Hà Nội, Ngày 09/07/2020

Tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước để thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân giai đoạn 2021-2030 ở Việt Nam

Ngày đăng: 03/06/2020   04:17
Mặc định Cỡ chữ
Việt Nam đang xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030, trong đó có nội dung thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng khu vực kinh tế tư nhân. Đây là thời điểm có ý nghĩa quyết định để chúng ta chủ động nâng cao vị thế trên trường quốc tế, đồng thời rút ngắn thời gian trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao. Sự tăng trưởng và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân không thể thiếu vai trò đặc biệt quan trọng của Chính phủ thông qua việc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với khu vực này.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc (ĐBTQ) lần thứ XII của Đảng đã khẳng định: kinh tế tư nhân (KTTN) là “một động lực quan trọng của nền kinh tế”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ năm, khóa XII tiếp tục khẳng định: phải phát triển mạnh khu vực KTTN cả về số lượng và chất lượng, để thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Theo quan điểm chỉ đạo của Đảng về phát triển KTTN và định hướng Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn 2021-2030, cần phải nhấn mạnh và làm rõ, việc xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và KTTN là một động lực quan trọng trong nền kinh tế không hàm ý phân biệt đối xử, mà với ý nghĩa là tuỳ thuộc vào chức năng của mỗi thành phần kinh tế để xác định vai trò của chúng. Nhà nước với các nguồn lực, công cụ, chính sách đóng vai trò chủ đạo trong việc định hướng và điều tiết nền kinh tế, bảo đảm các cân đối lớn cho nền kinh tế, kiểm soát các nguồn tài nguyên chiến lược, phát triển kết cấu hạ tầng và dịch vụ công có vốn đầu tư lớn, luân chuyển chậm, lợi nhuận không cao, rất cần thiết cho nền kinh tế - xã hội mà khu vực tư nhân không sẵn sàng đảm nhận, các lĩnh vực quốc phòng - an ninh, một số hoạt động đầu tư mạo hiểm… 

1. Thực trạng và môi trường chính sách phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong 35 năm đổi mới 

Nhìn lại chặng đường 35 năm đổi mới (1986-2020), từ tâm lý thụ động, trông chờ vào Nhà nước và tập thể, các tầng lớp nhân dân đã chuyển sang ý thức chủ động và tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội; qua đó tạo điều kiện giúp khu vực KTTN ở Việt Nam từng bước phát triển cả về lượng và chất. Từ chỗ chỉ có các hộ kinh doanh cá thể, chủ yếu hoạt động trong khu vực phi chính thức, nước ta đã có những tập đoàn kinh tế lớn; KTTN đã chuyển đổi mạnh mẽ sang hoạt động trong khu vực chính thức của nền kinh tế, phạm vi kinh doanh đã rộng khắp ở những ngành mà pháp luật không cấm. Đặc biệt, trong những năm qua một làn sóng khởi nghiệp đã và đang diễn ra, đem lại sức sống mới cho nền kinh tế. Có thể thấy, khu vực KTTN đang đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong nền KTTT định hướng XHCN, góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Tỷ trọng của các doanh nghiệp siêu nhỏ đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Do quy mô vốn nhỏ, năng lực tài chính hạn chế nên sức cạnh tranh của các DNTN thường thấp hơn các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nhiều DNTN còn kinh doanh theo hình thức ngắn hạn, chưa có tầm nhìn và chiến lược kinh doanh dài hạn; ý thức tự giác chấp hành pháp luật còn hạn chế. Đội ngũ doanh nhân trong các DNTN chưa thực sự lớn mạnh, còn thiếu kinh nghiệm trên thương trường quốc tế và chưa được đào tạo sâu về quản lý sản xuất, kinh doanh. Năng lực công nghiệp của khu vực KTTN trên thực tế là rất nhỏ và yếu, mới chỉ đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ phát triển. Phần lớn sản xuất công nghiệp của các DNTN là gia công lắp ráp, chủ yếu sử dụng máy móc, thiết bị và nguyên liệu nhập khẩu. Các công đoạn sản xuất đưa lại giá trị gia tăng cao như thiết kế, tạo kiểu dáng, marketing... đều được thực hiện bởi đối tác nước ngoài. Sự phân tầng trình độ công nghệ đang diễn ra sâu sắc: công nghệ lạc hậu, trung bình và tiên tiến cùng đan xen tồn tại; công nghệ tiên tiến, hiện đại chỉ tập trung vào một số ít DNTN và ở một số lĩnh vực. Các DNTN có chênh lệch lớn về trình độ công nghệ so với khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI. Do trình độ công nghệ thấp, các DNTN không có khả năng kết nối cũng như tham gia ngành công nghiệp hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn, nhất là không thể tận dụng được hiệu ứng lan tỏa từ các doanh nghiệp FDI đang tăng trưởng nhanh.

Các DNTN phần lớn vẫn hoạt động ở thị trường trong nước(1), rất ít DNTN lớn vươn được ra thị trường nước ngoài. Ngay cả ở thị trường trong nước, dưới sức ép cạnh tranh gay gắt thì các DNTN lớn cũng bắt đầu có xu hướng rút khỏi các ngành sản xuất công nghiệp và trong một số lĩnh vực dịch vụ như phân phối, bán lẻ được ưu tiên và có nhiều tiềm năng của nền kinh tế.

Số lượng DNTN hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp còn rất ít. Trong khi đó, nhiều chính sách “cởi trói” giúp nông nghiệp, nông thôn phát triển trong thời kỳ sau đổi mới đã tới giới hạn. Mô hình kinh tế hộ gia đình truyền thống không còn phù hợp với điều kiện mới; yêu cầu tích tụ, tập trung ruộng đất đang được đặt ra cho việc triển khai những mô hình hiện đại như kinh tế trang trại quy mô lớn. Việc giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp chưa đạt hiệu quả có nguyên nhân chủ yếu là sự phát triển của lực lượng doanh nghiệp ở nông thôn không đủ mạnh nên chưa thúc đẩy chuyển dịch nhanh lao động nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp.

Vì vậy, KTTN chưa phát huy hết được vai trò, tiềm năng là động lực quan trọng của nền kinh tế. Trình độ quản trị, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm, cạnh tranh yếu; khả năng liên kết và tham gia chuỗi giá trị còn nhiều hạn chế; tình trạng gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh… vẫn phổ biến. Những hạn chế đó xuất phát từ một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, môi trường pháp lý đối với khu vực KTTN chưa hoàn thiện, nhiều quy định chưa đầy đủ, rõ ràng, thiếu nhất quán, phức tạp và chồng chéo. Điều kiện thủ tục hành chính, thủ tục tiếp cận đất đai, thị trường tín dụng, cơ hội đầu tư rườm rà, là rào cản cho khu vực KTTN phát triển. Mặt khác, chi phí kinh doanh, chi phí vận tải (logistics, tiền lương, bảo hiểm…) cao; nhiều quy định không theo thông lệ quốc tế nên tạo ra các rào cản không phù hợp đối với sự phát triển của KTTN. 

Thứ hai, chính sách thuế còn nhiều bất cập và có sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước và DNTN. Một số chính sách, quy định chỉ đề cập đến doanh nghiệp nhà nước mà chưa đề cập đến DNTN. Những quan điểm đánh giá về DNTN chưa khách quan, gây khó khăn, cản trở hoạt động kinh doanh của khu vực tư nhân. Bên cạnh những khó khăn về thể chế kinh tế, bộ máy hành chính chưa hiệu quả, thủ tục hành chính thiếu minh bạch và cơ chế trách nhiệm giải trình, nhiều doanh nghiệp phải trả các chi phí “không chính thức” để giải quyết công việc… Những bất cập này khiến cho khu vực KTTN đã nhỏ lại càng khó phát triển. 

Thứ ba, thiếu thị trường và mặt bằng sản xuất kinh doanh. Việc giải quyết những rào cản về thủ tục hành chính là bắt buộc, nhưng để DNTN có thể phát triển thì vấn đề “thị trường”, vấn đề đầu ra, vấn đề hình thành nơi trao đổi buôn bán, trục liên kết,... sẽ giúp các doanh nghiệp phát triển đột phá. Bởi thị trường là cơ hội tiếp cận kinh doanh, cơ hội tiếp cận đất đai, tiếp cận thông tin, chính sách, quy hoạch...; là sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ với các tập đoàn lớn để tiêu thụ sản phẩm, tạo ra chuỗi giá trị. 

Thứ tư, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước để phát triển KTTN chưa cao. Bởi vì, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KTTN, đặc biệt là hạ tầng giao thông và nguồn nhân lực. Thiếu vốn luôn là thách thức lớn đối với các DNTN khi không có tài sản thế chấp để vay vốn hoặc tài sản thế chấp không minh bạch, đang tranh chấp; thiếu dự án khả thi. 

Thứ năm, năng lực của DNTN trong việc đổi mới và quản trị doanh nghiệp để thúc đẩy công nghệ, kết hợp đổi mới và tiêu thụ dịch vụ, sản phẩm chưa cao. Xét theo quy mô vốn, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong cả nước hiện chiếm 94,8%. Dù có những đóng góp ngày càng quan trọng cho nền kinh tế đất nước, song quy mô của DNTN vẫn nhỏ, không đủ năng lực tài chính để đầu tư vào tài sản cố định, máy móc công nghệ để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động; do đó, việc tham gia vào phát triển chuỗi rất thấp. 

Từ thực trạng trên cho thấy, ở nước ta hiện nay muốn phát triển KTTN cần phải giải quyết những trở ngại chính, đó là: có môi trường kinh doanh thuận lợi, cơ sở hạ tầng vật chất, doanh nghiệp nhà nước và sân chơi bình đẳng, thể chế quản lý, năng lực doanh nghiệp và quản trị môi trường. Trong giai đoạn 2021-2030, Việt Nam có nhiều cơ hội cho sự phát triển của KTTN thông qua việc tiếp cận và áp dụng những công nghệ tiên tiến của thế giới, đa dạng về các loại hình kinh tế kỹ thuật số và đầu tư vào công nghệ tương lai; đồng thời cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tạo cơ hội tăng tốc phát triển trên nhiều lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên, vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như sở hữu tư nhân trong việc tham gia đầu tư vào các ngành thuộc sở hữu của Nhà nước chưa được chú trọng đúng mức nhằm thúc đẩy hiệu quả sự phát triển của khu vực KTTN.

Việc xây dựng và thực hiện Chính phủ điện tử và chia sẻ dữ liệu trên internet để cải thiện tính minh bạch và chất lượng dịch vụ công; tăng cường cơ chế đối thoại giữa doanh nghiệp với Chính phủ... chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nhằm tạo điều kiện và để thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân cho phát triển hạ tầng, các ngành, lĩnh vực kinh tế, dịch vụ quan trọng. Vì vậy, khi Việt Nam thông qua Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), có tuân thủ các thông lệ quốc tế tốt nhất, sẽ thu hút được các DNTN đầu tư.

2. Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý nhà nước bảo đảm cho sự phát triển bền vững kinh tế tư nhân

Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu năm 2020 có ít nhất 01 triệu doanh nghiệp, năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và năm 2030 có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp. Tốc độ tăng trưởng của KTTN cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Phấn đấu tăng tỷ trọng đóng góp của khu vực KTTN đạt khoảng 50% GDP (năm 2020), khoảng 55% GDP (năm 2025) và từ 60 đến 65% GDP (năm 2030). Để đạt được mục tiêu đề ra và tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực KTTN trở thành động lực quan trọng trong phát triển kinh tế, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục thay đổi nhận thức về kinh tế tư nhân.

Cần có sự thống nhất nhận thức trong xã hội về khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để KTTN phát triển. Xây dựng cơ chế, chính sách định hướng sự phát triển của KTTN; hoàn thiện hệ thống pháp luật; sửa đổi một số cơ chế, chính sách về phát triển KTTN như chính sách đầu tư, tín dụng, chính sách về mặt bằng sản xuất, chính sách thuế, chính sách đào tạo, tiền lương, thu nhập và bảo hiểm xã hội... 

Phát huy thế mạnh và tiềm năng to lớn của KTTN trong phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với khắc phục có hiệu quả những mặt trái, những tiêu cực phát sinh. Theo đó, các cơ quan chức năng cần rà soát lại toàn bộ phí, lệ phí thủ tục hải quan, thuế theo luật định; bộ thủ tục liên quan đến tiếp cận, giấy phép đầu tư, giấy phép xây dựng, tiếp cận đất đai, tiếp cận thông tin, chí phí phát sinh để làm các thủ tục. Qua đó, các giải pháp của Chính phủ trong việc hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp phát triển sẽ phát huy hiệu quả, môi trường kinh doanh sẽ được cải thiện rõ rệt, doanh nghiệp sẽ tìm thấy cơ hội kinh doanh và có niềm tin vào thị trường. 

Hai là, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân. 

Nhà nước cần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư tư nhân vào hoạt động KTTN theo cơ chế thị trường. Không biến các chính sách hỗ trợ phát triển KTTN thành chính sách bao cấp, phục vụ “lợi ích nhóm” dưới mọi hình thức. Tạo điều kiện để KTTN đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh trong những ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia.

Đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện cho KTTN tham gia cung cấp dịch vụ công, tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Hỗ trợ KTTN tiếp cận, khai thác các cơ hội trong hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường, đẩy mạnh đầu tư và thương mại quốc tế. Tạo điều kiện để KTTN phát triển, nâng cao năng lực từng bước tham gia sâu, vững chắc vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Đẩy mạnh xây dựng và thực hiện Chính phủ điện tử và chia sẻ dữ liệu trên internet để cải thiện tính minh bạch và chất lượng dịch vụ công, ưu tiên việc triển khai và lồng ghép mua sắm công, đấu thầu điện tử; tăng cường cơ chế đối thoại công tư giữa doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa với Chính phủ.

Ba là, hỗ trợ kinh tế tư nhân tăng cường năng lực tài chính, đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động. 

Chính phủ cần ban hành các quy định cụ thể để ngành ngân hàng, các tổ chức tín dụng, tài chính có cơ sở giúp DNTN, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa thuận lợi tiếp cận nguồn vốn và cụ thể hóa bằng những cơ chế cho vay linh hoạt. Thực tế cho thấy, do phần lớn các DNTN trong nước không đủ năng lực tài chính để đầu tư vào tài sản cố định, máy móc công nghệ để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động, nên khu vực doanh nghiệp này ít có cơ hội nhận được đơn đặt hàng công việc của khu vực doanh nghiệp FDI, sự tham gia vào phát triển chuỗi giá trị rất thấp. Tuy nhiên, để tiếp cận được nguồn vốn thì bản thân doanh nghiệp phải đáp ứng những điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục vay vốn thuận lợi sẽ giúp doanh nghiệp có được nguồn lực cho kinh doanh.

Khuyến khích, hỗ trợ KTTN bằng các chính sách cụ thể, đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ tiên tiến. Bảo đảm thực thi hiệu quả pháp luật về sở hữu trí tuệ. Phát triển các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ. Áp dụng chính sách thuế, hỗ trợ tài chính, tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi phù hợp với hoạt động nghiên cứu, đổi mới, hiện đại hóa công nghệ.

Đẩy mạnh thực hiện Chiến lược quốc gia về phát triển nhân lực. Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng đủ nhu cầu số lượng và chất lượng nhân lực cho phát triển KTTN. Tăng cường hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Phát triển đào tạo theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và thị trường. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ doanh nhân có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng quản lý hiện đại, đạo đức kinh doanh và tinh thần trách nhiệm cao.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra thực hiện cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức, cá nhân nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Cùng với việc xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý, cần tạo điều kiện thuận lợi, bình đẳng hơn cho các DNTN; cần nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật, chính sách, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, an toàn cho KTTN phát triển lành mạnh, đúng định hướng. 

Tăng cường hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra, trách nhiệm giải trình của các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp đối với việc chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển KTTN. Xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, để không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 

Năm là, kiên quyết thực hiện việc đơn giản hoá, công khai hoá, minh bạch hoá các thủ tục hành chính trong chương trình cải cách hành chính.

Quy định và giám sát chặt chẽ việc đơn giản hóa, rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục hành chính thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, cấp phép, thuế, giải quyết tranh chấp,… Tăng cường cơ chế đối thoại có hiệu quả giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp nhằm nắm bắt và xử lý kịp thời các vướng mắc liên quan đến phát triển KTTN. Cần coi trọng hơn nữa việc cải cách, đơn giản hoá thủ tục thành lập doanh nghiệp, chi phí logistics, vận tải biển, đặc biệt là chi phí, hiện tượng chênh lệch giá hãng tàu. Công khai, minh bạch những khoản chi phí không chính thức, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính, kiểm tra, thanh tra trách nhiệm người đứng đầu và các cơ quan đơn vị được giao. Nghiên cứu cắt giảm và có sự điều chỉnh thích hợp chi phí tiếp cận dịch vụ công như đăng ký kinh doanh, đăng ký thương hiệu, khai báo thuế hải quan để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. 

Sáu là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong phát triển kinh tế tư nhân. 

Nhà nước tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để DNTN phát triển. Mạnh dạn giao cho các DNTN có đầy đủ điều kiện đảm nhiệm các lĩnh vực quan trọng của Nhà nước. Chỉ nên giữ lại các doanh nghiệp nhà nước mang tính chủ đạo, để KTTN không chỉ là động lực mà còn là đầu kéo quan trọng trong phát triển kinh tế của cả nước. Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong phát triển KTTN. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tích cực phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để cung cấp thông tin, hỗ trợ liên kết, hợp tác kinh doanh, đào tạo kỹ thuật và tư vấn cho DNTN. 

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc phát triển KTTN là một nhân tố không chỉ bảo đảm cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn tham gia vào giải quyết những vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực,… Trong bối cảnh ngân sách nhà nước gặp khó khăn, xu hướng suy giảm của dòng vốn ngoại thì những chính sách khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư là rất cần thiết. Nền kinh tế Việt Nam hiện có nhiều trụ cột trong các ngành không phải là doanh nghiệp nhà nước mà do DNTN chi phối và phần lớn đang làm ăn hiệu quả. Một nền kinh tế muốn chuyển sang sáng tạo thì buộc phải đạt hiệu quả cao với nhiều giá trị gia tăng, trong đó KTTN giữ vai trò  rất quan trọng. Việt Nam hiện nay nằm trong khu vực kinh tế năng động ở Đông Á, vì vậy cần phát huy sức mạnh và khả năng sáng tạo của khu vực tư nhân để KTTN thực sự trở thành nhân tố quan trọng góp phần đưa nước ta sớm hoàn thành mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao trong giai đoạn 2021-2030./.

-----------------------------------------

Ghi chú:

(1) Hội thảo “Khát vọng Việt Nam 2035: Phát triển khu vực kinh tế tư nhân năng động và yêu cầu hiện đại hóa thể chế”, tổ chức ngày 15/6/2017 tại thành phố Đà Nẵng.

Tài liệu tham khảo:

1. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

2. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. 

3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016.

4. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa XII) về phát triển kinh tế tư nhân.

 

TS Đặng Xuân Hoan - Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Thành phố Hồ Chí Minh sẽ giảm 40% thủ tục hành chính vào năm 2025

Ngày đăng 08/07/2020
Việc triển khai thành công Chương trình chuyển đổi số đến năm 2025 sẽ giúp thành phố Hồ Chí Minh (TP. Hồ Chí Minh) giảm được 40% thủ tục hành chính với hạ tầng băng thông rộng phủ trên 95% hộ gia đình và 100% xã.

Cơ chế một cửa quốc gia vẫn cần nhiều cải cách

Ngày đăng 07/07/2020
Tạo thuận lợi thương mại, trọng tâm là cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính (TTHC) xuất nhập khẩu là cách thức để Việt Nam hiện thực hóa các cơ hội từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Thành phố Yên Bái hướng tới nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp và hiệu quả

Ngày đăng 07/07/2020
Tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo đột phá trong giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) về đất đai cho người dân, phấn đấu đến năm 2025, triển khai 75% dịch vụ hành chính công trực tuyến mức độ 4; 100% người dân và doanh nghiệp hài lòng về việc giải quyết TTHC.

Chính phủ quy định dịch vụ công trực tuyến phục vụ cấp, quản lý, kiểm soát hộ chiếu của công dân Việt Nam

Ngày đăng 07/07/2020
Ngày 01/7/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 77/2020/NĐ-CP quy định việc quản lý, khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh; dịch vụ công trực tuyến phục vụ cấp, quản lý, kiểm soát hộ chiếu của công dân Việt Nam; kiểm soát xuất nhập cảnh bằng cổng kiểm soát tự động.

Nhìn lại 10 năm thực hiện cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020

Ngày đăng 06/07/2020
Bài viết đề cập đến một số nét lớn trong kết quả cải cách hành chính, những khó khăn, thách thức và định hướng cho giai đoạn 2021-2030. Nghị quyết số 30c/NQ-CP ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 với những mục tiêu kỳ vọng về cải cách hành chính. Khác với giai đoạn 2001-2010, Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 đưa trở lại nội dung cải cách thủ tục hành chính như một trong 6 trụ cột của cải cách hành chính nhà nước. 10 năm thực hiện cải cách hành chính vừa qua là một hành trình của nỗ lực với những kết quả và còn những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.