Hà Nội, Ngày 21/01/2021

Chính sách thu hút nguồn nhân lực cho vùng dân tộc thiểu số của Australia và những gợi mở đối với Việt Nam

Ngày đăng: 27/05/2020   03:32
Mặc định Cỡ chữ
Bài viết giới thiệu khái quát chính sách thu hút nguồn nhân lực của Australia với mục tiêu phát triển bền vững cộng đồng người bản địa và từng bước thu hẹp khoảng cách giữa người bản địa với các nhóm khác trong xã hội; qua đó kiến nghị một số nội dung Việt Nam có thể nghiên cứu, vận dụng trong việc xây dựng chủ trương, chính sách thu hút nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng dân tộc thiểu số đạt hiệu quả.

1. Chính sách  thu hút nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số của Australia 

1.1. Các chính sách phát triển nguồn nhân lực tại chỗ

Để nâng cao năng lực cho cộng đồng người bản địa, Chính phủ Australia đã có nhiều chủ trương, chính sách từ cấp trung ương đến địa phương nhằm tập trung phát triển và nâng cao dân trí cho người bản địa, cụ thể như: 

Thứ nhất, chương trình bồi dưỡng phát triển năng lực lãnh đạo cho người bản địa.

Chương trình này mục đích hình thành ở học viên niềm tin vào sự thay đổi và cung cấp những công cụ cần thiết để họ có thể lập kế hoạch cho một tương lai tươi sáng hơn cho từng cá nhân và cộng đồng người bản địa. Đồng thời, tạo môi trường lành mạnh có thể giúp mọi người tự tin thực hiện những thay đổi tích cực cho bản thân và cho cả cộng đồng.

Từ năm 2005, chương trình nâng cao năng lực lãnh đạo cho người bản địa đã mở rộng đối tượng tham gia cho cả nam và nữ thanh niên bản xứ (từ 18 tuổi trở lên). Chương trình này đạt được những thành công bước đầu; các đối tượng tham gia ngày một tăng (từ 70 thành viên năm 2004 đã tăng lên gần 2.000 thành viên năm 2015). Đối tượng tham gia rất đa dạng từ lứa tuổi, trình độ, giới tính, khu vực… Việc đăng ký để được nhận tài trợ của chương trình này rất thuận tiện, người bản địa chỉ cần nộp đơn đăng ký trực tuyến cho văn phòng chương trình. Mục tiêu trung hạn và dài hạn của chương trình là: 1) Tăng cường năng lực tự nhận thức về bản thân và về cộng đồng xung quanh; 2) Cải thiện sự tự tin và bản lĩnh cá nhân; 3) Tạo ra một mạng lưới thống nhất trên toàn quốc; 4) Khuyến khích duy trì và nắm giữ vai trò lãnh đạo; 5) Phát triển nhiều kỹ năng khác nhau, bao gồm tầm nhìn và thiết lập mục tiêu, ảnh hưởng và thương thuyết; 6) Tạo ra những thay đổi tích cực trong cuộc sống hiện tại và tương lai.

Thứ hai, chương trình đào tạo năng lực lãnh đạo cho lãnh đạo và nhân viên các tổ chức của người bản địa.

Đây là chương trình cung cấp các khóa học về năng lực quản lý, lãnh đạo dành cho cả lãnh đạo và nhân viên của các tổ chức người bản địa đã đăng ký hoạt động với các chiến lược, kế hoạch ngắn hạn.

Tuy nhiên, các chương trình trên chỉ chú trọng phát triển năng lực và kỹ năng lãnh đạo cho từng cá nhân riêng biệt và ít quan tâm đến các vấn đề khó khăn chung của cộng đồng, cũng như những vấn đề về quản trị mà cả nhóm đang gặp phải. Vì vậy, cần phải thay đổi tiếp cận theo hướng giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng. Cùng với việc cung cấp các học bổng, các khóa đào tạo năng lực, kỹ năng lãnh đạo ngắn hạn, còn có các chương trình hướng nghiệp và đánh giá học viên để có thể tuyển dụng tại địa phương; các chương trình cần có sự lồng ghép, kết nối với nhau; cần có sự quan tâm ngang bằng về nâng cao vai trò, vị thế và tiếng nói của người bản địa với các vấn đề khác như tiếp cận dịch vụ công chất lượng và hiệu quả.

Thứ ba, chính sách giáo dục cho người bản địa. 

Hiện nay, Australia đang nỗ lực nâng cao sự bình đẳng về việc tiếp cận giáo dục cho mọi đối tượng. Chính sách này không chỉ mang ý nghĩa về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội mà còn là sự đảm bảo về quyền con người. Việc tất cả các đối tượng có cơ hội tiếp cận với tri thức và từ đó giúp họ phát huy được hết khả năng của mình là một trong những ưu tiên hàng đầu của hệ thống giáo dục của Chính phủ Australia.

Trong những năm gần đây, Chính phủ Australia chú trọng nhiều vào việc hỗ trợ những người dân bản địa và nhóm người yếu thế trong xã hội tiếp cận tốt hơn và nâng cao thành tích học tập của họ thông qua việc đầu tư cho chăm sóc và giáo dục mầm non. Chiến lược quốc gia về phát triển giáo dục mầm non 2009 đã đưa ra một số chương trình hành động cụ thể hướng tới việc hỗ trợ cho người người bản địa và người sinh sống ở đảo Torres. Các chương trình hành động này tập trung vào việc phát triển kỹ năng và làm công tác hướng nghiệp ngay khi còn nhỏ. 

Theo Báo cáo Triển vọng chính sách giáo dục của Australia năm 2013, kết quả học tập và mức độ hoàn thành các bậc học nói chung của học sinh khu vực nông thôn, người bản địa, người thuộc đảo Torres thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của Australia. Việc nâng thành tích học tập và tỷ lệ trẻ em đến trường là hai yếu tố quan trọng góp phần tăng cường bình đẳng và chất lượng của giáo dục.

Các chương trình giáo dục đặc biệt dành riêng cho người sống ở khu vực nông thôn và người bản địa gồm(1):

- Đầu tư vào giáo dục sớm - kế hoạch quốc gia về giáo dục mầm non năm 2009 được đưa ra với mục đích cung cấp những khởi đầu tốt đẹp nhất cho mọi trẻ em trên khắp cả nước. 

- Liên kết trường học thông minh dành cho nhóm cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn kéo dài từ năm 2009 đến năm 2014. Đây là một chiến lược tổng thể tạo cơ hội học tập và phát triển của các học sinh nghèo, hỗ trợ họ tiếp tục theo học lên các bậc học cao hơn, tìm kiếm việc làm hoặc tham gia các hoạt động cộng đồng. Chiến lược này tập trung vào những nội dung như: 1) Hỗ trợ các trường ở tất cả các bậc học và các chương trình cải cách mang tính tổng thể nhằm giải quyết những vướng mắc đang tồn đọng tại các trường có điều kiện khó khăn; 2) Giúp thực hiện các cải cách nhằm hỗ trợ các nhu cầu học tập, từ đó giúp học sinh dễ dàng chuyển tiếp lên các bậc học cao hơn, đi làm hoặc tham gia tích cực vào xã hội sau khi hoàn thành chương trình học tại trường; 3) Các chương trình cải cách sẽ chủ yếu tập trung vào lãnh đạo nhà trường, giáo viên, học sinh và sự tham gia của cộng đồng địa phương; 4) Các trường được chọn để thực hiện chương trình liên kết trường học thông minh sẽ được nâng cao năng lực giải quyết các vấn đề chồng chéo, phức tạp mà học sinh thuộc cộng đồng yếu thế thường phải đối mặt. Chương trình này bắt đầu từ năm 2009 nhưng được triển khai rộng rãi và đầy đủ vào các năm 2011 và 2012 với sự tham gia của 1.700 trường công lập và dân lập, tương đương với 17% tổng số các trường trên cả nước Australia và có khoảng 464.000 học sinh được hưởng lợi từ chương trình này, chiếm 13% tổng số học sinh toàn quốc(2). Các kế hoạch cải cách cụ thể thuộc chương trình này bao gồm: khuyến khích các giáo viên giỏi và nhân viên quản lý trường học về dạy học và làm việc tại các trường thuộc vùng sâu, vùng xa thông qua hệ số phụ cấp khu vực cho giáo viên; cung cấp hệ thống giáo viên và quản lý giỏi cho các trường ở các khu vực kém phát triển; phát triển kế hoạch học tập cá nhân cho học sinh; kêu gọi sự “chung tay” của cộng đồng địa phương, phụ huynh học sinh trong việc cùng quản lý trường học; đưa ra chương trình học dành cho người vừa học vừa làm; theo dõi và hỗ trợ việc quay trở lại trường học đối với học sinh muốn tiếp tục hoàn thành khóa học; nâng cao năng lực hỗ trợ của phụ huynh đối với việc học tập của học sinh; liên kết với doanh nghiệp địa phương trong việc thực hành và hướng nghiệp; phối kết hợp việc chăm sóc sức khỏe và cung cấp điều kiện học tập cần thiết cho gia đình có trẻ nhỏ. Các trường thuộc diện được hỗ trợ từ chương trình này đã có những chuyển biến tích cực về chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trường học; có nhiều tiến bộ trong việc giảng dạy và liên kết với các bên liên quan. 

- Kế hoạch hành động về giáo dục dành cho người bản địa và cư dân đảo Torres. Mục tiêu chính của kế hoạch này nhằm thu hẹp khoảng cách về trình độ học vấn giữa người bản địa, người dân đảo Torres và bạn bè cùng trang lứa trên toàn lãnh thổ Australia. Kế hoạch này quan tâm đến những vấn đề chính góp phần cải thiện kết quả học tập của nhóm học sinh mục tiêu, gồm: 1) Sự liên kết; 2) Yếu tố văn hóa; 3) Phát triển đội ngũ lãnh đạo, giáo viên và nhân viên trong ngành giáo dục; 4) Điều kiện trường học và sự sẵn sàng của trẻ nhỏ; 5) Sự tham gia; 6) Các bước chuyển tiếp bao gồm cả sau khi tốt nghiệp. Chiến lược này là một trong những chương trình trọng điểm nhằm nâng cao tỷ lệ đến trường và trình độ học vấn cho người bản địa và người đảo Torres, đồng thời được điều chỉnh 5 năm một lần để đáp ứng những thay đổi của thực tiễn.

Ngoài ra, chính quyền các bang và chính quyền trung ương Australia đã đề ra những chính sách đặc biệt nhằm thu hút giáo viên giỏi, có kinh nghiệm giảng dạy về làm việc lâu dài tại các vùng sâu, vùng xa bằng các hình thức hỗ trợ kinh phí ăn ở, đi lại, phụ cấp cũng như cơ hội thăng tiến nghề nghiệp nếu như có những đóng góp thực sự hiệu quả trong thời gian nhất định tại địa phương nơi công tác.

Hiện nay, một số bang trên lãnh thổ Australia đang triển khai chương trình đặc biệt nhằm phát triển lực lượng lao động tại chỗ (vùng nông thôn và các vùng kém phát triển) thông qua việc ký hợp tác liên kết với các trường và doanh nghiệp địa phương. Cụ thể, chính quyền các bang kêu gọi sự hỗ trợ tài chính của Chính phủ liên bang và tạo cơ hội thực tập cho các sinh viên từ các doanh nghiệp địa phương. Các doanh nghiệp này có thể hỗ trợ sinh viên bản xứ bằng cách tạo cho họ cơ hội được thực tập và cho vay tài chính phục vụ cho quá trình học tập của sinh viên đó tại trường. Đây là một chiến lược hiệu quả với sự góp sức của các bên liên quan và mang tính chất ổn định lâu dài. Kế hoạch có thể giải quyết được nhiều mục tiêu, như: 1) Sinh viên học xong có việc làm ngay; 2) Chi phí đào tạo được vay với lãi suất thấp, kèm theo học bổng toàn phần; 3) Sinh viên có thể vừa học vừa thực hành và có thêm thu nhập; 4) Góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương, thu hẹp khoảng cách vùng miền; 5) Giải quyết các vấn đề phúc lợi khác; 6) Doanh nghiệp và cơ quan quản lý có nguồn nhân lực tại chỗ.

1.2. Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc tại cộng đồng người bản địa

Australia có tới 75% diện tích có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khắc nghiệt, sa mạc hóa và khô hạn. Đây chính là nơi sinh sống của 3%(3) dân số, trong đó chủ yếu là người dân bản địa và những người nghèo. Vì vậy, Chính phủ Australia đã có nhiều chương trình hành động cụ thể nhằm thu hút và “giữ chân” đội ngũ lao động có tay nghề và những người có trình độ chuyên môn cao phục vụ cho mục tiêu thúc đẩy sự phát triển bền vững của các vùng này. Nhóm chính sách hiện tại nhằm tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc cho bộ máy công quyền tại các vùng khó khăn còn nhiều hạn chế và chủ yếu tập trung vào việc tuyên truyền, thu hút người dân đã từng sinh sống tại địa phương đó sau khi hoàn thành xong các chương trình học bổng đặc biệt do nhà nước, các bang và các trường tài trợ quay trở về quê hương làm việc phục vụ sự phát triển của đất nước.

Hiện nay, Chính phủ Australia đang thay đổi cách thức làm việc với cộng đồng và lãnh đạo địa phương thông qua việc hỗ trợ sở hữu bản địa, người bản địa có thể hợp tác với Chính phủ trong việc xác định hoàn cảnh và khẳng định sự đa dạng trong phong tục tập quán của người bản địa. Điều này được thể hiện thông qua cam kết của Thủ tướng về “hành động hướng tới người bản địa và người dân đảo Torres”. Một trong những hành động đó là sáng kiến về thúc đẩy và trao quyền cộng đồng địa phương. Đây là hình thức tạo ra những cơ hội cho lãnh đạo địa phương là người bản địa đưa ra những sáng kiến nhằm thay đổi cộng đồng của họ và trong khu vực. Sáng kiến này đặt yếu tố văn hóa bản địa và sự tham gia gắn kết của mọi người là trọng tâm của quá trình ra quyết định.

Hai nội dung được ưu tiên trong việc phát triển nguồn nhân lực tại địa phương là kế hoạch để tăng cường công tác tuyển dụng, “giữ chân” và nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động. Việc tuyển dụng và thu hút lao động trình độ cao vào làm việc cho chính quyền địa phương hiện tại đang là một bài toán khó tại các vùng sâu, vùng xa nơi chủ yếu là người bản địa sinh sống. Bên cạnh các yếu tố tác động ngoại cảnh thì có ba lý do xuất phát từ chính các cộng đồng người bản địa khiến cho việc thu hút lao động trình độ cao gặp khó khăn, đó là: tình trạng già hóa dân số, thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao tại địa phương và khả năng cạnh tranh thấp với các vùng khác và các khu công nghiệp.

Tùy vào tình hình thực tế, các bang và doanh nghiệp địa phương đều có những chương trình riêng biệt nhằm thu hút và duy trì đội ngũ cán bộ có tay nghề cao về làm việc và cống hiến lâu dài cho sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng người bản địa tại địa phương. Ngoài ra, chính quyền địa phương còn thường xuyên cập nhật danh sách các học sinh là người bản địa đang theo học cấp 2, cấp 3, cao đẳng, đại học và sau đại học ở các trường khác nhau trên khắp cả nước, giữ liên lạc thường xuyên với các học sinh này và nghiên cứu tìm hiểu để đề xuất một công việc phù hợp ngay khi họ hoàn thành khóa học. Đối với việc thu hút các nhân tài từ các nơi khác về làm việc, chính quyền địa phương đã cố gắng xây dựng văn hóa làm việc chuyên nghiệp, môi trường sống thân thiện, an toàn và có hỗ trợ chi phí ổn định cuộc sống khi mới đến làm việc.

Mặt khác, doanh nghiệp địa phương cũng gặp rất nhiều khó khăn do thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Giải pháp của các doanh nghiệp thường là cung cấp các dịch vụ cơ bản cho người lao động như nhà ở, an ninh và chi phí đi lại. Bên cạnh đó, doanh nghiệp đưa ra các hệ số phụ cấp hấp dẫn, đảm bảo thăng hạng nghề nghiệp và các cơ hội đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn. Tuy nhiên, đó chỉ là các kế hoạch ngắn hạn và là giải pháp giải quyết tình thế cấp bách. Một số doanh nghiệp có quy mô lớn muốn có nguồn lao động tại chỗ ổn định lâu dài thường có chiến lược đào tạo đặc biệt và kêu gọi các bên cùng chung tay thực hiện kế hoạch đó. 

2. Những gợi mở đối với Việt Nam trong xây dựng và thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số 

Để phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, một trong những giải pháp hiệu quả là đầu tư phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, cụ thể là nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho người dân tộc thiểu số được lao động, cống hiến trên chính mảnh đất quê hương của mình; đồng thời có kế hoạch tổng thể đầu tư cơ sở hạ tầng, dịch vụ y tế và giáo dục. Từ kinh nghiệm của Chính  phủ Australia trong thu hút nguồn nhân lực bản địa vào phát triển kinh tế - xã hội địa phương, có thể gợi mở cho Việt Nam trong việc xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực cho các vùng dân tộc thiểu số như sau: 

Một là, bố trí ngân sách cho các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề và năng lực lãnh đạo cho người yếu thế, người dân tộc thiểu số. Triển khai các khóa học ngắn hạn và linh hoạt gắn liền với chủ trương phát triển của từng vùng và từng đối tượng cụ thể; coi trọng việc học tập suốt đời đối với người dân tộc thiểu số. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với nhu cầu thực tế. Sinh viên, học viên phải có môi trường để thực hành và vận dụng các kiến thức vào thực tế ngay trong quá trình học tập. Đồng thời, phải có sự liên kết chặt chẽ giữa ngành nghề, số lượng đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động thực tế của doanh nghiệp địa phương và nhu cầu về nguồn lực của từng vùng.

Bên cạnh đó, cần thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo để góp phần tuyên truyền nâng cao nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số đối với việc học tập nâng cao dân trí. Vận động người dân tích cực tham gia vào các tổ chức đoàn thể là những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch và quá trình ra quyết định cho sự phát triển của cộng đồng địa phương.

Hai là, ưu tiên cho các chương trình bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ; sử dụng người địa phương để giải quyết các vấn đề của địa phương. Cán bộ nguồn phải được phát hiện và đào tạo, bồi dưỡng từ sớm, có hệ thống, bài bản. Cần có các chính sách đặc thù nhằm thu hút đội ngũ cán bộ, những người có đức, có tài và sẵn sàng cống hiến cho sự phát triển của cộng đồng về làm việc tại các vùng sâu, vùng xa... Bên cạnh những hỗ trợ tài chính trực tiếp, cần quan tâm đến các vấn đề phúc lợi như thường xuyên chăm sóc miễn phí về y tế, cung cấp nhà ở hoặc đất ở, đồng thời hỗ trợ kinh phí để cán bộ và gia đình của họ ổn định chỗ ở và yên tâm công tác. Đảm bảo chế độ thăng hạng nghề nghiệp và có chế độ động viên, khen thưởng, vinh danh những cán bộ tâm huyết.

Ba là, từng bước cải thiện cơ sở hạ tầng và điều kiện sống cơ bản tại các vùng đặc biệt khó khăn thông qua việc kêu gọi các tổ chức, cá nhân cùng góp sức để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng trên cả nước. Đặc biệt, cần xây dựng chính sách thu hút tiềm lực bên ngoài (các doanh nghiệp đang hoạt động tại địa phương) đầu tư nâng cao chất lượng hạ tầng góp phần phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện đời sống của người dân địa phương. Cần có cơ chế khuyến khích đặc biệt về giảm thuế, phí, nếu các tổ chức, doanh nghiệp có đóng góp tích cực cho sự phát triển của địa phương.

Bốn là, công khai, minh bạch các loại hình quỹ hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số. Cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính trong việc xin hỗ trợ cho các dự án phát triển cộng đồng, các chương trình phát triển kỹ năng lãnh đạo để thúc đẩy sự phát triển của các vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

Năm là, tập trung các nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số có điều kiện, cơ hội phát triển cũng như tạo sức hút cho nguồn nhân lực tại chỗ đã được đào tạo quay trở về làm việc, đóng góp cho địa phương, từ đó góp phần thực hiện mục tiêu thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, miền khác trong cả nước./. 

-------------------------------------

Ghi chú:

(1), (2) Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa X, “Một số văn bản luật pháp về dân tộc thiểu số của nước ngoài”, tài liệu nội bộ phục vụ cho quá trình xây dựng dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi).

(3)https://www.cese.nsw.gov.au/images/ stories/PDF/Eval_Rep/Strategy_Evaluation_CESE/LowSES_Ext_Partnerships_ProgRpt_5.pdf.

Tài liệu tham khảo:

Nguyễn Thị Giáng Hương, Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu chính sách thu hút nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, đến năm 2030”, năm 2020. 

 

TS Nguyễn Thị Giáng Hương, ThS Đào Thị Kim Lân

Trường Đại học Lao động - Xã hội
                                

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Vai trò của Xã hội học trong quản trị công

Ngày đăng 15/01/2021
Các nhà nghiên cứu trên thế giới về quản trị công đều khẳng định một phần nền tảng lý luận của quản trị công được xây dựng trên tri thức xã hội học tổ chức và lý thuyết mạng lưới. Tri thức xã hội học tổ chức góp phần quan trọng trong việc thiết kế và tái thiết kế tổ chức, bộ máy, quy trình hoạt động cho phù hợp với yêu cầu của quản trị công... Do vậy, cần phải tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về lý thuyết và thực nghiệm để đưa xã hội học tổ chức nói riêng và xã hội học nói chung phù hợp với vị thế của một trong các khoa học nền tảng cho nghiên cứu quản trị công.

Hoàn thiện quy định pháp luật về chính quyền đô thị

Ngày đăng 11/01/2021
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2019 nhưng những chế định về chính quyền đô thị trong Luật còn nhiều bất cập. Nguyên nhân quan trọng nhất đó là những xung đột pháp lý về thể chế giữa Luật Tổ chức chính quyền địa phương với các ngành luật khác, như: Luật Xây dựng, Luật Kiến trúc, Luật Quy hoạch đô thị… Bên cạnh đó, từ ngày 01/01/2021 sẽ thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại Hà Nội và Đà Nẵng để từng bước tiến đến hoàn thiện cơ chế pháp lý cho chính quyền đô thị trong tương lai. Do vậy, cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với cơ chế đặc thù và khác biệt của chính quyền đô thị.

Cơ sở khoa học xây dựng mô hình tổ chức cơ quan thực thi chính sách đáp ứng yêu cầu hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực

Ngày đăng 07/01/2021
Trong những năm qua, một số giải pháp đột phá, thí điểm về tổ chức bộ máy nhà nước đã được thực hiện và bước đầu đạt được những kết quả tích cực. Nghiên cứu, đánh giá các mô hình tổ chức đã thực hiện theo hướng tách cơ quan quản lý nhà nước với tổ chức thực thi chính sách là việc làm cần thiết hiện nay để đề xuất định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức cơ quan thực thi chính sách trong thời gian tới ở Việt Nam.

Xây dựng nhân lực hành chính nhà nước - yếu tố quan trọng đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước ở Việt Nam

Ngày đăng 06/01/2021
Phát triển bền vững kinh tế - xã hội là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội của bất cứ quốc gia nào. Để phát triển bền vững đất nước, cần nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực hành chính nhà nước nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế - xã hội.

Xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam - kết quả bước đầu và những vấn đề cần tiếp tục đẩy mạnh

Ngày đăng 05/01/2021
Từ những năm 2000, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm, coi trọng phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, xác định đây là động lực góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới tạo khả năng đi tắt, đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng và đạt được những kết quả bước đầu quan trọng làm nền tảng trong triển khai xây dựng chính phủ điện tử. Đặc biệt, trong năm 2020, Việt Nam là một trong số không nhiều những quốc gia trên thế giới được Liên hợp quốc đánh giá cao về những kết quả tích cực trong xây dựng và phát triển chính phủ điện tử.