Hà Nội, Ngày 14/07/2020

Nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học hiện nay

Ngày đăng: 24/12/2019   04:27
Mặc định Cỡ chữ
Nghiên cứu khoa học ở các trường đại học là hoạt động rất quan trọng, có ý nghĩa thiết thực nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của các nhà trường, trong đó hoạt động quản lý nghiên cứu khoa học đã có những đóng góp hết sức quan trọng. Bài viết nêu lên thực trạng hoạt động quản lý nghiên cứu khoa học, qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học hiện nay.

1. Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học hiện nay

Trường đại học là nơi đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ đại học, sau đại học, đồng thời là những cơ sở nghiên cứu khoa học. Hoạt động nghiên cứu khoa học của các trường đại học trực tiếp tham gia vào quá trình nâng cao chất lượng công tác giáo dục, đào tạo của nhà trường. Đồng thời, nghiên cứu khoa học cũng là nhu cầu của giảng viên, học viên và sinh viên nhằm xây dựng, hoàn thiện thế giới quan, phương pháp luận khoa học tiến tới xây dựng, hoàn thiện phẩm chất, nhân cách, năng lực công tác trong quá trình giảng dạy, học tập tại trường và sau khi ra trường. Vì vậy, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học là yêu cầu thường xuyên của các trường đại học để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, trong đó, công tác quản lý nghiên cứu khoa học có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến các khâu, các bước thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các trường đại học.

Quản lý nghiên cứu khoa học là hoạt động trung tâm của quản lý khoa học và công nghệ ở các trường đại học, được tiến hành ở tất cả các tổ chức đảng, các cấp quản lý, điều hành hoạt động giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, cơ quan chức năng và các cá nhân, nhóm nghiên cứu. Trong đó, đảng ủy, ban giám hiệu nhà trường quản lý về cơ chế, quy chế, chính sách, mục tiêu, phương hướng phát triển các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học; cơ quan chức năng thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động nghiên cứu khoa học; các cơ quan, khoa, đơn vị quản lý kế hoạch và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được giao; các nhóm nghiên cứu, chủ nhiệm đề tài, sáng kiến, chủ biên giáo trình, tài liệu dạy học… quản lý kế hoạch thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.

Trong những năm qua, công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học đã được các trường đại học quan tâm với nhiều biện pháp tích cực và đạt được những kết quả quan trọng góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của các nhà trường, khẳng định vị thế và uy tín của các trường đại học trong hệ thống giáo dục quốc gia. Đó là, làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, chủ động xây dựng các văn bản hướng dẫn, tuyên truyền làm chuyển biến nhận thức cho cán bộ, giảng viên, sinh viên; chủ động xác định các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ngắn hạn, trung hạn, dài hạn gắn kết chặt chẽ với hoạt động giáo dục, đào tạo, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi để lôi cuốn, thu hút cán bộ, giảng viên, sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học. Hoạt động quản lý nghiên cứu khoa học đã góp phần tạo ra nhiều sản phẩm khoa học có chất lượng cao thông qua việc hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chặt chẽ các khâu, các bước triển khai nhiệm vụ, vận hành đúng quy trình, quy chế đối với hoạt động nghiên cứu khoa học; quản lý, sử dụng, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học của nhà trường gắn với xây dựng đội ngũ nhà giáo có hiệu quả; quản lý tốt các hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên, sinh viên góp phần làm cho lực lượng học viên, sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học ngày càng đông, chất lượng được nâng cao. 

Tuy nhiên, công tác quản lý nghiên cứu khoa học của các trường đại học vẫn còn những hạn chế nhất định, nhất là về tư duy và phương pháp quản lý; cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động nghiên cứu khoa học tại các trường đại học đã đặt ra những yêu cầu mới cao hơn, toàn diện hơn đối với công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học. Tổ chức, biên chế cơ quan chức năng về quản lý nghiên cứu khoa học của các trường đại học chưa thống nhất, ảnh hưởng nhất định đến quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ. 

2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học

Để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học cần thực hiện một số giải pháp cụ thể sau:

Một là, nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế xây dựng và tổ chức các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.

Xây dựng cơ chế quản lý nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phải xuất phát từ nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học của các nhà trường, bám sát các định hướng nghiên cứu khoa học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của từng ngành, xác định các mục tiêu trọng điểm, ngắn hạn và dài hạn. Các nhà trường quyết định mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu khoa học gắn với nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, không trùng lặp với các nhiệm vụ do cấp trên giao. Hội đồng khoa học và đào tạo cùng cơ quan chức năng của nhà trường xây dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thuộc phạm vi quản lý. Các cơ quan, khoa trực tiếp quản lý nhiệm vụ nghiên cứu khoa học gắn với chức năng, nhiệm vụ, phân công trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.

Xác định rõ các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ưu tiên ở các cấp, tập trung chủ yếu vào các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học mang tính ứng dụng, xuất phát từ yêu cầu của nhiệm vụ chính trị của nhà trường đại học là giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Thực hiện cơ chế phối hợp với các trường đại học khác trong toàn bộ quá trình thực hiện từ xác định nhiệm vụ, lực lượng thực hiện, tuyển chọn, tổ chức thực hiện, đánh giá và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Áp dụng rộng rãi phương thức tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học một cách công khai, dân chủ. Việc giao trực tiếp cho tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phải được thực hiện công khai dựa trên các tiêu chí lựa chọn rõ ràng. Hoàn thiện quy chế tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.

Đổi mới công tác đánh giá kết quả nghiên cứu dựa trên những tiêu chuẩn rõ ràng, cụ thể, phù hợp với từng vấn đề nghiên cứu; hoàn thiện các quy định về thành lập và hoạt động của các hội đồng tư vấn xác định, tuyển chọn và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, bảo đảm tính độc lập và khách quan của hội đồng. Xây dựng cơ sở dữ liệu về chuyên gia đánh giá, tiêu chuẩn thành viên và cơ cấu hội đồng phù hợp với từng nhiệm vụ nghiên cứu.

Cơ quan chức năng và tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu khoa học có trách nhiệm đưa nhanh các kết quả nghiên cứu khoa học áp dụng vào thực tiễn, thực hiện các quy định về lưu giữ, bảo mật, sử dụng và chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học.

Hai là, phát huy vai trò của cơ quan quản lý khoa học - công nghệ trong quản lý nghiên cứu khoa học ở các trường đại học. 

Cần xây dựng quy định thống nhất, cụ thể đối với cơ quan quản lý khoa học - công nghệ ở các trường đại học về tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế cũng như chức trách, nhiệm vụ của từng chức danh trong cơ quan.

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ quan quản lý khoa học ở các trường đại học đủ về số lượng, chất lượng cao, có kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học và quản lý khoa học, có khả năng tham mưu, đề xuất các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và các biện pháp quản lý nghiên cứu khoa học, đồng thời có khả năng chỉ đạo, hướng dẫn các lực lượng tham gia nghiên cứu khoa học thực hiện nhiệm vụ đúng quy định, quy chế, có chất lượng cao. 

Xây dựng kế hoạch, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong cơ quan quản lý khoa học - công nghệ bằng nhiều hình thức như kết hợp giữa đào tạo với tự đào tạo, đào tạo lại; cấp trên bồi dưỡng cấp dưới; cán bộ có nhiều kinh nghiệm bồi dưỡng cho cán bộ mới, cán bộ ít kinh nghiệm quản lý nghiên cứu khoa học; thông qua hoạt động thực tiễn công tác quản lý khoa học. Lựa chọn những cán bộ có tâm huyết, có phẩm chất, năng lực về nghiên cứu khoa học và công tác quản lý khoa học, thực hiện tốt công tác tạo nguồn đội ngũ cán bộ ở mọi cương vị.

Ba là, nâng cao hiệu quả quản lý tiềm lực khoa học của các trường đại học, quản lý chặt chẽ và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực khoa học và cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học.

Nắm chắc số lượng, chất lượng nguồn nhân lực khoa học và yêu cầu về nhân lực khoa học của các trường đại học, thực hiện tốt công tác quy hoạch, tuyển chọn nguồn nhân lực khoa học đáp ứng sự phát triển của tình hình nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và xây dựng nhà trường, tập trung chủ yếu vào đội ngũ cán bộ, giảng viên của nhà trường; bảo đảm sự kế thừa, liên thông và phát triển liên tục. 

Thông qua hoạt động thực tiễn, sinh hoạt khoa học, thực hiện chế độ công tác của các đối tượng để phát hiện, thu hút và quản lý, nắm chắc điểm mạnh, điểm yếu, sở trường của từng cán bộ và cả đội ngũ cán bộ; thông qua chất lượng thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học như số giờ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, số đề tài, chuyên đề nghiên cứu, số bài báo khoa học, tham luận hội thảo khoa học để đánh giá năng lực, uy tín hoạt động nghiên cứu khoa học. 

Đồng thời, quản lý nguồn nhân lực khoa học qua phân tích hồ sơ và kết hợp quản lý con người với quản lý hồ sơ, quản lý của tổ chức với tự quản lý của cá nhân. Phân định rõ chức trách, nhiệm vụ của lực lượng tham gia nghiên cứu khoa học, lực lượng quản lý khoa học và lực lượng phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học.

Quản lý, nắm chắc số lượng, chất lượng học viên, sinh viên của nhà trường, coi đây là lực lượng quan trọng vừa thực hiện nhiệm vụ học tập, vừa rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học; thông qua hoạt động thực tiễn lựa chọn những học viên, sinh viên tiêu biểu, có nhận thức tốt, có khả năng nghiên cứu khoa học để bồi dưỡng, tạo nguồn tham gia vào các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của nhà trường.

Quản lý, xây dựng và củng cố cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành nhiệm vụ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật của các nhà trường, kết hợp giữa nguồn đầu tư của cấp trên với nguồn tại chỗ để nâng cấp, phát triển theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị gắn với chức năng, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học của mỗi trường, nâng cao hiệu quả đầu tư và hiệu suất khai thác, sử dụng nhằm đạt hiệu quả cao nhất, tránh lãng phí.

Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò và giá trị của cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện đảm bảo cho nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, tích cực nghiên cứu, vận dụng phát huy hiệu quả, đồng thời nêu cao ý thức trách nhiệm giữ gìn, bảo quản các cơ sở vật chất, trang thiết bị, đảm bảo tốt, bền, sử dụng an toàn, tiết kiệm để giảm bớt những chi phí không cần thiết mà vẫn đạt được hiệu quả trong nghiên cứu khoa học. Kết hợp chặt chẽ khai thác cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật phục vụ nhiệm vụ giáo dục, đào tạo với phục vụ nghiên cứu khoa học.

Bốn là, nâng cao hiệu quả quản lý các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ở các trường đại học. 

Đây là nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý nghiên cứu khoa học, nhiệm vụ này đòi hỏi phải thường xuyên củng cố bộ máy quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, trước hết tập trung vào cơ quan chức năng và đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học.

Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp ở các trường đại học phải thường xuyên quán triệt, nắm vững chỉ thị, nghị quyết của Đảng, quy chế, quy định, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ về nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các trường đại học. Thường xuyên nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thống nhất về vị trí, vai trò của cấp ủy và người chỉ huy các cấp trong trong thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học; nắm vững chủ trương, nội dung, biện pháp lãnh đạo nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của cấp ủy, cụ thể hóa thành nội dung, biện pháp lãnh đạo ở cấp mình, chú trọng khâu cụ thể hóa và triển khai thực hiện nghị quyết. Quản lý chặt chẽ tình hình nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của cơ quan, khoa, đơn vị, khả năng tham gia và phẩm chất, năng lực nghiên cứu khoa học của từng cấp ủy viên, đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên, chỉ đạo xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học. Coi trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì về phẩm chất, năng lực quản lý nghiên cứu khoa học. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, rút kinh nghiệm về công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học ở cơ quan, khoa, đơn vị được giao phụ trách.

Phát huy vai trò của cơ quan chức năng trong quản lý các chương trình, nhiệm vụ nghiên cứu, thực hiện đúng quy trình quản lý đối với từng nhiệm vụ nghiên cứu khoa học từ khâu đề xuất, tuyển chọn, giao nhiệm vụ, tổ chức thực hiện, nghiệm thu đến chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu; nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin, phương tiện kỹ thuật hiện đại trong quản lý các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, tra cứu, tham khảo. Tăng cường đầu tư trang thiết bị, vật chất kỹ thuật đảm bảo cho công tác quản lý khoa học của cơ quan chức năng. Thường xuyên cập nhật tình hình các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong quản lý nghiên cứu khoa học để đề xuất với ban giám hiệu các biện pháp khắc phục, đảm bảo cho các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thực hiện đúng tiến độ, đạt chất lượng cao.

Nâng cao tính tích cực, chủ động của các đơn vị trong nhà trường, các nhóm nghiên cứu, ban đề tài và từng cá nhân trong quản lý tiến độ, chất lượng, hồ sơ đối với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được giao đảm nhiệm; thực hiện tốt chế độ báo cáo thường xuyên với cấp trên và cơ quan chức năng trong quá trình thực hiện, kịp thời phát hiện và xử lý những khó khăn, vướng mắc để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thuận lợi, đạt chất lượng cao.

Quản lý chặt chẽ và thực hiện đúng quy định về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ đối với các sản phẩm nghiên cứu khoa học. Làm tốt công tác quản lý và khai thác, sử dụng các sản phẩm vào nhiệm vụ giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường. Phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng công tác lưu trữ, quản lý và khai thác có hiệu quả.

Năm là, thực hiện tốt công tác quản lý thông tin khoa học trong nghiên cứu khoa học ở các trường đại học.

Tăng cường quy mô, phạm vi bảo đảm nguồn thông tin trong hoạt động nghiên cứu khoa học; hướng dẫn cách thức khai thác có hiệu quả các nguồn thông tin phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học cho cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên.

Tăng cường đầu tư xây dựng các thư viện trường đại học hiện đại về trang thiết bị, phong phú về tài liệu; nâng cao chất lượng công tác quản lý và khai thác, bố trí, phân loại hợp lý giúp cho cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên thuận lợi trong tìm kiếm và khai thác. Có sự phối hợp trong công tác bổ sung tài liệu giữa các trường đại học cũng như với các thư viện khoa học lớn trong nước. Thực hiện việc chia sẻ dữ liệu thông tin bằng các hình thức trao đổi tài liệu, cho mượn liên thư viện, phối hợp bổ sung. Đảm bảo trao đổi, hợp tác thường xuyên giữa thư viện các trường đại học trong nước với thư viện các trường đại học nước ngoài.

Phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin làm cơ sở để thực hiện số hóa các nguồn tài liệu dựa trên hệ thống cơ sở vật chất đã có kết hợp với các trang thiết bị được đầu tư mới, hiện đại; xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp cho mọi hoạt động của thư viện; sử dụng các thành tựu mới nhất của ngành công nghệ thông tin, nhất là các công nghệ internet, nâng cao chất lượng của vốn tài liệu và phát triển các dịch vụ thông tin - thư viện hiện đại. Đồng thời, bồi dưỡng, đào tạo, đào tạo lại cán bộ thư viện đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, đặc biệt về công nghệ thông tin, kiến thức về các dịch vụ thông tin - thư viện và ngoại ngữ.

Hoạt động quản lý nghiên cứu khoa học có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng đối với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các trường đại học, do đó phải được quan tâm thường xuyên và không ngừng nâng cao hiệu quả, trong đó tập trung vào việc tiếp cận, cập nhật những thành tựu trong công tác quản lý khoa học của đất nước và quốc tế; thường xuyên tổng kết thực tiễn, nâng cao trình độ và hiệu quả quản lý nghiên cứu khoa học, góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của các trường đại học từng bước phát triển, ổn định, ngày càng đi vào nề nếp, tác động tích cực vào việc hoàn thành nhiệm vụ giáo dục - đào tạo của mỗi nhà trường./.

------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nxb CTQG-ST, H.2013.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nxb CTQG-ST, H.2013.

3. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật khoa học và công nghệ, số 21/2013/ QH13, H.2013. 

 

Nguyễn Minh Đức - Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng 

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Nhận thức rõ hơn và hành động quyết liệt hơn trong phòng, chống lãng phí

Ngày đăng 06/07/2020
Lãng phí, cùng với quan liêu, tham nhũng đã và đang gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Tuy nhiên, so với tham nhũng, công tác phòng, chống lãng phí chưa được coi trọng đúng mức. Bài viết góp phần làm rõ quan niệm về lãng phí, nguyên nhân gây ra lãng phí và công tác phòng, chống lãng phí của Đảng, Nhà nước hiện nay. 

Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

Ngày đăng 23/06/2020
Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Đây cũng là lĩnh vực dễ bị lợi dụng vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thâm độc này là vấn đề cấp thiết.

Thực trạng và một số giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Ngày đăng 10/06/2020
Tham nhũng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, tham nhũng được nhận diện là một quốc nạn, một trong bốn nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; công tác phòng, chống tham nhũng được xác định là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn và phức tạp. Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới.

Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch

Ngày đăng 04/05/2020
Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên để góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là nhiệm vụ rất quan trọng trong giai đoạn các bộ, ngành, địa phương đang tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Giải pháp tinh giản biên chế

Ngày đăng 08/04/2020
Thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị khóa XI về “tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”; Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 về “tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập” đã thu được một số kết quả cụ thể. Tuy nhiên, nhìn tổng thể các kết quả này chưa phản ánh đủ tinh thần tinh giản biên chế, xây dựng tổ chức bộ máy gọn nhẹ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, xã hội hóa và tăng tính tự chủ các hoạt động sự nghiệp. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân, cần được đánh giá một cách khách quan.