Hà Nội, Ngày 25/09/2020

Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ

Ngày đăng: 03/08/2020   03:33
Mặc định Cỡ chữ
Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định cán bộ và công tác cán bộ “là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp”(1), “quyết định mọi việc”(2). Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ luôn là kim chỉ nam cho Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

1. Vị trí, vai trò của cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ. Điều đó được thể hiện từ rất sớm và rất rõ trong cuốn Đường Kách mệnh (viết năm 1927); đặc biệt, tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (dưới bút danh X.Y.Z, viết tháng 10/1947) đã thể hiện tương đối toàn diện quan điểm của Người về cán bộ và công tác cán bộ.

Vị trí, vai trò đặc biệt của cán bộ được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(3), “muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(4). Qua các luận điểm này, Người đã nhấn mạnh vào một vấn đề then chốt nhất trong việc xây dựng hệ thống chính trị của chế độ mới - đó là vấn đề đảng cầm quyền. Một trong những điều thể hiện cái quyền Đảng cầm là nắm chắc vấn đề cán bộ của toàn hệ thống chính trị. Do đó, Đảng có trách nhiệm lãnh đạo công tác cán bộ cho toàn hệ thống chính trị. Đã coi công tác xây dựng Đảng nói riêng và xây dựng hệ thống chính trị nói chung là vấn đề then chốt thì cán bộ lại là vấn đề then chốt của then chốt, vì cán bộ nào quan điểm ấy, cán bộ nào đường lối ấy, cán bộ nào chủ trương ấy và cán bộ nào phong cách ấy.

Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, nói cách khác, nhân dân là những người làm nên lịch sử. Nhưng xét cho đến cùng, trong tiến trình cách mạng, đội ngũ cán bộ có vị trí, vai trò là đầu tàu, là động cơ, là dây chuyền của bộ máy đưa con tàu cách mạng tiến lên phía trước. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng và lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lựa chọn, đưa cán bộ đi thử thách trong thực tế, đi huấn luyện hoặc tự mình trực tiếp huấn luyện cán bộ bằng nhiều cách khác nhau. Cách làm công tác cán bộ của Người đều xuất phát từ vấn đề con người, từ yêu cầu của cách mạng, nhằm làm cho cách mạng thắng lợi. Người khẩn khoản mời cả những quan lại và những trí thức của chế độ cũ tham gia phục vụ cách mạng và giao cho họ giữ những chức vụ cấp cao, rất quan trọng trong bộ máy của nước Việt Nam mới… điều đó chứng minh rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt của cán bộ và công tác cán bộ.

2. Về yêu cầu và tiêu chuẩn cán bộ

Yêu cầu, tiêu chuẩn tổng quát nhất đối với một cán bộ cách mạng, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là cặp chỉnh thể ĐỨC - TÀI(5). Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích mối quan hệ biện chứng giữa đức và tài: nếu có tài mà không có đức thì làm hỏng việc; nếu có đức mà không có tài thì như ông bụt ngồi đó mà không giúp ích gì được cho cuộc sống. Người khẳng định cách mạng Việt Nam nhất định sẽ thành công nếu Đảng trong sạch, vững mạnh, nhân dân đoàn kết mà đặc biệt là nếu có được đội ngũ cán bộ tốt. Yêu cầu, tiêu chuẩn cán bộ cách mạng, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, gồm 5 nội dung chủ yếu sau:

2.1. Cán bộ phải là người có đạo đức cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên để Đảng luôn là Đảng đạo đức, văn minh. Thường xuyên trăn trở vấn đề này, trong Di chúc, Người viết: “Trước hết nói về Đảng”(6); “mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(7). Người căn dặn, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”(8). Bài viết cuối cùng của Người nhân dịp kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng (03/2/1969) có tựa đề “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Người về vấn đề rèn luyện đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đối với cán bộ cách mạng thì đạo đức như là gốc của cây, nguồn của sông, là cái căn bản của một con người: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”(9).

Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt những nội dung yêu cầu về đạo đức cách mạng cho cán bộ, tùy vào hoàn cảnh cụ thể, khi thì đề cập năm điều của “tính tốt”: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm; khi lại nêu trung với nước, với Đảng, hiếu với dân; lúc thì đề cập cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; lúc thì nhấn mạnh yếu tố tinh thần quốc tế trong sáng.v.v. Song đều tựu trung lại ở những điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, phải trung thành với cách mạng, “trọng lợi ích của Đảng hơn hết”(10), suốt đời phấn đấu cho cách mạng. Điều này không khó để nhận biết qua quá trình nói và làm của cán bộ trong cuộc sống và công tác.

Thứ hai, có sức lôi cuốn, tạo sức mạnh đoàn kết trong tập thể. Cán bộ lãnh đạo, nhất là cán bộ chủ chốt, luôn luôn phải là hạt nhân của sự đoàn kết trong tập thể đơn vị và rộng ra là cả ngoài cộng đồng xã hội. Đoàn kết là yếu tố được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết trong Di chúc, là: “một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(11).

Thứ ba, đạo đức cách mạng cần cả những đức tính trung với nước, với Đảng, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Thứ tư, đạo đức cách mạng cũng đòi hỏi phải tích cực đấu tranh phòng và chống các tiêu cực, trong đó đặc biệt là nạn tham ô, lãng phí, quan liêu.

Thứ năm, phải có lối sống lành mạnh, phải có “đời tư trong sáng”.

2.2. Cán bộ là người có năng lực tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Cán bộ phải có những năng lực: 1) Tổ chức thực hiện thắng lợi các nghị quyết, quy định, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước thành hiện thực trong cuộc sống. Vì vậy, cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, thực hiện tốt nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: không nên tạo ra một loại cán bộ thụ động, bảo thủ, trì trệ, “đập đi, hò đứng”(12); 2) Cán bộ phải có tầm trí tuệ cao, có bản lĩnh chính trị vững vàng.

Muốn có tầm trí tuệ cao thì phải học tập, học lý luận chính trị và chuyên môn, chống tư tưởng lười học; phải tích cực học ở nhà trường, học trong thực tế, học hỏi lẫn nhau, học suốt đời, vì sự nghiệp cách mạng chứ không phải học để lấy bằng cấp, chứng chỉ để tiến thân. Muốn có bản lĩnh chính trị vững vàng, cán bộ cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ nào được phân công, đặc biệt là những nhiệm vụ khó khăn, để rèn luyện trong thực tế với tinh thần thắng không kiêu, bại không nản, không hoang mang dao động trước mọi tình huống.

2.3. Cán bộ phải có phong cách công tác tốt

Cán bộ cách mạng phải có phong cách hướng đích phục vụ nhân dân, nói cho dân hiểu, hiểu được dân nói, làm cho dân tin. Phong cách này đòi hỏi cán bộ phải học cách nói của quần chúng. Chớ nói như cách giảng sách. Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng… Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu… Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình. Bao giờ cũng phải tự hỏi: “Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe?”(13).

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu tư cách của một người cách mạng là “làm việc phải quyết đoán”(14). Vấn đề này không có gì mâu thuẫn với cách làm việc dân chủ. Người cán bộ phải tôn trọng tập thể, phát huy tinh thần dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tập trung dân chủ, “trong lúc thảo luận, mọi người được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng”(15).

Phải chú trọng tự phê bình và phê bình trên tinh thần thẳng thắn, trung thực, “ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt”(16) để đạt mục đích “làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”(17), “mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”(18).

Cán bộ có phong cách làm việc khoa học là người có kế hoạch làm việc rõ ràng; có tinh thần quyết tâm thực hiện kế hoạch; “cách làm việc phải siêng năng, có ngăn nắp, có tinh thần phụ trách, đã làm việc gì thì làm cho kỳ được, làm đến nơi đến chốn. Chớ làm dối”(19); phải “phân biệt cái gì nên làm trước, cái gì làm sau cho thiết thực và có ích”(20). Cán bộ phải có phong cách làm việc tỉ mỉ, cụ thể, thiết thực, không hình thức và chú ý kiểm tra xem công việc tiến hành như thế nào; đặc biệt với công tác dân vận, “phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh… Phải thật thà nhúng tay vào việc”(21). Trong cuộc sống đời thường cũng như trong công việc, cán bộ phải là tấm gương sáng để mọi người noi theo.

2.4. Cán bộ phải có đức hy sinh

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(22). Do đó, cán bộ phải hiểu rằng, lợi ích của cá nhân mình phải phục tùng lợi ích của Đảng, “nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết… Vô luận lúc nào, vô luận việc gì… cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau… Nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng”(23).

2.5. Cán bộ phải có quan hệ mật thiết với nhân dân

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng từ trong nhân dân mà ra. Điều này đòi hỏi cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, phải làm công bộc, làm đầy tớ, thậm chí là “làm trâu ngựa”(24) cho nhân dân. Người viết: “Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được, trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”(25). Người yêu cầu cán bộ cách mạng không được cứ ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau; không phải cứ dán lên trán hai chữ “cộng sản” là dân tin, dân yêu, dân kính, dân phục, mà phải trong công tác hàng ngày cố gắng học dân, làm cho dân tin, tức là coi trọng chữ TÍN.

Hướng vào việc phục vụ dân - đó chính là yêu cầu nghiêm khắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ cách mạng. Cán bộ phải là người tiên phong, tích cực nhất làm nên uy tín của chế độ chính trị, làm cho dân tin tưởng chế độ chính trị ở nước ta. Mất niềm tin là mất tất cả. Niềm tin của nhân dân đối với chế độ chính trị luôn được bồi đắp thông qua nhiều kênh, trong đó có kênh chất lượng cán bộ.

3. Về công tác cán bộ

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác cán bộ mang tính hệ trọng, cần được tiến hành cẩn thận, có hiệu quả, minh bạch, dân chủ, đáp ứng được yêu cầu của từng thời kỳ cách mạng. Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, có 8 điểm chủ yếu sau:

Một là, yêu cầu đối với những người làm công tác cán bộ, đánh giá cán bộ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm: “Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Đảng không lo riêng cho một đồng chí nào hết. Đảng lo việc cho cả nước”(26). Do vậy, phải phòng và chống chủ nghĩa cá nhân. Người yêu cầu những người làm công tác cán bộ trước hết phải tự biết mình, vì: “Đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy, muốn biết đúng sự phải trái ở người ta, thì trước hết phải biết đúng sự phải trái của mình. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc chắn không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu. Người ta thường phạm những chứng bệnh: 1. Tự cao tự đại; 2. Ưa người ta nịnh mình; 3. Đem lòng yêu, ghét của mình mà đối với người; 4. Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Phạm vào một trong bốn bệnh đó thì cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông. Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng”(27).

Đánh giá cán bộ là khâu rất khó và đặc biệt quan trọng trong công tác cán bộ. Đánh giá cần dựa vào phẩm chất, năng lực thực sự của cán bộ, chứ không thể dựa vào cảm tính, định kiến của bản thân người làm công tác cán bộ mà đánh giá; đồng thời đánh giá cán bộ phải sát với hoàn cảnh, sát với điều kiện của từng tổ chức, từng con người, từng địa bàn, từng lĩnh vực, từng giai đoạn, thời kỳ.

Hai là, rèn luyện, huấn luyện, thử thách cán bộ.

Phải đưa cán bộ vào thực tế công tác, thậm chí đưa vào những vị trí rất khó khăn để thử thách, rèn luyện; nội dung này liên quan tới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, kể cả việc bồi dưỡng cán bộ qua trường lớp và qua thực tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(28). Theo Người, cán bộ phải: “Học để làm việc/Làm người/Làm cán bộ/Học để phụng sự Đoàn thể/Phụng sự giai cấp và nhân dân/Phụng sự Tổ quốc và nhân loại”(29). Học với mục đích như vậy chứ không phải học vì bằng cấp, chứng chỉ, dùng bằng cấp, chứng chỉ đó để tiến thân.

Ba là, lựa chọn và đề bạt đúng cán bộ.

Trong lựa chọn cán bộ, phải chú ý tránh chọn những người có bệnh công thần, kiêu ngạo, chủ nghĩa cá nhân. Một số người mắc “bệnh công thần, cho rằng không ai giỏi bằng ta, không ai làm bằng ta”(30), “có những người cậy mình là “công thần cách mạng”, rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng và của Chính phủ. Thế là họ kiêu ngạo, họ phá kỷ luật của Đảng, của Chính phủ”(31). “Có một số đồng chí hoạt động không tích cực, nói mình già, yếu, mệt, nhưng lại trách Đảng, trách nhân dân, trách phong trào sao lại không đưa mình lên… Đó là mắc bệnh công thần”(32). Còn những người mắc bệnh kiêu ngạo là những người “tự cao tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”(33).

Bệnh công thần, kiêu ngạo, cá nhân chủ nghĩa len lỏi vào cả công tác cán bộ, bị chi phối bởi quan hệ họ hàng, thân quen, bạn bè, cánh hẩu, điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo từ rất sớm: “Có đồng chí nói thế này: đưa lớp trẻ vào mới làm được việc. Nhưng thâm tâm lại mong muốn là con cháu của mình kia. Con cháu mình là ai? Con cháu mình là tất cả, là thanh niên Việt Nam. Chứ không phải như thời phong kiến: Cha làm quan, con là cậu ấm. Con mình xấu thì đề bạt sao được. Đảng là Đảng của giai cấp, của nhân dân, của thế giới, chứ không riêng cho con cháu mình”(34). Phải coi trọng tiêu chuẩn, “bất kỳ ai có khả năng, đủ tiêu chuẩn, cần cho nhu cầu của cách mạng là phải dùng”(35).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong lựa chọn, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải chọn: 1) Những người tỏ ra trung thành và hăng hái trong công việc; 2) Những người có quan hệ mật thiết với nhân dân; 3) Những người có trách nhiệm cao, giải quyết tốt những công việc trong khó khăn, có sáng kiến, thắng không kiêu, bại không nản, khi thi hành nghị quyết thì kiên quyết, gan góc không sợ khó khăn; 4) Những người luôn luôn giữ đúng kỷ luật.

Bốn là, phải “khéo dùng cán bộ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: “Không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ. Thường chúng ta không biết tùy tài mà dùng người. Thí dụ: thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng. Nếu biết tùy tài mà dùng người, thì hai người đều thành công”(36); “phải dùng người đúng chỗ, đúng việc”(37).

Khéo dùng cán bộ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải tránh những sai lầm sau đây: “1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài. 2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực. 3. Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình”(38).

Vì vậy, “phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ khỏi bị bỏ rơi. Phải có tinh thần rộng rãi mới có thể gần gũi những người mình không ưa. Phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ. Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây mà cách xa cán bộ tốt. Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gụi mình”(39).

Năm là, kết hợp cán bộ các lứa tuổi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Các đồng chí già là rất quý, là gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ. Như thế đòi hỏi ở đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ”(40). Đảng “cần cán bộ già, đồng thời rất cần nhiều cán bộ trẻ… Công việc ngày càng nhiều, càng mới… Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ”(41).

Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ sở trường và sở đoản của hai loại cán bộ này, đó là: “cán bộ mới, vì công tác chưa lâu, kinh nghiệm còn ít, có nhiều khuyết điểm. Nhưng họ lại có những ưu điểm hơn cán bộ cũ: họ nhanh nhẹn hơn, thường giàu sáng kiến hơn. Vì vậy, hai bên phải tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau, học lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ với nhau”(42) và chú ý tới việc phải sử dụng thật tốt cả hai loại cán bộ này, bổ sung cho nhau những ưu điểm và khắc phục những hạn chế của từng loại cán bộ.

Sáu là, phòng và chống căn bệnh cục bộ địa phương.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng là một cơ thể sống, do vậy, có thể điều động cán bộ nắm giữ những chức trách trong tổ chức của hệ thống chính trị, bất kể cán bộ ấy nguyên quán ở đâu, miễn là người đó đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cụ thể ở địa bàn đó, ngành đó, cấp đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm nhất là phải kết hợp được cán bộ trên điều về và cán bộ tại chỗ; hai loại cán bộ này hỗ trợ, bổ sung cho nhau.

Người cho rằng: phải đề phòng và chống căn bệnh hẹp hòi trong công tác cán bộ: “Nhiều thứ bệnh như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa, v.v. đều do bệnh hẹp hòi mà ra”(43), “cũng vì bệnh hẹp hòi đó mà cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương không đoàn kết chặt chẽ… Cán bộ phái đến, trình độ thường cao hơn, kinh nghiệm nhiều hơn. Nhưng cán bộ địa phương lại biết rõ nhân dân, quen thuộc công việc hơn. Hai hạng cán bộ phải giúp đỡ nhau, bồi đắp nhau, thì công việc mới chạy. Vì bệnh hẹp hòi mà cán bộ phái đến thường kiêu ngạo, khinh rẻ cán bộ địa phương, cho họ là dốt kém… Bệnh địa phương đó, phải tẩy cho sạch”(44).

Bảy là, phải chăm lo cho cán bộ.

Chăm lo cho cán bộ, đó cũng là một yêu cầu rất quan trọng của công tác cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Phải luôn luôn dùng lòng thân ái mà giúp đỡ, lãnh đạo cán bộ. Giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm. Khen ngợi họ lúc họ làm được việc”(45). Trong Di chúc, Người nhấn mạnh: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(46). Mặt khác “Thương yêu là giúp họ học tập thêm. Là giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn sinh hoạt, ngày thường thì điều kiện dễ chịu, khi đau ốm được chăm nom, gia đình họ khỏi khốn quẫn.v.v.”(47). Đồng thời, phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải là để cho họ kiêu căng, mà cốt là làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ, để đi đến chỗ “bại cũng không nản, thắng cũng không kiêu”. Lúc phê bình họ, ta chớ có thái độ gay gắt. Lúc khen họ, ta phải cho họ hiểu rằng: năng lực của mỗi người đều có giới hạn, tuy có thành công cũng chớ kiêu ngạo. Kiêu ngạo là bước đầu của thất bại”(48).

Đối với những cán bộ có sai lầm, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”(49).

Tám là, “phải luôn luôn kiểm soát cán bộ”(50).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới việc phải huy động các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân thường xuyên kiểm tra, kiểm soát, giám sát cán bộ. Phải luôn chú ý bồi dưỡng cán bộ, phòng và chống những tiêu cực có thể nảy sinh ở họ sau khi được đề bạt, bổ nhiệm. Phải xử lý kỷ luật thật nghiêm, đúng Điều lệ Đảng và đúng pháp luật của Nhà nước đối với những cán bộ hủ bại, hư hỏng vừa để làm trong sạch hệ thống chính trị, vừa giáo dục chung, vừa răn đe, ngăn ngừa những cán bộ chưa vi phạm kỷ luật.

Có thường xuyên kiểm tra, kiểm soát cán bộ thì mới xây dựng được một đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng các giai đoạn, thời kỳ; phải kiểm soát quyền lực, để cho cán bộ không bị tha hóa sau khi được đề bạt, bổ nhiệm vào vị trí công tác nào đó. Tất cả mọi cán bộ, không sót một cán bộ nào, kể cả cán bộ cao cấp, đều phải được đặt trong tầm kiểm tra, kiểm soát, giám sát của các tổ chức trong hệ thống chính trị và nhân dân.

Trong bối cảnh hiện nay, khi các tổ chức đảng từ cơ sở đang tổ chức đại hội tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tiếp đến là bầu cử Quốc hội khoá XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 và kiện toàn bộ máy nhà nước, những nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ càng mang ý nghĩa thời sự sâu sắc trong việc bố trí, lựa chọn đội ngũ cán bộ các cấp, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đưa sự nghiệp cách mạng bước vào giai đoạn mới hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./. 

--------------------------------------------------

Ghi chú:

(1),(2),(3),(4),(9),(10),(12),(15),(16),(18),(19),(22),(23),(27),(28),(30),(31),(33),(36),(37),(38),(41),(42),(43),(44),(46),(47),(48),(49),(50) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.314, tr.324, tr.309, tr.280,  tr.290, tr.290, tr.320, tr.272, tr.272, tr.272, tr.117, tr.289, tr.290-291, tr.317, tr.309, tr.320, tr.295, tr295, tr314, tr.318, tr.319, tr.277, tr.276, tr.276-277, tr.314, tr.316, tr.322, tr.323, tr.323, tr.314.

(5),(6),(7),(8),(11),(17),(20),(45) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.622, tr.611, tr. 611-612, tr.616, tr.622, tr.672, tr.671, tr.611.

(13),(14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.345-346, tr.281.

(21),(29) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.233-234, tr.208.

(24) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG- ST, H.2011, tr.50.

(25) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG- ST, H.2011, tr.163.

(26),(32),(34),(35),(39),(40) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.275, tr.275, tr.274, tr.275, tr.272, tr.273.

 

GS.TS. NGƯT Mạch Quang Thắng - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong quá trình cải tổ và hoàn thiện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (từ tháng 8/1945 đến tháng 11/1946)

Ngày đăng 14/09/2020
Trong giai đoạn từ tháng 8/1945 đến tháng 11/1946, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trải qua 5 lần cải tổ, từ Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (UBDTGPVN) đến Chính phủ lâm thời, Chính phủ Liên hiệp lâm thời, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến và Chính phủ kháng chiến - Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Quá trình này diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước, có nhiều điểm độc đáo, thể hiện vai trò lãnh đạo tài tình, sáng tạo Hồ Chí Minh.

Nhuần nhuyễn tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ bất biến ứng vạn biến”

Ngày đăng 27/08/2020
Ngoại giao Việt Nam cần học tập nhuần nhuyễn tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là bảo bối “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” để sớm xây dựng được một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Những sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc và giá trị thời đại

Ngày đăng 27/08/2020
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới đã cống hiến trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam. Sự nghiệp cách mạng phong phú, sôi động của Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta nhiều “Di sản” quý báu, trong đó, những sáng tạo lý luận của Người về cách mạng giải phóng dân tộc là một dấu ấn nổi bật, góp phần tạo nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam, đồng thời có giá trị thời đại sâu sắc.

Mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Ngày đăng 26/08/2020
Là một nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp, Hồ Chí Minh luôn thấu suốt mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị. Trên thực tế, Người đã giải quyết rất sáng tạo, khéo léo và thành công mối quan hệ rất phức tạp và đầy tế nhị này, qua đó hạn chế được những mặt tiêu cực của các tôn giáo, đồng thời phát huy được vai trò của đồng bào có đạo trong khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần quan trọng vào thành công của cách mạng Việt Nam. Giờ đây, những tư tưởng đó vẫn soi sáng cho chúng ta trong nhìn nhận và giải quyết vấn đề tôn giáo ở nước ta hiện nay.

Hồ Chí Minh với việc xây dựng lực lượng cách mạng và sự vận dụng của Đảng trong tình hình hiện nay

Ngày đăng 21/08/2020
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và sự thành công của cách mạng chủ yếu phụ thuộc vào việc tập hợp được quần chúng, xây dựng được lực lượng cách mạng trong quần chúng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng cách mạng là cơ sở lý luận và bài học thực tiễn quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho Đảng và nhân dân ta.

Tiêu điểm

Nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ

 Trong bài viết Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Ðại hội XIII của Ðảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Nhìn lại nhiệm kỳ Ðại hội XII, chúng ta vui mừng nhận thấy, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát huy tinh thần đoàn kết, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, sự nỗ lực sáng tạo, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng".