Hà Nội, Ngày 09/08/2020

Các yếu tố tác động đến xây dựng chính sách, pháp luật phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Ngày đăng: 24/07/2020   02:46
Mặc định Cỡ chữ
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, có 54 tộc người anh em sinh sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với gần 14 triệu người (chiếm khoảng 14,3% dân số cả nước(1). Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các dân tộc thiểu số Việt Nam đã tích lũy được một kho tàng văn hóa dân tộc hết sức độc đáo và đa dạng. Các tín ngưỡng, phong tục tập quán, truyền thống lâu đời đã tạo cho mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng biệt, góp phần quan trọng làm đa dạng và phong phú văn hóa Việt Nam. Việc xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật phù hợp để thúc đẩy phát triển các vùng dân tộc thiểu số cần phải dựa trên cơ sở nghiên cứu một cách thấu đáo, toàn diện những tác động của các đặc điểm văn hoá, xã hội của các dân tộc thiểu số.
 

1. Tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội 

1.1. Tác động của sự phát triển không đồng đều

Sự kém phát triển về nhiều mặt và tỷ lệ đói nghèo cao của đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) so với mức phát triển trung bình nói chung và so với người Kinh nói riêng cho thấy cần có chính sách kinh tế, xã hội hợp lý để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách đó. Khi hoạch định chính sách, bên cạnh việc quan tâm đến mức độ phát triển chậm của các DTTS nói chung, còn phải chú ý đến sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc. Do đó, cần có những quy định mang tính ưu tiên đối với DTTS nói chung và các ưu tiên cụ thể, phù hợp với trình độ phát triển của các nhóm DTTS khác nhau. Bên cạnh các quy định của pháp luật, cần phải xây dựng các chương trình, đề án đặc biệt, hướng đến việc tạo điều kiện cho sự phát triển của các nhóm DTTS. Các đề án, chương trình cần dựa vào kết quả điều tra cụ thể để xây dựng một bản quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội có tính dài hạn, xác định các mục tiêu cụ thể và lộ trình đạt được các mục tiêu đó.

Xây dựng chính sách cần phải xử lý mối quan hệ giữa chính sách cho vùng, cộng đồng, cho hộ gia đình nói chung với chính sách dân tộc, tránh các can thiệp chồng chéo và không phù hợp. Hiện nay, nhiều chính sách về dân tộc thường được thiết kế theo phương thức “một can thiệp phù hợp cho tất cả”, trong khi đặc điểm mỗi vùng miền, địa phương, dân tộc là rất khác biệt. Điều này không chỉ làm giảm sự phù hợp của chính sách, mà còn hạn chế tính sáng tạo, hiệu quả thực hiện chính sách ở cấp địa phương. Vì vậy, cần quan tâm sử dụng phương pháp tiếp cận nhân học phát triển để phát huy những giá trị văn hóa và nguồn lực nội tại của các nhóm DTTS cho phát triển.

Để chính sách, pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, phải xây dựng theo cách tiếp cận từ dưới lên, tránh việc đưa ra các mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, định mức thiếu thực tế. Mặt khác, cần tránh việc quy định quá chi tiết, cụ thể các nội dung, định mức, cách thức,... trong từng cơ chế, chính sách vĩ mô, vì như vậy sẽ làm mất tính chủ động, sáng tạo, cũng như làm giảm “trách nhiệm” của chính quyền địa phương trong tổ chức thực hiện, từ đó làm giảm hiệu quả các chính sách nói chung và cơ chế, chính sách về dân tộc nói riêng.

Mặt khác, mỗi DTTS đều có nguồn năng lực nội sinh và thế mạnh riêng để tồn tại. Vì vậy, các chính sách cần hướng đến việc phát huy các nguồn năng lực nội sinh đó. Không nên đưa ra các chính sách chỉ hỗ trợ mang tính “cho không” như hiện nay mà phải theo hướng “có điều kiện”, nghĩa là người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo phải có trách nhiệm khi thụ hưởng chính sách của Nhà nước. Đây là vấn đề mà chính sách giảm nghèo chưa tiếp cận đúng trong thời gian qua. Không quy định điều kiện đối với đối tượng thụ hưởng sẽ dẫn đến tình trạng trông chờ, ỷ lại vào chính sách, vì thế không tạo được động lực phát triển.

1.2. Tác động từ các yếu tố xã hội

Để chính sách ban hành đạt hiệu quả, cần phân tích kỹ, đầy đủ các nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự chậm phát triển và tỷ lệ đói nghèo cao. Mặt khác, cần hướng đến việc tạo ra cơ chế, điều kiện để khắc phục các nguyên nhân cơ bản đối với sự chậm phát triển và tỷ lệ đói nghèo cao đó.

Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm phát triển và đói nghèo chính là khả năng hạn chế tiếp cận các dịch vụ công. Trước hết, cơ sở hạ tầng như đường sá, điện nước, cơ sở đào tạo, cơ sở y tế, dịch vụ thông tin,… đều ở mức hạn chế khác nhau. Do đó, chính sách ưu tiên đầu tiên là tập trung xây dựng và cải tạo đường giao thông, các cơ sở đào tạo và y tế trên địa bàn cư trú của cộng đồng các DTTS. Ví dụ, vấn đề tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống được cho là bắt nguồn từ nhiều yếu tố, trong đó có nguyên nhân là trình độ dân trí thấp, địa bàn sinh sống biệt lập, ít cơ hội giao lưu, trao đổi, hội nhập với xã hội bên ngoài; cùng với đó là tập quán kết hôn, định kiến giữa các tộc người phát triển và chậm phát triển; hiểu biết chưa đầy đủ về hậu quả của tảo hôn và kết hôn cận huyết thống,... dẫn đến tình trạng này ở các tộc người sống ở khu vực khó khăn vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt. Do tính phức tạp của tình hình, nên giải pháp để giải quyết tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong DTTS cần phải được tiếp cận một cách kiên trì, lâu dài và toàn diện, trong đó, tạo ra điều kiện và động lực cho các dân tộc thiểu số hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội là giải pháp căn bản cần được lưu ý.

Các cơ sở y tế ở cách xa khu dân cư là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc tiếp cận các dịch vụ khám, chữa bệnh còn khó khăn.

Để giải quyết thực trạng trên, ngoài các biện pháp thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội, tuyên truyền, phổ biến cho người dân về lợi ích trong sử dụng thẻ bảo hiểm y tế,… cần có các chính sách phù hợp nhằm đạt mục tiêu nâng tỷ lệ sử dụng và sử dụng có hiệu quả thẻ bảo hiểm y tế trong đồng bào DTTS, cụ thể như: có mô hình hợp lý đầu tư phát triển y tế(1) (cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực) cho vùng DTTS khó khăn và đặc biệt khó khăn (ưu tiên 2 địa bàn miền núi phía Bắc và Tây Nguyên) thông qua cơ chế đặc thù, ưu tiên phát triển mạnh y tế thôn, bản - trạm y tế xã - phòng khám đa khoa khu vực và bệnh viện huyện khác với mô hình đầu tư y tế ở khu vực đồng bằng.

Nguyên nhân của tình trạng đói nghèo cao, còn do trình độ và kỹ năng lao động của nguồn nhân lực là người thiểu số quá thấp. Tình trạng mù chữ ở người trưởng thành đang là thách thức lớn với các DTTS. Lực lượng lao động đã qua đào tạo có tỷ lệ rất thấp và có sự phân hóa cao giữa các DTTS khác nhau. Trung bình chỉ có 6,2% tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo, bằng 1/3 so với tỷ lệ trung bình của lực lượng lao động cả nước. Nhóm thấp nhất có tỷ lệ trung bình dưới 2%, trong khi chỉ số này ở nhóm cao nhất đạt tỷ lệ trên 7%. Có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về trình độ học vấn và việc làm do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu vẫn là tư tưởng trọng nam khinh nữ, vấn nạn tảo hôn, các quan niệm cổ hủ, lạc hậu về việc phụ nữ phải làm việc nhà, chăm lo cho gia đình không nên học nhiều. Ngoài ra, nhiều phụ nữ DTTS phải đảm đương các hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp, không có điều kiện đi học.

Trình độ dân trí của các DTTS nhìn chung còn thấp so với mức trung bình của cả nước đã có những tác động không nhỏ vào quá trình xây dựng chính sách và văn bản pháp luật phát triển đối với DTTS. Để các chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống thì bên cạnh các chính sách chung cần phải có các chính sách phục vụ cho việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật phù hợp với trình độ dân trí của cộng đồng các DTTS. Trong đó, cần phải quan tâm phát huy vai trò của các già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng đồng. Công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách, chế độ của Nhà nước đối với cộng đồng các DTTS cần phải có cách tiếp cận riêng với từng nhóm cộng đồng dân tộc do họ có trình độ dân trí khác nhau.

Số liệu điều tra gần đây cho thấy, mọi chỉ tiêu phát triển xã hội của các DTTS đều đang ở mức thấp, vì vậy, xây dựng chính sách và văn bản pháp luật cho phát triển các DTTS cần phải có tính hệ thống, đồng bộ. Trước hết là đồng bộ giữa mục tiêu đề ra với giải pháp và nguồn lực thực hiện. Hiện nay, các chính sách thường rơi vào tình trạng mục tiêu đề ra quá lớn, trong khi các nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực cho dù có được đáp ứng như quy định trong chính sách cũng không thể đạt được mục tiêu đề ra. Việc thiết kế chính sách dân tộc theo ngành, lĩnh vực còn độc lập, thiếu sự gắn kết các chính sách trong một ngành (giáo dục, y tế…) và giữa các ngành khác nhau, tạo ra sự phân tán. Điều này dẫn đến chồng chéo trong các chính sách, không thể thực hiện việc điều phối chung để đạt được hiệu quả một cách toàn diện và tổng thể. Tính đồng bộ của các chính sách phải được xây dựng trong tổng thể chung, dựa vào căn cứ thực tiễn của mỗi vùng, địa phương và của từng tộc người để phối kết hợp các mục tiêu. Ví dụ, nguyên nhân chung của các chỉ tiêu xã hội thấp như giáo dục, đào tạo, kinh tế, thông tin... là do cơ sở hạ tầng kỹ thuật thấp kém, do đó, nếu hoạch định chính sách riêng biệt và điều hành việc thực hiện các chính sách riêng biệt như chính sách phát triển giáo dục, y tế,… đều có mục tiêu về xây dựng cơ sở hạ tầng. Nếu điều phối riêng biệt đương nhiên dẫn đến sự chồng chéo, manh mún, lãng phí.

2. Tác động của các yếu tố văn hóa      

2.1. Tác động của yếu tố phong tục, tập quán, luật tục

Các đặc điểm xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán cũng như các yếu tố đặc điểm tự nhiên, lịch sử và kinh tế từng vùng, từng dân tộc có tác động lớn trong việc xây dựng chính sách dân tộc. Để các chính sách có thể đi vào đời sống thực tế thì việc xây dựng chính sách dân tộc và các chương trình dự án phát triển vùng DTTS cần phải được xem xét, tính tới các yếu tố, đặc điểm văn hóa như một điều kiện để bảo đảm cho tính phù hợp của chính sách.

Phong tục, tập quán là một bộ phận quan trọng của hệ thống văn hóa, phản ánh “nhãn quan” của một cộng đồng dân tộc về thế giới vũ trụ bao gồm vật chất tự nhiên, môi trường sống xung quanh và những quy tắc ứng xử tương ứng của cộng đồng. Trong lịch sử sinh tồn, để có thể tồn tại và phát triển, các dân tộc, các cộng đồng người phải vượt qua sự cản trở của các thế lực tự nhiên và xã hội để thích ứng, biến đổi, hòa nhập. Các ứng xử đó lặp đi, lặp lại nhiều lần tạo thành nếp sống, nếp nghĩ, biểu hiện rõ nét ở các phong tục, tập quán. Chính các phong tục, tập quán lâu đời này đã tạo nên truyền thống văn hóa, nét đặc thù, điểm khác biệt, hình thành bản sắc của cộng đồng, dân tộc.

Phong tục, tập quán, văn hóa được hình thành trên nền tảng tâm lý xã hội của một cộng đồng, ý thức hệ của một dân tộc. Văn hóa tạo nên sự gắn kết giữa các cá nhân và cộng đồng xã hội trong tính thống nhất và phổ biến. Từ nhận thức chung về thế giới quan và chịu ràng buộc bởi các quy định của luật tục, phong tục, tập quán đã ảnh hưởng sâu sắc đến suy nghĩ, hành vi của mỗi con người, quy định lại những suy nghĩ, hành vi của họ. Từ đó, tạo nên tâm lý xã hội cộng đồng và chuyển hóa cao hơn thành ý thức hệ của một dân tộc, thành thượng tầng kiến trúc của dân tộc, đó là tư tưởng.

Trong một cộng đồng xã hội mà cấp độ và quy mô hẹp như ở các vùng DTTS miền núi nước ta, với nhiều yếu tố biệt lập thì tính liên kết nội tại và sự khác biệt với cái chung của xã hội càng lớn. Vì vậy, mỗi chính sách can thiệp phải phù hợp với thực tiễn đời sống và tình cảm, tâm lý người dân và cộng đồng, định hướng và chuyển hóa từng bước những yếu tố văn hóa đó trong từng bối cảnh cụ thể. Tính phù hợp thể hiện ở việc phát huy được những tinh hoa văn hóa truyền thống, vượt qua được rào cản của các hủ tục, hướng đến cuộc sống mới văn minh, hiện đại, phát triển nhưng vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa của dân tộc mình.

Trong thực tế, mỗi DTTS đều có phong tục, tập quán, nếp nghĩ, luật tục riêng biệt, do đó việc xây dựng chính sách, pháp luật để phát triển các DTTS có thể thực hiện bằng hai phương thức sau:

Thứ nhất, ban hành một đạo luật riêng với tên gọi phù hợp nhằm điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến DTTS, tạo hành lang pháp lý cho phát triển các dân tộc, vùng DTTS. Quan tâm đến các đặc thù về phong tục, tập quán, cách suy nghĩ và tư tưởng của các DTTS để xây dựng luật cho phù hợp.

Thứ hai, không ban hành luật riêng mà tiến hành rà soát lại tất các  luật hiện hành có liên quan để bổ sung, chỉnh sửa các nội dung còn thiếu, chưa phù hợp với vấn đề phát triển các DTTS và vùng DTTS. Cách làm này đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ phong tục, tập quán, luật tục liên quan đến từng luật chuyên ngành để có sự bổ sung, sửa đổi phù hợp.

2.2. Sự thay đổi và tiếp biến văn hóa

Hiện nay, Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ cùng những biến động về môi trường, dịch bệnh đã tạo ra sự thay đổi hết sức quan trọng trong đời sống của các quốc gia, trong đó có các DTTS. Quá trình toàn cầu hóa làm thay đổi quan niệm, ý thức của người dân. Nguy cơ bị mai một các giá trị văn hóa quan trọng trong bản sắc văn hóa và di sản văn hóa có thể diễn ra. Đồng thời, quá trình chuyển dịch dân cư, cư trú đan xen ngày càng trở nên phổ biến làm hình thành các cộng đồng dân cư hỗn hợp nhiều dân tộc. Những biến đổi về môi trường và dịch bệnh cũng dẫn đến những phương thức sống và quan hệ xã hội mới. Thực tế này dẫn đến quá trình hòa trộn, đan xen giữa các xu hướng trong giao thoa văn hóa, tiếp biến văn hóa, điều chỉnh và bảo lưu văn hóa giữa các tộc người. Bởi vì, một cộng đồng có số dân đông hơn và kinh tế phát triển hơn sẽ chiếm ưu thế trội, ảnh hưởng đến văn hóa các cộng đồng còn lại. Sự hòa trộn đó tạo nên một bức tranh đa sắc màu. Chính sách dân tộc phải được xử lý làm sao để không làm mất đi những yếu tố chủ đạo đó là tính “thống nhất trong đa dạng”, được quy định bởi mối quan hệ giữa các dân tộc dựa trên nguyên tắc bình đẳng.

Bên cạnh đó, chính sách dân tộc phải củng cố được ý thức tự tin và tự tôn dân tộc, mong muốn được bảo tồn, phát huy, lan tỏa các giá trị văn hóa của dân tộc mình. Vì vậy, chính sách phát triển các DTTS cần phải tạo điều kiện phát triển đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa nói chung và các di sản văn hóa tạo nên bản sắc của các DTTS nói riêng.

3. Phát huy tính tích cực của các yếu tố tác động trong xây dựng chính sách, pháp luật phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Nhằm xây dựng các chính sách, pháp luật cho sự phát triển các vùng DTTS một cách hiệu quả, đi vào cuộc sống, cần thưc hiện một số giải pháp sau:

Một là, từng bước khắc phục khoảng cách chênh lệch, sự phát triển không đồng đều giữa các DTTS với nhau và giữa các DTTS với mức phát triển chung của cả nước.

Hai là, mục tiêu trọng tâm của chính sách, pháp luật nhằm giải quyết các nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến hiện trạng chậm phát triển của các DTTS là tình trạng cơ sở hạ tầng thấp kém, sự thiếu tính hệ thống, đồng bộ trong các chính sách tác động lên mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các DTTS để đảm bảo sự phát triển toàn diện và tiết kiệm nguồn lực.

Ba là, chính sách phải phù hợp một cách tương đối với điều kiện, hoàn cảnh, môi trường sống của cộng đồng các DTTS, cái gốc để sản sinh và nuôi dưỡng văn hóa truyền thống.

Bốn là, chính sách phải phù hợp với trình độ dân trí, nhận thức của người dân, đặc biệt phải gắn với những nét văn hóa của một cộng đồng và được quy định bởi yếu tố nền tảng là mặt bằng trình độ phát triển, nhất là về giáo dục và kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật hiện có cũng như quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa đang diễn ra.

Năm là, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp để giữ gìn bản sắc dân tộc, không tạo nên những xung đột văn hóa, tâm lý xã hội. Mặt khác, cương quyết loại trừ những tập tục lạc hậu, không phù hợp trong đời sống, cản trở sự phát triển và quá trình tiếp nhận những yếu tố văn minh của văn hóa mới.

Sáu là, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng dân tộc, tôn trọng tính đa dạng văn hóa, khắc phục tâm lý tự ti, tư tưởng định kiến dân tộc từ quá trình giao lưu văn hóa. Giải quyết một cách hài hoà mối quan hệ giữa con người với văn hóa, đề cao chủ thể văn hóa các dân tộc, đẩy mạnh việc khai thác và sử dụng tri thức địa phương trong các hoạt động phát triển. Xử lý hài hoà các nhu cầu và lợi ích, giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, giữa kinh tế và văn hoá trong sự biến đổi kinh tế - văn hoá, quan hệ dân tộc đang là nhu cầu cấp thiết, đòi hỏi khả năng giải quyết tình hình thực tiễn nhạy bén, linh hoạt đang là thách thức đối với các cấp, các ngành, địa phương vùng DTTS nước ta hiện nay.

Đồng thời, phải có cơ chế, chính sách nhằm tận dụng vai trò gắn kết và dẫn dắt cộng đồng của các già làng, trưởng bản đối với các vùng DTTS trong phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương./.

-----------------------------
Ghi chú:

(1) Để trực tiếp chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người DTTS, Nhà nước đã có chính sách cho y tế thôn, bản (Quyết định số 75/2009/QĐ-TTg và Thông tư số 07/2013/TT-BYT) được xem như một hướng tiếp cận phù hợp, nhất là chính sách đối với cô đỡ thôn, bản. Tuy nhiên, còn nhiều khó khăn về chế độ đãi ngộ thấp; nhân sự thay đổi; trình độ, đào tạo bất cập và khó khăn cả về phạm vi của chính sách.

Tài liệu tham khảo:

1. Đặng Văn Bài, Báo cáo chuyên đề “Góp phần xây dựng cơ chế chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam” (trong Đề tài khoa học: Cơ chế chính sách bảo vệ và phát huy di sản văn hóa ở Việt Nam), H.2003.

2. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG-ST, H.2002.

3. Hoàng Chí Bảo (chủ biên), Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb CTQG, H.2009.

4. Trần Văn Bính (chủ biên), Văn hóa các dân tộc Tây Bắc - Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb CTQG, H.2004.

5. Nguyễn Mạnh Cường, Văn hóa tín ngưỡng của một số dân tộc trên đất nước Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, H.2008.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG-ST, H.2016.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Nxb CTQG-ST,H.2016.

8. Bùi Xuân Đính, Các tộc người ở Việt Nam, Nxb Thời đại, H.2012.

9. Phan Hữu Dật, Ngô Đức Thịnh, Lê Ngọc Thắng, Nguyễn Xuân Độ (Ban chủ nhiệm đề tài) (1998), Sắc thái văn hóa địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước, Chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-06 “Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội”, Nxb Khoa học xã hội.

10. Đỗ Thanh Hà, Bảo tồn và phát huy văn hoá các dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 8/2004, tr.49 - 52.

11. Trần Thị Bích Hằng, Nguyễn Đình Tấn, (2010), Nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng các dân tộc thiểu số đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp, Nxb CTQG, H.2010.

12. Đặng Thị Hoa (chủ biên), Quản lý xã hội vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong phát triển bền vững, Nxb Khoa học xã hội, 2014.

13. Hoàng Hữu Bình, Phan Văn Hùng (đồng chủ biên), Một số vấn đề về đổi mới xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc, Nxb Chính trị - Hành chính, H.2013.

14. Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ dân tộc ở các quốc gia đa tộc người, Nxb Lý luận chính trị, 2006.

15. Lưu Văn Sùng, Một số điểm nóng chính trị - xã hội điển hình tại các vùng đa dân tộc ở miền núi trong những năm gần đây, hiện trạng, vấn đề các bài học kinh nghiệm trong xử lý tình huống, Nxb CTQG, H.2010.

16. Vương Xuân Tình, Văn hóa với phát triển bền vững ở vùng biên giới Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 2014.

17. Hoàng Đức Thịnh, Tìm hiểu luật tục các dân tộc ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 2003.

18. Tổng cục thống kê, Điều tra di cư Việt Nam: những kết quả chủ yếu, Nxb Thống kê, 2015.

19. Tiểu Dự án Hỗ trợ Giảm nghèo PRPP - Ủy ban Dân tộc, Tổng quan thực trạng kinh tế -xã hội của 53 dân tộc thiểu số: Dựa trên kết quả phân tích số liệu điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015, Lưu hành nội bộ, H.2017.

20. Ủy ban Dân tộc, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Thực trạng chính sách dân tộc, định hướng xây dựng chính sách giai đoạn 2021-2030" do Ủy ban Dân tộc phối hợp với Đại sứ quán Ireland tổ chức ngày 03/01/2019 tại Hà Nội.

TS Nguyễn Thị Vân Hà - Học viện Hành chính Quốc gia

ThS Trần Thị Cẩm Tú - Học viện CTQG Hồ Chí Minh, khu vực IV

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Nâng cao đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức

Ngày đăng 07/08/2020
Trong việc thực hiện đạo đức công vụ hiện nay, đa số cán bộ, công chức có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng. Song vẫn còn một bộ phận không nhỏ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy, cần có giải pháp phù hợp, hiệu quả để nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức.

Công tác nhân sự Đại hội XIII liên quan đến vận mệnh của Đảng và tiền đồ phát triển của đất nước

Ngày đăng 05/08/2020
Công tác cán bộ nói chung, công tác nhân sự trước mỗi kỳ Đại hội Đảng nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng, liên quan đến sự thành công của đại hội Đảng và công tác lãnh đạo của Đảng; liên quan đến sự sống còn của Đảng, sự phát triển bền vững của Đảng, và đất nước.

Phát triển nguồn nhân lực số đáp ứng yêu cầu của kinh tế số

Ngày đăng 03/08/2020
Cách mạng công nghiệp 4.0 đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ dựa vào tài nguyên là chính sang nền kinh tế dựa trên tài nguyên tri thức với trụ cột là internet và kỹ thuật số. Nền kinh tế số ra đời thay thế nền kinh tế truyền thống. Vì vậy, cần phải có sự thay đổi về cơ cấu lao động mà theo đó nguồn nhân lực số phải được chú trọng phát triển. Bài viết làm rõ khái niệm, nội hàm và đặc trưng của nguồn nhân lực số; đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam.

Quản lý nhà nước về phát triển kinh tế số ở Việt Nam trong những năm tới

Ngày đăng 29/07/2020
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được hình thành trên nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba. Có thể nói rằng, đây là sự kế thừa và phát triển tri thức của nhân loại; là sự hợp nhất của các loại công nghệ và đã làm mờ đi ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học với trung tâm là sự phát phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), Robotics, Internet kết nối vạn vật (IoT), điện toán đám mây, khoa học vật liệu, sinh học, công nghệ di động không dây, công nghệ nano, tự động hoá công nghệ in 3 chiều (3D), khoa học mang tính liên ngành phức hợp, sâu rộng với nền tảng đột phá của công nghệ số, đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế tri thức, của xã hội tri thức. Cuộc cách mạng 4.0 đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra nhiều cơ hội để tăng năng suất lao động của các sản phẩm và dich vụ mới cho phép con người và xã hội có cuộc sống tốt đẹp, văn minh, hiện đại.

Quy định hiện hành về sở hữu tài liệu lưu trữ ở Việt Nam 

Ngày đăng 24/07/2020
Việc quy định về sở hữu tài liệu lưu trữ cũng như các chính sách quản lý của Nhà nước đối với tất cả các đối tượng sở hữu có ý nghĩa quan trọng, cho phép thực thi quyền sở hữu và quản lý tài liệu lưu trữ một cách hiệu quả và phát huy tối đa những giá trị của tài liệu lưu trữ. Bài viết đề cập đến thực trạng các quy định về sở hữu tài liệu lưu trữ và đưa ra một số khuyến nghị góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu tài liệu lưu trữ ở Việt Nam.

Tiêu điểm

Thủ tướng: Cuộc chiến chống COVID-19 đã bắt đầu thời kỳ cao điểm

Phát biểu kết luận cuộc họp Thường trực Chính phủ về COVID-19 vào sáng ngày 07/8/2020, Thủ tướng nêu rõ, phải bảo đảm đủ thiết bị, vật tư y tế cho các địa phương có dịch, không để thiếu sinh phẩm, vật tư y tế, làm nhanh nhưng không để xảy ra tham nhũng. Không lấy lý do vì cơ chế mà để chậm, “không được nói là vì tôi thiếu tiền, thiếu tiền thì phải xuất ngân sách dự phòng hoặc báo cáo gấp Trung ương để xử lý vấn đề này”.