Hà Nội, Ngày 09/08/2020

Quy định hiện hành về sở hữu tài liệu lưu trữ ở Việt Nam 

Ngày đăng: 24/07/2020   02:33
Mặc định Cỡ chữ
Việc quy định về sở hữu tài liệu lưu trữ cũng như các chính sách quản lý của Nhà nước đối với tất cả các đối tượng sở hữu có ý nghĩa quan trọng, cho phép thực thi quyền sở hữu và quản lý tài liệu lưu trữ một cách hiệu quả và phát huy tối đa những giá trị của tài liệu lưu trữ. Bài viết đề cập đến thực trạng các quy định về sở hữu tài liệu lưu trữ và đưa ra một số khuyến nghị góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu tài liệu lưu trữ ở Việt Nam.
 

1. Các quy định pháp luật về sở hữu tài liệu lưu trữ ở Việt Nam hiện nay

Để phát huy và khai thác một cách tốt nhất giá trị của tài liệu lưu trữ trong điều kiện kinh tế thị trường, ngoài việc thừa nhận chế độ đa sở hữu đối với tài liệu lưu trữ, cần phải sử dụng nhiều công cụ, phương tiện mà một trong các công cụ tốt nhất là pháp luật nhằm cụ thể hóa vấn đề sở hữu tài liệu lưu trữ trong cuộc sống.

Hiện nay tại Việt Nam, các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực quy định về lĩnh vực lưu trữ rất đồ sộ. Trong đó, Luật Lưu trữ năm 2011 là văn bản quy phạm pháp luật cao nhất điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực lưu trữ. Vấn đề sở hữu tài liệu lưu trữ bước đầu đã được điều chỉnh tại hệ thống văn bản này. Quyền sở hữu là quyền hiến định, được quy định tại Hiến pháp năm 2013, theo đó: “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác”(1).

Tại Điều 4 Luật Lưu trữ năm 2011 về chính sách của Nhà nước đối với hoạt động lưu trữ ghi rõ: “Thừa nhận quyền sở hữu đối với tài liệu lưu trữ”(2) của các chủ thể trong xã hội. Việc Luật Lưu trữ “thừa nhận” quyền sở hữu đối với tài liệu lưu trữ có nghĩa Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của các chủ thể đối với tài liệu lưu trữ và bảo đảm cho chủ sở hữu được thực thi các quyền sở hữu như: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với tài liệu lưu trữ.

Như vậy, quyền sở hữu đối với tài liệu lưu trữ được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ, trên cơ sở đảm bảo cho chủ sở hữu thực hiện các quyền trên tài sản của mình là tài liệu lưu trữ. Tuy nhiên, các quyền này không được Luật Lưu trữ năm 2011 quy định rõ ràng, cụ thể. Khi xảy ra tình huống pháp luật sẽ được áp dụng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 về các vấn đề pháp lý đối với quyền sở hữu tài sản. Trong đó, chủ sở hữu thực hiện các quyền như: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản của mình là tài liệu lưu trữ.

2. Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về sở hữu tài liệu lưu trữ

2.1. Những kết quả đạt được

Luật Lưu trữ năm 2011 được xây dựng trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia năm 2001. Sự ra đời của Luật Lưu trữ năm 2011 đã tạo khung pháp lý cao nhất về hoạt động lưu trữ, là điều kiện cho công tác lưu trữ phát triển, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Luật Lưu trữ năm 2011 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên luật hóa vấn đề sở hữu tài liệu lưu trữ, cụ thể hóa quyền hiến định của công dân. Luật “thừa nhận quyền sở hữu đối với tài liệu lưu trữ” là sự ghi nhận hết sức quan trọng, làm tiền đề, tạo cơ sở pháp lý cho chủ sở hữu trong quá trình tạo lập, quản lý, lưu trữ hoặc tiêu hủy các tài liệu thuộc sở hữu hợp pháp của mình, đồng thời quy định “khuyến khích tổ chức, cá nhân hiến tặng, ký gửi, bán tài liệu lưu trữ của mình cho Nhà nước”(3). Quy định này nhằm giúp Nhà nước thu thập, sưu tầm các tài liệu có giá trị đối với xã hội, với đất nước từ sự đóng góp, “hiến tặng” của các chủ sở hữu tư nhân.

2.2. Những hạn chế, bất cậpLuật Lưu trữ năm 2011 lần đầu tiên quy định việc “thừa nhận quyền sở hữu đối với tài liệu lưu trữ” của các chủ thể trong xã hội, đây là điểm tiến bộ so với Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia; tuy nhiên, những quy định của Luật Lưu trữ và các văn bản hướng dẫn thi hành đang thể hiện những hạn chế, bất cập:  

Thứ nhất, ngoài việc quy định “thừa nhận quyền sở hữu” tại Điều 4 của Luật Lưu trữ năm 2011, thì tất cả quy định trong Luật Lưu trữ và các văn bản hướng dẫn thi hành không đề cập đến vấn đề “sở hữu”. Điều đó có nghĩa là tất cả các vấn đề pháp lý cơ bản về sở hữu tài liệu lưu trữ như: hình thức sở hữu, trách nhiệm và quyền lợi của chủ sở hữu, những chế tài đối với những trường hợp vi phạm… đều chưa được đề cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lưu trữ. Như vậy, việc Luật Lưu trữ “thừa nhận quyền sở hữu đối với tài liệu lưu trữ” chưa đảm bảo cơ sở pháp lý đầy đủ để thực thi vấn đề sở hữu tài liệu lưu trữ ở Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, chưa có quy định về việc thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với tài liệu lưu trữ, các phương thức bảo vệ quyền sở hữu tài liệu lưu trữ của chủ sở hữu và giải quyết tranh chấp trong vấn đề sở hữu tài liệu lưu trữ. Đối với đối tượng tài liệu lưu trữ thuộc sở hữu nhà nước, Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu, có toàn quyền đối với tài liệu. Đối với tài liệu thuộc sở hữu cá nhân, về nguyên tắc, chủ sở hữu cũng có toàn quyền như đối với một loại tài sản. Tuy nhiên, còn một đối tượng tài liệu thuộc sở hữu tập thể như: tài liệu thuộc các tổ chức tư nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội không sử dụng ngân sách nhà nước… thì cần quy định rõ việc phân quyền đối với chủ sở hữu, cũng như vai trò của Nhà nước trong việc quản lý loại tài sản đặt biệt này.

Thứ ba, chưa có  quy định về nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với tài liệu lưu trữ. Tài liệu lưu trữ là một loại tài sản đặc biệt. Sự đặc biệt được tạo nên bởi giá trị thông tin mà chúng chứa đựng. Thông tin trong tài liệu lưu trữ phản ánh các mặt khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có những thông tin mang ý nghĩa quốc gia. Đối với những tài liệu có giá trị như vậy, chủ sở hữu không thể tùy tiện thực hiện các hành vi như đối với một loại tài sản thông thường, bởi vì việc tùy tiện sử dụng các tài liệu lưu trữ có giá trị quan trọng có thể gây phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì vậy, cần có quy định về nghĩa vụ của chủ sở hữu tài liệu lưu trữ nhằm xác định rõ trách nhiệm của chủ sở hữu đối với việc bảo quản, bảo vệ an toàn tài liệu và khai thác, phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ.  

Thứ tư, chưa có quy định về quan hệ giữa chủ sở hữu tài liệu lưu trữ với Nhà nước, quyền quản lý của Nhà nước đối với tài liệu lưu trữ không thuộc sở hữu nhà nước chưa được xác định. Về nguyên tắc, chủ sở hữu có toàn quyền đối với tài liệu lưu trữ của mình hình thành trên cơ sở tạo lập hoặc có được một cách hợp pháp. Tuy nhiên, tài liệu lưu trữ là một loại tài sản đặc biệt, chúng có thể chứa đựng các thông tin đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng sâu rộng. Trong trường hợp tài liệu có giá trị đối với xã hội hoặc quốc gia, thì quan hệ giữa chủ sở hữu và Nhà nước sẽ như thế nào; quyền quản lý của Nhà nước đối với đối tượng tài liệu này đến đâu; Nhà nước can thiệp ra sao trong việc định đoạt tài liệu lưu trữ của chủ sở hữu, cơ chế can thiệp thế nào… thì hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định.

Thứ năm, chưa có quy định cụ thể về cơ chế hoạt động hiến tặng của chủ sở hữu tài liệu lưu trữ cho Nhà nước. Luật Lưu trữ mới chỉ quy định trường hợp cá nhân có quyền “quyết định việc hiến tặng, ký gửi tài liệu cho Lưu trữ lịch sử”(4) và “chỉ được hiến tặng hoặc bán cho Lưu trữ lịch sử các tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia”(5). Chưa có cơ chế nào để khuyến khích các chủ thể trong xã hội hiến tặng các tài liệu lưu trữ có giá trị thuộc sở hữu của mình cho Nhà nước, mà chỉ mới quy định chung chung là “được Nhà nước khen thưởng theo quy định của pháp luật”.

Thứ sáu, Luật Lưu trữ năm 2011 chưa quy định đầy đủ về xử lý vi phạm trong lĩnh vực lưu trữ. Mặc dù Luật Lưu trữ quy định các hành vi vi phạm trong hoạt động lưu trữ như: “1. Chiếm đoạt, làm hỏng, làm mất tài liệu lưu trữ; 2. Làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung tài liệu lưu trữ; 3. Mua bán, chuyển giao, hủy trái phép tài liệu lưu trữ; 4. Sử dụng tài liệu lưu trữ vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; 5. Mang tài liệu lưu trữ ra nước ngoài trái phép”(6), tuy nhiên, vẫn còn thiếu những chế tài cụ thể dẫn chiếu để xử lý vi phạm đối với hành vi vi phạm pháp luật về lưu trữ.  

3. Một số đề xuất hoàn thiện quy định về sở hữu tài liệu lưu trữ

Việc hoàn thiện quy định về sở hữu tài liệu lưu trữ đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung đồng bộ không chỉ các quy định về hình thức sở hữu, trách nhiệm và quyền lợi của chủ sở hữu, chế tài đối với những trường hợp vi phạm, mà còn phải quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc quản lý nguồn tài liệu lưu trữ không phải sở hữu nhà nước. Cụ thể, cần tập trung hoàn thiện các quy định pháp luật trên những lĩnh vực sau:

3.1. Quy định bảo vệ quyền sở hữu tài liệu lưu trữ

Cần sửa đổi, bổ sung đồng bộ các quy định của Luật Lưu trữ năm 2011 về bảo vệ quyền sở hữu tài liệu lưu trữ trên những nội dung cụ thể sau:

Thứ nhất, xác định rõ các hình thức sở hữu tài liệu lưu trữ trong Luật Lưu trữ hiện hành.

Cần căn cứ vào nguồn gốc hình thành tài liệu lưu trữ để phân loại thành tài liệu lưu trữ công và tài liệu lưu trữ tư; cụ thể:

Tài liệu lưu trữ công: là những tài liệu được sinh ra trong quá trình hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan chính quyền địa phương, cơ quan Đảng, của các cơ quan, tổ chức được Nhà nước thành lập hoặc thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước, hoạt động bằng ngân sách nhà nước.

Tài liệu lưu trữ tư: là những tài liệu lưu trữ của các cá nhân, gia đình, dòng họ, công ty, doanh nghiệp, tổ chức xã hội do tư nhân thành lập và quản lý. Việc phân chia các loại hình sở hữu tài liệu lưu trữ như trên tạo thuận lợi cho việc thiết lập các quy định pháp luật về cơ chế quản lý riêng của cơ quan quản lý nhà nước về lưu trữ đối với từng đối tượng sở hữu tài liệu lưu trữ.

Thứ hai, bổ sung các căn cứ xác lập và chấm dứt quyền sở hữu đối với tài liệu lưu trữ.

Về nguyên tắc, quyền sở hữu đối với tài liệu lưu trữ có thể được xác lập trên các căn cứ: do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp; được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác; chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với tài liệu vô chủ, tài liệu không xác định được chủ sở hữu… Vì vậy, pháp luật về lưu trữ phải quy định các trường hợp làm căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài liệu lưu trữ.

Các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu đối với tài liệu lưu trữ trong trường hợp sau đây: chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật; chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình bằng cách tuyên bố công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài liệu đó; tài liệu lưu trữ đã bị tiêu hủy; tài liệu lưu trữ bị trưng mua hoặc bị tịch thu; tài liệu đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác theo quy định của pháp luật…

Thứ ba, xây dựng cơ chế, biện pháp bảo vệ quyền sở hữu tài liệu lưu trữ.

Về nguyên tắc, không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu đối với tài liệu lưu trữ; trừ trường hợp Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường cho các chủ sở hữu theo giá thị trường vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp.

Vì vậy, với tính chất của luật chuyên ngành, cần thiết phải ghi nhận và quy định các cơ chế, biện pháp bảo vệ quyền sở hữu tài liệu lưu trữ theo hướng:

Một là, biện pháp tự bảo vệ: chủ sở hữu của tài liệu lưu trữ có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.

Hai là, biện pháp yêu cầu cơ quan nhà nước: chủ sở hữu của tài liệu lưu trữ có quyền yêu cầu tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài liệu lưu trữ, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu tài liệu lưu trữ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Thứ tư, bổ sung các chế tài xử lý đối với hành vi xâm hại đến quyền sở hữu tài liệu lưu trữ.

Về bản chất, hành vi xâm hại đến quyền sở hữu tài liệu lưu trữ là hành vi xâm hại đến quyền sở hữu tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu. Vì vậy, các quy định của Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự sẽ được áp dụng các chế tài cho hành vi xâm hại đến quyền sở hữu tài sản. Do đó, pháp luật về lưu trữ phải có quy định cụ thể để nhận diện các hành vi vi phạm quyền sở hữu tài liệu lưu trữ, đồng thời dẫn chiếu đến các quy định về các chế tài của Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự để áp dụng.

Ngoài ra, cần nghiên cứu xây dựng một nghị định của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực lưu trữ tài liệu. Đây là yêu cầu của quá trình thực thi pháp luật trong thực tiễn, giúp các chủ thể tham gia hoạt động lưu trữ thực thi một cách nghiêm túc và hiệu quả các quy định pháp luật, đồng thời xác định các hành vi vi phạm hành chính, chế tài áp dụng cho những hành vi đó.

3.2. Quy định về trách nhiệm của chủ thể sở hữu

Về nguyên tắc, quyền sở hữu tài liệu lưu trữ là quyền được ghi nhận trong Hiến pháp, vì thế Nhà nước không thể bắt buộc các chủ thể phải nộp tài liệu vào các lưu trữ của Nhà nước. Đặc trưng cơ bản trong quan hệ sở hữu tài liệu lưu trữ là các chủ thể khi thực hiện, bảo vệ các quyền sở hữu của mình được tự do thể hiện ý chí, thỏa thuận, định đoạt và tự chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình. Tuy nhiên, để bảo quản, bảo vệ an toàn tài liệu cũng như phát huy tối đa giá trị cần có những quy định cụ thể về trách nhiệm của các chủ sở hữu đối với những tài liệu không thuộc sở hữu nhà nước.

Thứ nhất, xây dựng những quy định, quy chế quản lý riêng đối với tài liệu lưu trữ không thuộc sở hữu Nhà nước.

Theo đó, cần làm rõ các nội dung của quyền sở hữu tài liệu lưu trữ khu vực tư nhân, xác định rõ vai trò của Nhà nước trong việc quản lý, tránh thất lạc, mất mát tài liệu có giá trị, là di sản văn hóa của dân tộc.

Thứ hai, quy định cụ thể chính sách khuyến khích chủ sở hữu tài liệu lưu trữ tư chuyển giao tài liệu lưu trữ có giá trị cho các cơ quan lưu trữ của Nhà nước với các hình thức thu thập tài liệu như:

- Hiến tặng: là hình thức các chủ sở hữu tự nguyện chuyển nhượng quyền sở hữu tài liệu lưu trữ cho cơ quan lưu trữ nhà nước mà không lấy tiền bản quyền. Việc hiến tặng phải thông qua hình thức thỏa thuận trên cơ sở hợp đồng giữa bên hiến tặng và cơ quan lưu trữ nhà nước. Nhà nước cần có  chính sách để khuyến khích các chủ sở hữu hiến tặng tài liệu lưu trữ có giá trị.

- Ký gửi: là hình thức chủ sở hữu tài liệu lưu trữ mang tài liệu của mình đến gửi tại các cơ quan lưu trữ nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định và phải trả chi phí cho việc quản lý và bảo quản tài liệu lưu trữ đó. Cơ quan lưu trữ nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm an toàn và bí mật cho tài liệu.

Ngoài ra, cần có cơ chế khen thưởng đối với các chủ sở hữu tư nhân có thành tích trong việc bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia, hiến tặng cho cơ quan lưu trữ  nhà nước những tài liệu có giá trị.

Thứ ba, xây dựng quy định về việc chuyển nhượng (mua, bán) các tài liệu lưu trữ có giá trị lịch sử, di sản văn hóa dân tộc.

Chủ sở hữu có ý định chuyển nhượng tài liệu lưu trữ có giá trị lịch sử, di sản văn hóa dân tộc phải báo cáo cho cơ quan lưu trữ nhà nước có thẩm quyền để xin phép. Trong trường hợp này, cơ quan lưu trữ nhà nước phải có quyền ưu tiên được mua từ chủ sở hữu. Đây là biện pháp để bảo đảm các tài liệu lưu trữ có giá trị quan trọng không được các chủ sở hữu tự do mua bán và chuyển ra nước ngoài.

3.3. Quy định về công tác quản lý nhà nước đối với tài liệu lưu trữ không thuộc sở hữu nhà nước

Hoạt động quản lý nhà nước đối với tài liệu lưu trữ có vai trò quan trọng trong thực tiễn, bởi tài liệu lưu trữ là một loại tài sản đặt biệt. Đối với những tài liệu có chứa đựng thông tin có giá trị, ý nghĩa đối với quốc gia, dân tộc, Nhà nước cần có trách nhiệm quản lý để việc khai thác, sử dụng phát huy tối đa tiềm năng cũng như không gây ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Vì vậy, ngoài việc pháp luật bảo đảm quyền sở hữu đối với tài liệu lưu trữ tư nhân, cần quy định cơ chế pháp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, giám sát đối với các tài liệu lưu trữ có giá trị. Cần thiết phải quy định quyền được thống kê, xếp loại các tài liệu lưu trữ có giá trị của cơ quan quản lý nhà nước về lưu trữ, nhằm bảo vệ các tài liệu lưu trữ có giá trị lịch sử, là di sản văn hóa dân tộc. Việc cơ quan lưu trữ nhà nước thực hiện thống kê, xếp loại tài liệu lưu trữ và thực hiện quyền quản lý nhà nước không đồng nghĩa với việc chuyển quyền sở hữu tài liệu lưu trữ từ sở hữu tư nhân sang sở hữu nhà nước, mà chỉ nhằm đảm bảo thực hiện việc quản lý, tránh tình trạng thất lạc, mất mát tài liệu cũng như tránh gây tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Hiện nay, các quy định về sở hữu tài liệu lưu trữ trong pháp luật lưu trữ Việt Nam mới chỉ bước đầu đề cập đến vấn đề sở hữu tài liệu lưu trữ mà chưa có các quy định cụ thể, chi tiết để thực thi pháp luật trong vấn đề sở hữu tài liệu lưu trữ. Để bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của các chủ sở hữu tài liệu lưu trữ cũng như phát huy tối đa giá trị của tài liệu lưu trữ mà không làm ảnh hưởng đến lợi ích của các cá nhân, tổ chức, của quốc gia, dân tộc, trong quá trình sửa đổi Luật Lưu trữ thời gian tới cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các nội dung về sở hữu tài liệu lưu trữ cũng như ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định về sở hữu tài liệu lưu trữ./.

----------------------------------

Ghi chú:

(1) Điều 32, Hiến pháp năm 2013.

(2) Điều 4, Luật Lưu trữ năm 2011.

(3) Khoản 3, Điều 4, Luật Lưu trữ năm 2011.

(4) Điểm b, khoản 3, Điều 5, Luật Lưu trữ năm 2011.

(5) Điểm a, khoản 4, Điều 5, Luật Lưu trữ năm 2011.

(6) Điều 8, Luật Lưu trữ năm 2011.

TS Đoàn Thị Hòa - Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Nâng cao đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức

Ngày đăng 07/08/2020
Trong việc thực hiện đạo đức công vụ hiện nay, đa số cán bộ, công chức có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng. Song vẫn còn một bộ phận không nhỏ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy, cần có giải pháp phù hợp, hiệu quả để nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức.

Công tác nhân sự Đại hội XIII liên quan đến vận mệnh của Đảng và tiền đồ phát triển của đất nước

Ngày đăng 05/08/2020
Công tác cán bộ nói chung, công tác nhân sự trước mỗi kỳ Đại hội Đảng nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng, liên quan đến sự thành công của đại hội Đảng và công tác lãnh đạo của Đảng; liên quan đến sự sống còn của Đảng, sự phát triển bền vững của Đảng, và đất nước.

Phát triển nguồn nhân lực số đáp ứng yêu cầu của kinh tế số

Ngày đăng 03/08/2020
Cách mạng công nghiệp 4.0 đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ dựa vào tài nguyên là chính sang nền kinh tế dựa trên tài nguyên tri thức với trụ cột là internet và kỹ thuật số. Nền kinh tế số ra đời thay thế nền kinh tế truyền thống. Vì vậy, cần phải có sự thay đổi về cơ cấu lao động mà theo đó nguồn nhân lực số phải được chú trọng phát triển. Bài viết làm rõ khái niệm, nội hàm và đặc trưng của nguồn nhân lực số; đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam.

Quản lý nhà nước về phát triển kinh tế số ở Việt Nam trong những năm tới

Ngày đăng 29/07/2020
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được hình thành trên nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba. Có thể nói rằng, đây là sự kế thừa và phát triển tri thức của nhân loại; là sự hợp nhất của các loại công nghệ và đã làm mờ đi ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học với trung tâm là sự phát phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), Robotics, Internet kết nối vạn vật (IoT), điện toán đám mây, khoa học vật liệu, sinh học, công nghệ di động không dây, công nghệ nano, tự động hoá công nghệ in 3 chiều (3D), khoa học mang tính liên ngành phức hợp, sâu rộng với nền tảng đột phá của công nghệ số, đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế tri thức, của xã hội tri thức. Cuộc cách mạng 4.0 đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra nhiều cơ hội để tăng năng suất lao động của các sản phẩm và dich vụ mới cho phép con người và xã hội có cuộc sống tốt đẹp, văn minh, hiện đại.

Các yếu tố tác động đến xây dựng chính sách, pháp luật phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Ngày đăng 24/07/2020
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, có 54 tộc người anh em sinh sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với gần 14 triệu người (chiếm khoảng 14,3% dân số cả nước(1). Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các dân tộc thiểu số Việt Nam đã tích lũy được một kho tàng văn hóa dân tộc hết sức độc đáo và đa dạng. Các tín ngưỡng, phong tục tập quán, truyền thống lâu đời đã tạo cho mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng biệt, góp phần quan trọng làm đa dạng và phong phú văn hóa Việt Nam. Việc xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật phù hợp để thúc đẩy phát triển các vùng dân tộc thiểu số cần phải dựa trên cơ sở nghiên cứu một cách thấu đáo, toàn diện những tác động của các đặc điểm văn hoá, xã hội của các dân tộc thiểu số.

Tiêu điểm

Thủ tướng: Cuộc chiến chống COVID-19 đã bắt đầu thời kỳ cao điểm

Phát biểu kết luận cuộc họp Thường trực Chính phủ về COVID-19 vào sáng ngày 07/8/2020, Thủ tướng nêu rõ, phải bảo đảm đủ thiết bị, vật tư y tế cho các địa phương có dịch, không để thiếu sinh phẩm, vật tư y tế, làm nhanh nhưng không để xảy ra tham nhũng. Không lấy lý do vì cơ chế mà để chậm, “không được nói là vì tôi thiếu tiền, thiếu tiền thì phải xuất ngân sách dự phòng hoặc báo cáo gấp Trung ương để xử lý vấn đề này”.