1. Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác thanh tra và của Thanh tra Bộ Nội vụ, thanh tra ngành Nội vụ

Thanh tra là một nội dung, một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, khi có quản lý phải có thanh tra. Phát biểu tại Hội nghị cán bộ thanh tra toàn quốc ngày 05/3/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “… cán bộ thanh tra là tai mắt của Đảng và Chính phủ, tai có sáng suốt thì người nói mới sáng suốt”. Ngay từ năm 1945, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 64 về thành lập Ban thanh tra đặc biệt để thực hiện giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của các Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ. Theo Sắc lệnh này, Ban thanh tra đặc biệt có toàn quyền trong việc nhận các đơn khiếu nại của nhân dân; điều tra, hỏi chứng, xem xét các tài liệu giấy tờ của các Ủy ban nhân dân hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho công việc giám sát; đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Ủy ban nhân dân hay của Chính phủ đã phạm lỗi trước khi mang ra Hội đồng Chính phủ hay Toà án đặc biệt xét xử; tịch biên hoặc niêm phong những tang vật và dùng mọi cách điều tra để lập một hồ sơ mang một phạm nhân ra Toà án đặc biệt. Ban thanh tra có thể truy tố cả các việc đã xảy ra trước ngày ban bố Sắc lệnh này; có quyền đề nghị lên Chính phủ những điều cần sửa đổi trong các cơ quan.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân trao Quyết định và tặng hoa chúc mừng đồng chí Nguyễn Mạnh Khương được bổ nhiệm chức vụ Chánh Thanh tra Bộ Nội vụ. Ảnh: Trần Kiên

Đảng ta cũng luôn khẳng định vai trò quan trọng của công tác thanh tra đối với việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Chỉ thị số 50/CT-TW ngày 04/7/1962 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Chính phủ đã khẳng định: “Tổ chức thanh tra chuyên nghiệp là tai mắt của cơ quan lãnh đạo các cấp, nó có trách nhiệm giữ gìn dân chủ kỷ luật nhà nước, bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ”. Nghị quyết các Hội nghị Trung ương lần thứ 3, lần thứ 7 và lần thứ 8 (khoá VIII) đều nhấn mạnh quan điểm coi thanh tra là một nội dung quan trọng của quản lý, nhằm “thiết lập kỷ cương xã hội, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước”.

Vai trò của công tác thanh tra càng trở nên quan trọng khi Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh việc phân cấp, tăng cường tính chủ chủ, tự chịu trách nhiệm cho các bộ, ngành và địa phương trong các lĩnh vực quản lý nhà nước. Báo cáo chính trị tại Đại hội ĐBTQ lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”(1). Nghị quyết số 30c/ NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 cũng khẳng định “… tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra; đồng thời, đề cao vai trò chủ động, tinh thần trách nhiệm, nâng cao năng lực của từng cấp, từng ngành”. Báo cáo tổng kết công tác năm 2019 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2020 của Bộ Nội vụ nhấn mạnh phải tiếp tục “Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm các sai phạm trong tuyển dụng, quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ không đúng quy định, kịp thời thay thế cán bộ, công chức, viên chức tham nhũng, lãng phí, không đủ điều kiện về đạo đức, năng lực, trình độ”.

Ở nước ta, thanh tra còn là một phương thức để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng. Đặc thù của hệ thống chính trị ở nước ta là có sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng đối với toàn bộ đời sống xã hội và toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, được Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật. Chính vì vậy, hoạt động thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật, suy cho cùng, cũng là nhằm đảm bảo cho các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống. Do đó, hoạt động thanh tra với tư cách là một phương diện hoạt động của bộ máy nhà nước phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thanh tra cũng là một phương thức đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân. Mối quan hệ giữa công tác thanh tra với việc bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân thể hiện ở các khía cạnh: thanh tra góp phần ngăn ngừa những hành vi vi phạm quyền dân chủ của nhân dân xuất phát từ các hoạt động công quyền, góp phần tạo lập môi trường pháp lý lành mạnh cho quá trình thực hiện quyền dân chủ và theo nghĩa đó, thanh tra là “cầu nối” giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Tóm lại, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Đảng và Nhà nước ta thì thanh tra là một nội dung, là một chức năng của quản lý nhà nước; là phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng và đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân.

Theo quy định của pháp luật thanh tra, pháp luật khiếu nại, pháp luật tố cáo và các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan, Thanh tra Bộ Nội vụ có ba nhóm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản sau đây:

Thứ nhất, chức năng thanh tra: bao gồm thanh tra hành chính (thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý trực tiếp của Bộ Nội vụ) và thanh tra chuyên ngành (thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực do Bộ Nội vụ đảm nhận). Kết quả, hiệu quả hoạt động của Thanh tra Bộ Nội vụ là chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ trước Chính phủ và với xã hội. 

Thứ hai, chức năng quản lý ngành: là việc Thanh tra Bộ Nội vụ căn cứ quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tiến hành các hoạt động hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành đối với Thanh tra các Sở Nội vụ và hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Nội vụ thực hiện quy định của pháp luật về công tác thanh tra. Kết quả của hoạt động thực hiện chức năng quản lý ngành thường là những sản phẩm mang tính trí tuệ cao như xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp  luật; các đề án, chiến lược phát triển ngành…

Thứ ba, các chức năng, nhiệm vụ khác. Đó là những nhiệm vụ không cơ bản và kết quả của hoạt động thực hiện những chức năng, nhiệm vụ đó thường mang ý nghĩa “bổ sung” cho kết quả thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và chức năng quản lý ngành. Đó là các hoạt động như thanh tra đột xuất các vụ việc do Bộ trưởng Bộ Nội vụ giao; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về chống tham nhũng; tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Thanh tra Bộ Nội vụ được chính thức thành lập từ năm 2003 trên cơ sở tách ra từ Vụ Thanh tra - Pháp chế. Từ năm 2008 đến nay, Thanh tra Bộ Nội vụ được lãnh đạo Bộ quan tâm kiện toàn về cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ và tiếp tục được kiện toàn theo quy định mới của Luật Thanh tra, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp công dân... Hiện nay, Thanh tra Bộ Nội vụ có 03 phòng chuyên môn: Phòng Tổng hợp; Phòng Thanh tra nội vụ khối bộ, ngành Trung ương; Phòng Thanh tra nội vụ khối địa phương. Tổng số công chức là 22 người (trong đó, về chuyên môn có 01 người đang làm nghiên cứu sinh, 11 người có trình độ thạc sĩ, 10 người có trình độ đại học; về  tiêu chuẩn nghiệp vụ theo ngạch công chức có 02 thanh tra viên cao cấp, 12 thanh tra viên chính, 04 thanh tra viên, 04 chuyên viên). 

Trong việc thực hiện chức năng thanh tra, Thanh tra Bộ Nội vụ có nhiệm vụ, quyền hạn giúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ quản lý nhà nước về công tác thanh tra, thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật. Trong những năm qua, cùng với các mặt hoạt động quan trọng theo chức năng, như giải quyết khiếu nại, tố cáo; tham mưu về công tác phòng, chống tham nhũng và công tác tiếp công dân thì hoạt động thanh tra của Bộ Nội vụ do Thanh tra Bộ tiến hành luôn chú trọng tăng cường thanh tra trong lĩnh vực tổ chức cán bộ nhà nước nhằm mục đích đảm bảo và nâng cao kỷ luật, kỷ cương của nền công vụ.

2. Những kết quả chủ yếu trong công tác thanh tra của Bộ Nội vụ thời gian qua

Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, Thanh tra Chính phủ và lãnh đạo Bộ Nội vụ, Thanh tra Bộ Nội vụ không ngừng tăng cường, đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra và tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ đôn đốc việc thanh tra, kiểm tra về công tác tổ chức cán bộ của các bộ, ngành, địa phương và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo và tăng cường kỷ cương, kỷ luật của nền công vụ.

Thực hiện Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trong thời gian qua, Bộ Nội vụ đã tiến hành 25 cuộc thanh tra về công tác tổ chức cán bộ tại các bộ, ngành, địa phương. Trong đó, tập trung về “việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý biên chế công chức; tuyển dụng công chức; xét chuyển cán bộ, công chức cấp xã thành công chức từ cấp huyện trở lên; bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý; số lượng cấp phó và việc ký hợp đồng lao động làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan hành chính nhà nước”(2). Năm 2019 vừa qua, đã tiến hành 27/27 (hoàn thành 100%) cuộc thanh tra chuyên ngành theo kế hoạch, trong đó Thanh tra Bộ tiến hành 15 cuộc; Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương tiến hành 06 cuộc và Ban Tôn giáo Chính phủ tiến hành 06 cuộc (chưa tính số lượng các cuộc thanh tra do Thanh tra các Sở Nội vụ tiến hành). Qua các cuộc thanh tra, việc chấp hành  các quy định pháp luật về công tác tổ chức cán bộ, ý thức chấp hành và nhận thức về chuyên môn, nghiệp vụ của một số cán bộ, công chức lãnh đạo và công chức tham mưu đã được nâng lên và đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, góp phần tăng cường, nâng cao kỷ cương, kỷ luật trong lĩnh vực tổ chức cán bộ. Có được những kết quả quan trọng này là do:

Một là, cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ Nội vụ được kiện toàn, công chức thanh tra có trình độ chuyên môn  sâu rộng các lĩnh vực, đáp ứng tốt nhu cầu công việc. Trong bối cảnh ứng dụng khoa học, công nghệ như hiện nay, công chức Thanh tra Bộ Nội vụ đã chủ động học tập, tìm hiểu để ứng dụng và sử dụng thành thạo các kỹ năng xử lý công nghệ thông tin, tin học văn phòng trong quá trình thực hiện công tác chuyên môn.

Hai là, hành lang pháp lý cho các hoạt động thanh tra của Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ từng bước được được bổ sung, hoàn thiện. Cụ thể, Nghị định số 90/2012/NĐ-CP ngày 05/11/2012 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành Nội vụ đã tạo lập cơ sở pháp lý nền tảng về tổ chức hoạt động của thanh tra ngành Nội vụ. Theo đó, Nghị định số 90/2012/NĐ-CP ngày 05/11/2012 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành Nội vụ đã giải quyết được các trùng lặp về phạm vi, lĩnh vực hoạt động của thanh tra ngành Nội vụ với Thanh tra Chính phủ và thanh tra các ngành khác. Đồng thời, tại Thông tư số 09/2012/TT-BNV ngày 10/12/2012 của Bộ Nội vụ quy định quy trình, nội dung thanh tra về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức được ban hành đã góp phần quan trọng vào việc cụ thể hóa quy trình thanh tra trong lĩnh vực tổ chức và cán bộ nhà nước, nâng tầm giá trị pháp lý cho hoạt động chuyên môn của Thanh tra Bộ Nội vụ, thanh tra ngành Nội vụ. 

Vì vậy, trong những năm qua, hoạt động thanh tra của Thanh tra Bộ Nội vụ được thực hiện tương đối thuận lợi. Đặc biệt, trong lĩnh vực tổ chức cán bộ (nhất là với các khâu quan trọng như tuyển dụng, bổ nhiệm, tuyển dụng…), Qua hoạt động thanh tra, Thanh tra Bộ Nội vụ đã tham mưu cho lãnh đạo Bộ Nội vụ trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, nhất là trong việc xử lý bất cập, hạn chế trong việc tuyển dụng, bổ nhiệm từ nhiều năm trước đây, góp phần ổn định tình hình, giữ nghiêm kỷ cương phép nước, tạo tâm lý yên tâm công tác cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Ba là, Thanh tra Bộ Nội vụ luôn chú trọng đảm bảo các mục đích của hoạt động thanh tra. Ngoài việc phát hiện, kiến nghị Bộ trưởng Bộ Nội vụ và các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh những hạn chế, thiếu sót trong cơ chế, chính sách thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ, các đoàn thanh tra do Thanh tra Bộ Nội vụ chủ trì tiến hành đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ ra cho các cơ quan, tổ chức là đối tượng thanh tra những hạn chế, thiếu sót cần có biện pháp khắc phục ngay. Những hạn chế, thiếu sót này thường do yếu tố chủ quan nên các cơ quan, tổ chức không thể hiện trong hồ sơ lưu trữ về công tác tổ chức cán bộ. Việc chỉ ra những hạn chế, thiếu sót trong công tác chuyên môn, đồng thời kiến nghị các biện pháp khắc phục hạn chế, thiếu sót của các đoàn thanh tra nội vụ đã được không chỉ các cơ quan, đơn vị là đối tượng thanh tra đánh giá cao, ủng hộ và cầu thị để sửa chữa, khắc phục ngay; mà còn được dư luận xã hội quan tâm và đánh giá cao, coi đó là sự thể hiện quyết tâm chính trị của Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong việc đảm bảo kỷ luật, kỷ cương của nền công vụ, cũng là biện pháp thiết thực để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương.

Qua ghi nhận tại các cuộc thanh tra về sau (khoảng 04 - 05 năm sau khi thanh tra lần trước đối với các cơ quan, đơn vị) thì những nội dung đã được hướng dẫn, kiểm tra đều được hiện tốt, đúng quy định. Đồng thời, những phát hiện và kiến nghị của Thanh tra Bộ qua các cuộc thanh tra tiến hành những năm vừa đã được cấp có thẩm quyền ghi nhận để kịp thời ban hành thể chế khắc phục hạn chế, thiếu sót trong công tác tổ chức cán bộ.

Bốn là, nội dung của các cuộc thanh tra đã được mở rộng, toàn diện hơn cả về phạm vi và đối tượng thanh tra. Nếu như giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2013, hầu như các cuộc thanh tra chỉ tập trung vào một nội dung (tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc việc đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn nghiệp vụ theo ngạch…), thì đến hiện nay nội dung của các cuộc thanh tra do Thanh tra Bộ Nội vụ và Thanh tra các Sở Nội vụ tiến hành đã được mở rộng hơn về phạm vi, toàn diện hơn về các nội dung từ tuyển dụng, sử dụng đến quản lý công chức. Đồng thời, số lượng đơn vị thuộc, trực thuộc đối tượng thanh tra được kiểm tra đã tăng lên, từ việc thanh tra ít nhất 2/3 số đơn vị thì đến nay đã bảo đảm thanh tra 100% các đơn vị. 

Năm là, hoạt động thanh tra của Thanh tra Bộ Nội vụ ngày càng thu hút sự quan tâm của người dân, báo chí. Với việc cung cấp thông tin công khai, minh bạch của Bộ Nội vụ và sự đưa tin chính xác, kịp thời của báo chí trong thời gian qua, cũng như sự phối hợp tốt giữa cơ quan phát ngôn của Bộ Nội vụ và các cơ quan báo chí thì người dân đã càng ngày càng quan tâm, tin tưởng đến công tác thanh tra của Thanh tra Bộ Nội vụ nói riêng, thanh tra ngành Nội vụ nói chung; qua đó góp phần nâng cao uy tín của Đảng, Nhà nước và Bộ Nội vụ không chỉ trong công tác cán bộ, mà còn với hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính và công vụ; đồng thời hiệu lực, hiệu quả giám sát, phản biện xã hội của nhân dân đối với công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước cũng được nâng cao.

3. Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác cán bộ được chỉ ra qua hoạt động thanh tra nội vụ

Qua công tác thanh tra của Thanh tra Bộ Nội vụ đã phát hiện, chỉ ra những sai sót, hạn chế có tính phổ biến trong công tác cán bộ là:

Thứ nhất, về quản lý biên chế: có một số địa phương giao và sử dụng biên chế công chức hành chính hàng năm vượt quá chỉ tiêu được Chính phủ giao; có địa phương còn giao thêm biên chế địa phương (phân biệt biên chế Trung ương và biên chế địa phương nhưng không có quy định rõ ràng); giao số lượng người làm việc và tuyển dụng viên chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập; sử dụng viên chức làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan hành chính; vẫn còn tình trạng thực hiện việc ký và sử dụng hợp đồng lao động làm công việc chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan hành chính; tại thời điểm thanh tra, công tác tinh giản biên chế ở một số bộ, ngành, địa phương chưa đạt tỷ lệ theo kế hoạch đặt ra và số báo cáo tinh giản chủ yếu do nghỉ hưu và chỉ tiêu chưa tuyển dụng, số tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế đạt tỉ lệ thấp.

Thứ hai, về tuyển dụng công chức: một số cơ quan, đơn vị ban hành thông báo tuyển dụng đúng thời gian, thời hạn nhưng không đầy đủ nội dung theo quy định; quy định điều kiện dự tuyển về bằng cấp chuyên môn, nghiệp vụ không phù hợp với vị trí dự tuyển và còn đưa thêm các điều kiện riêng mang tính địa phương hoặc mang tính đặc biệt mà thí sinh khó có thể đáp ứng nếu không làm việc lâu năm, làm hợp đồng tại cơ quan nhà nước trước đó…; còn một số thiếu sót trong việc thành lập Hội đồng tuyển dụng, các ban giúp việc cho Hội đồng; việc chấm thi, tổng hợp điểm còn có sai sót. 

Việc tuyển dụng, tiếp nhận công chức không qua thi tuyển và việc xét chuyển cán bộ, công chức cấp xã thành công chức từ cấp huyện trở lên còn có nhiều trường hợp chưa đảm bảo điều kiện, tiêu chuẩn và trình tự, thủ tục (nhiều trường hợp không đủ thời gian kinh nghiệm công tác hoặc không phù hợp với vị trí việc làm cần tuyển, nhiều trường hợp được xét chuyển từ viên chức, cán bộ, công chức cấp xã thành công chức từ cấp huyện trở lên nhưng không có đầu vào là viên chức, cán bộ, công chức cấp xã hoặc đầu vào không hợp lệ. Một số địa phương quy định chính sách thu hút trong một thời gian dài (thậm chí từ trước khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được ban hành), trong đó có việc tuyển dụng vào công chức không đúng quy định của Luật Cán bộ, công chức và các văn bản hướng dẫn thi hành, nên dẫn đến hiện nay trong các cơ quan, tổ chức vẫn đang có một số lượng công chức có đầu vào  không đúng quy định.

Thứ ba, về bổ nhiệm: vẫn còn có những cơ quan tiến hành công tác bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý khi chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện, tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, thời hạn bổ nhiệm.  Một số trường hợp được bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo quản lý cấp phòng, cấp sở, cấp vụ nhưng hồ sơ công chức thể hiện việc tuyển dụng vào công chức trước đây không đúng quy định; nhiều trường hợp bổ nhiệm lại chậm so với quy định; một số công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý còn chưa đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức theo vị trí việc làm; một số cơ quan, tổ chức có số lượng cấp phó vượt quá quy định.

Qua công tác thanh tra cũng đã chỉ ra những hạn chế nêu trên là do nguyên nhân sau:

Một là, vẫn còn những văn bản của bộ, ngành, địa phương có nội dung chưa phù hợp với các quy định của Nhà nước. Vì vậy, khi thực hiện đã phát sinh những vấn đề không phù hợp hoặc trái với quy định của Nhà nước, nhất là những chính sách khuyến khích tài năng và thu hút người có trình độ cao để tuyển dụng, tiếp nhận vào công chức, viên chức, số lượng cấp phó; phân cấp quản lý tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; việc ký hợp đồng lao động làm công tác chuyên môn...

Hai là, còn một số vướng mắc về cơ sở pháp lý trong quá trình triển khai thực hiện do pháp luật chưa có quy định cụ thể như(3) việc hủy kết quả trúng tuyển do có các vi phạm trong tổ chức thi tuyển; việc công nhận kết quả trúng tuyển bổ sung đối với người dự tuyển trong cùng kỳ tuyển dụng (nhưng khác năm tổ chức tuyển dụng); việc cộng dồn để giảm trừ thời gian tập sự; hướng dẫn việc quy định thang điểm chi tiết, việc chấm, điều chỉnh điểm và công bố điểm phúc khảo; việc tính thời gian trong độ tuổi quy hoạch, giữ chức vụ bổ nhiệm, bổ nhiệm lại trong trường hợp kéo dài độ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động; việc đánh giá, xếp loại đối với công chức, viên chức được biệt phái trước yêu cầu vị trí việc làm (của công chức) và chức danh nghề nghiệp (của viên chức). 

Ba là, một số lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa nhận thức và chấp hành đầy đủ các quy định về công tác tổ chức, cán bộ; trong khi công tác tham mưu của một bộ phận công chức làm công tác tổ chức, cán bộ của một số cơ quan, đơn vị còn hạn chế. Cụ thể, nhiều công chức tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ tại bộ, ngành, địa phương đến nay còn lúng túng trong việc xác định các trường hợp điều động, luân chuyển, hoặc chưa hiểu rõ thế nào là bổ nhiệm nguồn nhân sự từ nơi khác; nhiều công chức lãnh đạo chưa hiểu hết quy định về quản lý hồ sơ và thẩm quyền quản lý hồ sơ công chức… Những hạn chế này tồn tại qua nhiều năm, nhưng chưa được giải quyết triệt để. Trong khi đó, nguyên tắc Đảng lãnh đạo là thống nhất, xuyên suốt quá trình quản lý cán bộ, công chức, viên chức nhưng công tác phối hợp giữa ban tổ chức của đảng ủy các cấp với bộ phận tham mưu về công tác cán bộ còn chưa chặt chẽ, thống nhất trong quản lý hồ sơ và tiến hành các quy trình bổ nhiệm.

Bốn là, nhiều cơ quan, đơn vị công tác tham mưu còn yếu, nhận thức của người đứng đầu chưa cao, cơ quan quản lý cấp trên lại chưa thường xuyên tổ chức tập huấn, hướng dẫn, bồi dưỡng về chuyên môn cho công chức làm công tác tổ chức, cán bộ hoặc có tổ chức nhưng nội dung tập huấn chưa đảm bảo, chất lượng chưa cao, chưa gắn với thực tiễn hoặc nhu cầu của người học.

Năm là, người đứng đầu cơ quan tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ của một số bộ, ngành, địa phương thường có sự biến động, thay đổi do công tác luân chuyển cán bộ, nên vấn đề chuyên môn, nghiệp vụ còn có hạn chế, do vậy công tác tham mưu còn chưa chặt chẽ, chưa phù hợp với quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Sáu là, công tác kiểm tra, giám sát trong tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức của các bộ, ngành, địa phương chưa được coi trọng nên một số hạn chế, bất cập trong nhiều năm không được phát hiện, chấn chỉnh kịp thời. Đặc biệt là trước khi có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thanh tra, kiểm tra về công tác cán bộ (tại Công văn số 4591/VPCP-TCCV ngày 15/5/2017 của Văn phòng Chính phủ) thì nhiều cơ quan, tổ chức chưa tiến hành thanh tra, kiểm tra về công tác này.

4. Tiếp tục tăng cường công tác thanh tra nội vụ trong thời gian tới để đảm bảo kỷ cương, kỷ luật hành chính trong công tác tổ chức cán bộ

Nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật hành chính trong công tác tổ chức cán bộ, cần thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác thanh tra và xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc sai phạm, tiêu cực trong công tác tổ chức cán bộ theo quy định của pháp luật. Đến nay, Thanh tra Bộ Nội vụ đã kiến nghị người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương thu hồi, bãi bỏ các quy định, quyết định về công tác cán bộ không đúng, không phù hợp, có sai phạm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình tuyển dụng công chức, bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý. Chỉ tính riêng trong năm 2019, Thanh tra Bộ Nội vụ cũng đã kiến nghị trực tiếp thu hồi 29 quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm; kiến nghị các bộ, ngành, địa phương thu hồi 237 quyết định (01 quyết định bổ nhiệm, 236 hợp đồng lao động làm chuyên môn trong cơ quan hành chính nhà nước); đồng thời kiến nghị các bộ, ngành, địa phương rà soát và xử lý theo các quy định của Đảng đối với 269 trường hợp.

Thứ hai, về mặt quản lý nhà nước và trên cơ sở có tư duy mở để thích ứng với bản chất động của tổ chức không ngừng phát triển, đáp ứng với sự thay đổi và đòi hỏi của thực tế thì các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật còn chồng chéo, bất hợp lý, không khả thi như: nghiên cứu xây dựng thêm quy định về việc hủy kết quả trúng tuyển đối với các trường hợp do vi phạm; bổ sung quy định về trường hợp những người đang là cán bộ, công chức, viên chức tham gia thi tuyển, xét tuyển công chức, viên chức ở cơ quan khác; việc bổ sung chỉ tiêu tuyển dụng trong kỳ tuyển dụng mà không phải trong năm tuyển dụng như hiện nay; giảm trừ thời gian tập sự do cộng dồn thời gian công tác; việc điều chỉnh điểm phúc khảo…. trong tuyển dụng, nâng ngạch đối với trường hợp có thay đổi về điểm; bổ sung các quy định về quy hoạch, bổ nhiệm để phù hợp với quy định mới của Bộ luật Lao động.

Thứ ba, qua công tác thanh tra, một trong những nguyên nhân của việc kỷ cương, kỷ luật trong công tác tổ chức, cán bộ chưa được thực hiện nghiêm là do người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương còn tự ban hành các quy định riêng về công tác tổ chức, cán bộ; đặc biệt là trong công tác tuyển dụng ở các địa phương. Do đó, cần nâng cao nhận thức của những người thực hiện chế độ, chính sách. Theo đó, người đứng đầu cần kiên quyết chỉ đạo việc tuân thủ pháp luật, không ban hành các văn bản trái quy định và kịp thời chỉ đạo xử lý sai phạm; người tham mưu phải thực hiện nghiêm túc, tham mưu đúng, trúng, đầy đủ theo chức trách, nhiệm vụ được giao, không lợi dụng quy định pháp luật để trục lợi khi xử lý, giải quyết công việc. 

Bên cạnh đó, cần có kế hoạch xây dựng đội ngũ công chức Thanh tra Bộ Nội vụ vững mạnh, tinh nhuệ, tinh thông nghiệp vụ các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ để không ngừng tham mưu, nâng cao  hiệu lực, hiệu quả nhằm đảm bảo giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong công việc nói chung, công tác thanh tra lĩnh vực tổ chức, cán bộ nói riêng. Để làm được điều này, lãnh đạo Thanh tra Bộ Nội vụ cần có quyết tâm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thanh tra đáp ứng tốt yêu cầu về chuyên môn, nhạy bén về nghiệp vụ và đạt chuẩn kỹ năng công nghệ thông tin, ngoại ngữ.  Đội ngũ công chức Thanh tra Bộ Nội vụ cần nhận thức rõ vị trí, vai trò, để nâng cao hơn nữa ý thức trách nhiệm trong chấp hành các quy định pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, nỗ lực học tập, bồi dưỡng, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trước mắt là chú trọng việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về công chức, công vụ; đồng thời bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ hàng năm, hoặc tại thời điểm ban hành văn bản mới để kịp thời triển khai thực hiện, áp dụng trong công tác. 

Với vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, trong những năm qua Thanh tra Bộ Nội vụ đã không ngừng chủ động đổi mới phương thức tổ chức hoạt động; cách thức và phương pháp tiến hành thanh tra để nâng cao hiệu quả công tác thanh tra. Từ hoạt động thanh tra đã xử lý, kiến nghị xử lý nghiêm các hạn chế, thiếu sót và khắc phục những hạn chế nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong lĩnh vực tổ chức, cán bộ, qua đó, góp phần nâng cao vị thế của Bộ Nội vụ trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước. Trải qua 75 năm lịch sử hình thành, phát triển của Bộ Nội vụ và 17 năm xây dựng và hoàn thiện bộ máy, tổ chức của Thanh tra Bộ Nội vụ, tập thể lãnh đạo, công chức Thanh tra Bộ vẫn luôn ghi nhớ, nỗ lực thực hiện theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “thanh tra là tai mắt của trên, là bạn của cấp dưới” để luôn xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân./. 

-----------------------------------------------------

Ghi chú:

(1) Văn phòng Trung ương Đảng, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, H.2016.

(2) Thanh tra Bộ Nội vụ, Báo cáo công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo các năm 2016 - 2019 và 6 tháng đầu năm 2020.

(3) Thanh tra Bộ Nội vụ, Báo cáo phục vụ họp giao ban Bộ tháng 6/2020 về những tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện các quy định của pháp luật trong các lĩnh vực thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ qua công tác thanh tra.

 

TS Đỗ Xuân Đông, nguyên Chánh Thanh tra Bộ Nội vụ

ThS Nguyễn Mạnh Khương, Chánh Thanh tra Bộ Nội vụ

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Học viện Hành chính Quốc gia trong lịch sử 75 năm của Bộ Nội vụ - định hướng phát triển thời gian tới

Ngày đăng 22/09/2020
Trường Hành chính Trung ương (nay là Học viện Hành chính Quốc gia trực thuộc Bộ Nội vụ) được thành lập theo Nghị quyết số 214-NV ngày 29/5/1959 của Thủ tướng Chính phủ (do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phan Kế Toại ký). Đây là cơ sở đào tạo cán bộ hành chính đầu tiên ở nước ta.

Quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ trong 75 năm xây dựng và phát triển của Bộ Nội vụ

Ngày đăng 22/09/2020
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đây, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước có điều kiện phát triển, trong đó có quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ. Trong hoàn cảnh khó khăn của thời kỳ đầu sau Cách mạng Tháng Tám, những chủ trương về xây dựng chính quyền và xây dựng nền văn hóa mới đã tạo cơ sở để Đảng và Nhà nước ta đề ra các chính sách, biện pháp chỉ đạo cần thiết đối với công tác văn thư, lưu trữ.

Trường Đại học Nội vụ Hà Nội phát huy truyền thống 75 năm của Bộ Nội vụ trong hoạt động đào tạo nhân lực ngành Nội vụ

Ngày đăng 23/09/2020
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Nội vụ. Đến nay, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã có chiều dài lịch sử 49 năm xây dựng và phát triển.

Xây dựng chính quyền địa phương trong sạch, vững mạnh - một nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của ngành Tổ chức nhà nước

Ngày đăng 23/09/2020
Quá trình 75 năm xây dựng và phát triển của ngành Nội vụ nói chung, Bộ Nội vụ nói riêng luôn gắn với công tác xây dựng chính quyền địa phương. Ngay từ khi mới được thành lập (ngày 28/8/1945), Bộ Nội vụ đã được giao nhiệm vụ tập trung vào công tác xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng của nhân dân. Đây là nhiệm vụ được Bộ Nội vụ thực hiện xuyên suốt trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Những cống hiến to lớn của đồng chí Võ Nguyên Giáp trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ

Ngày đăng 23/09/2020
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà chính trị xuất sắc, một nhà quân sự tài ba của Việt Nam. Ông là vị Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Trong thời gian giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ông đã có nhiều cống hiến, đóng góp to lớn và quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng nói chung, xây dựng Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ nói riêng.

Tiêu điểm

Nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ

 Trong bài viết Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Ðại hội XIII của Ðảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Nhìn lại nhiệm kỳ Ðại hội XII, chúng ta vui mừng nhận thấy, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần đoàn kết, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, sự nỗ lực sáng tạo, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng".