Hà Nội, Ngày 14/08/2020

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ của Đảng

Ngày đăng: 13/12/2019   04:30
Mặc định Cỡ chữ
Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta, nhất là trong công tác cán bộ. Nguyên tắc tập trung dân chủ đảm bảo cho Đảng trở thành một tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động, trên cơ sở đó trí tuệ của toàn Đảng - cội nguồn tạo nên sức mạnh của Đảng, được phát huy một cách tối đa. Vì vậy, trong công tác tổ chức, cán bộ - công tác then chốt của Đảng càng phải coi trọng và thực hiện nghiêm nguyên tắc này. Bài viết đề xuất một số giải pháp góp phần đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện hiệu quả, phát huy vai trò của nguyên tắc cơ bản, nền tảng trong công tác tổ chức, cán bộ của Đảng. 
 

1. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong 5 nguyên tắc tổ chức và hoạt động được nêu trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc (ĐBTQ) lần thứ XI thông qua (năm 2011), thì tập trung dân chủ được coi là nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng, bởi vì nguyên tắc này quy định bản chất và những nội dung cơ bản, quan trọng nhất của Đảng. Trải qua gần 90 năm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng ta luôn kiên định tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng, song nội dung của nguyên tắc này không ngừng được bổ sung, phát triển và ngày càng hoàn thiện. Điều 9 Điều lệ Đảng đã cụ thể hoá nguyên tắc tập trung dân chủ thành 06 nội dung để thực hiện thống nhất trong toàn Đảng như sau:

Một là, cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách (tuy cấp ủy cấp trên có quyền chỉ định nhưng không được quá 1/3 số lượng do Đại hội bầu).  

Hai là, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội ĐBTQ. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy).

Ba là, cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp ủy cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình.

Bốn là, tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng; thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội ĐBTQ và Ban Chấp hành Trung ương.

Năm là, nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến Đại hội ĐBTQ, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp ủy có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.

Sáu là, tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên.

2. Công tác tổ chức, cán bộ của Đảng với nguyên tắc tập trung dân chủ

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(1). Thực tiễn cách mạng Việt Nam cũng chứng minh rằng, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ. Đảng ta luôn xác định công tác tổ chức, cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng.

Công tác cán bộ là một trong những công tác rất quan trọng của Đảng, bao gồm nhiều công việc và triển khai đồng bộ các khâu: tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, giám sát, quản lý, quy hoạch, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ, xây dựng và thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài, thu hút nhân tài vào những lĩnh vực quan trọng, không phân biệt người trong Đảng, ngoài Đảng... Có những khâu theo trình tự, nhưng cũng có những khâu tiến hành song trùng, đan xen nhau,... Mục tiêu cuối cùng và tối thượng của Đảng ta là: xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý.

Trong những năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng ta thường xuyên coi trọng việc xây dựng, củng cố Đảng về tổ chức, bảo đảm nội bộ luôn đoàn kết thống nhất, có sức chiến đấu cao. Xây dựng, củng cố Đảng về tổ chức bao gồm nhiều việc, trong đó phải đặc biệt quan tâm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ và xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổ chức của Đảng.

Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ là vấn đề trọng yếu, bảo đảm cho Đảng thật sự chặt chẽ về tổ chức, đoàn kết thống nhất và có sức chiến đấu cao. Đảng luôn yêu cầu các cấp ủy và tổ chức đảng phải làm tốt công tác giáo dục, thống nhất nhận thức, đồng thời chỉ đạo xây dựng cơ chế bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Một mặt, phải thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ của đảng viên, có quy chế, quy trình để đảng viên tham gia trực tiếp vào quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu cấp ủy phải tôn trọng và lắng nghe ý kiến cũng như những việc làm sáng tạo của đảng viên, của cấp dưới; lắng nghe các ý kiến khác nhau trước khi quyết định; thực hiện dân chủ tập thể trong công tác cán bộ. Mặt khác, phải đấu tranh với những khuynh hướng dân chủ hình thức hoặc dân chủ cực đoan, muốn lợi dụng dân chủ để gây chia rẽ, bè phái, mị dân, theo đuôi quần chúng lạc hậu.

Dân chủ chân chính không thể có được nếu thiếu tập trung, thiếu kỷ luật, thiếu trách nhiệm. Dân chủ không tương dung với độc đoán, chuyên quyền, cũng không phải là tự do vô chính phủ. Nếu xa rời hoặc coi nhẹ nguyên tắc tập trung dân chủ là làm sai lạc tổ chức đảng từ trong bản chất; nếu thực hiện không đúng nguyên tắc tập trung dân chủ là làm yếu sức mạnh của Đảng từ gốc.

Trong việc xây dựng, kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị, Đảng ta luôn quán triệt tinh thần tích cực, khoa học, đồng bộ, bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị. Việc xây dựng hệ thống tổ chức không chỉ là việc sắp xếp cơ cấu bộ máy mà còn phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và quy chế hoạt động của mỗi tổ chức cũng như của toàn hệ thống. Khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng, trùng lặp công việc; kiên quyết cắt giảm những bộ phận thừa, những khâu trung gian không cần thiết.

Trong hệ thống tổ chức của Đảng, tổ chức cơ sở đảng có vị trí rất quan trọng. Những năm qua, ở không ít nơi, tổ chức cơ sở đảng giảm sút vai trò lãnh đạo, thậm chí có nơi bị vô hiệu hóa. Để sớm khắc phục tình trạng này, Đảng chú trọng việc chấn chỉnh và cải tiến sinh hoạt Đảng, bố trí đúng cán bộ cốt cán - những người thật sự có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, được nhân dân tín nhiệm; đồng thời làm tốt công tác đảng viên, kể cả việc phát triển đảng viên mới đúng tiêu chuẩn, thật sự có chất lượng.

3. Tập trung dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ của Đảng

Về vai trò, trách nhiệm và thẩm quyền của Đảng trong công tác cán bộ, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định: “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị”(2).

Như vậy, Cương lĩnh của Đảng đã khẳng định: công tác cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị là công tác của Đảng; phải thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tức là mọi vấn đề liên quan đến công tác cán bộ (đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, chế độ, chính sách, khen thưởng, kỷ luật… đối với cán bộ) đều phải được tập thể thảo luận, bàn bạc kỹ lưỡng và quyết định theo đa số; đồng thời phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn xảy ra tình trạng vi phạm nguyên tắc này trên cả hai mặt: có nơi thì xảy ra tình trạng tập trung quan liêu, dẫn đến độc đoán, gia trưởng, dân chủ chỉ là hình thức để hợp thức hoá và thực hiện ý chí của người đứng đầu; có nơi lại xảy ra tình trạng dân chủ quá trớn dẫn đến dân chủ vô tổ chức, buông lỏng kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Khi có ưu điểm, thành tích thì nhận là công của mình, nhưng khi có khuyết điểm thì đổ lỗi cho tập thể, không xác định rõ trách nhiệm của cá nhân. Vì vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khoá XI đã chỉ rõ một trong ba vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay là: “Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị”(3). Vấn đề này đã được giải quyết tại Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị khóa XII “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”.

Nhiều khâu trong công tác cán bộ như: đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, miễn nhiệm… đối với cán bộ đã từng bước được bổ sung hoàn thiện nhằm vừa mở rộng, phát huy dân chủ, vừa bảo đảm tập trung và tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng…

Để đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện hiệu quả, phát huy vai trò của nguyên tắc cơ bản, nền tảng trong công tác tổ chức và cán bộ của Đảng, cần thực hiện các giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng về vai trò nền tảng, về sự tất yếu phải thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ của Đảng. Các cấp ủy đảng, từ Trung ương đến cơ sở phải thường xuyên coi trọng nâng cao nhận thức của toàn thể cán bộ, đảng viên về nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ. Quán triệt đầy đủ, sâu sắc các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng về cán bộ và công tác tổ chức, cán bộ. Quán triệt và giữ vững nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, bao gồm tất cả cán bộ trong hệ thống chính trị. Khi thực hiện có sự phân công, phân cấp quản lý, phối hợp chặt chẽ giữa cấp ủy các cấp, giữa cấp ủy với thường vụ cấp ủy ở từng cấp, giữa cấp ủy đảng với chính quyền cùng cấp trong hệ thống tổ chức của Đảng. Mở rộng và phát huy dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ, nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên tham gia vào các khâu của công tác này.

Hai là, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong công tác tổ chức, cán bộ. Trao quyền nhiều hơn, đồng thời nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác tổ chức, cán bộ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khóa XI chỉ rõ một số vấn đề cấp bách: “Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm. Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân”(4).

Chính sự không rõ ràng, rành mạch về thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị đã ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả, hiệu lực quản lý của Nhà nước. Từ thực trạng đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khóa XI đã chỉ ra một vấn đề cấp bách là cần xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị.

Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khóa XI để thực hiện tốt nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, cần chú trọng một số nội dung sau:

Thứ nhất, thường xuyên giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi tập thể cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên về nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Thứ hai, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu, tinh thần dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị trong công tác tổ chức, cán bộ. Trong công tác tổ chức, cán bộ, cả trước đây và hiện nay, Đảng ta vẫn khẳng định vai trò quyết định của tập thể cấp ủy dẫn tới tình trạng nếu đề bạt sai, bổ nhiệm sai thì không có cá nhân nào chịu trách nhiệm cụ thể. Để khắc phục tình trạng này, cần nêu cao hơn nữa trách nhiệm của những người giới thiệu, người đề cử để cấp ủy, tập thể lãnh đạo xem xét. Trách nhiệm đó phải được kéo dài trong suốt thời gian cán bộ được giới thiệu và được cấp ủy, tập thể lãnh đạo chấp nhận đề nghị đề bạt, bổ nhiệm thực hiện nhiệm vụ được giao ở lần bổ nhiệm, đề bạt đó. Nếu có sai phạm mà nguyên nhân là do giới thiệu nhầm, thì cán bộ giới thiệu phải chịu trách nhiệm. Đối với cấp phó của thủ trưởng và cấp dưới, nên để thủ trưởng lựa chọn, cấp ủy cho ý kiến. Theo đó, người giúp việc thủ trưởng (cấp phó) và cấp dưới sẽ trực tiếp chịu trách nhiệm trước cấp trưởng, trước cấp trên; sự đoàn kết, cộng đồng trách nhiệm trên cơ sở nhiệm vụ được phân công giữa cấp trưởng và cấp phó sẽ tốt hơn.

Thứ ba, tăng cường đấu tranh tự phê bình và phê bình, kiên quyết phê phán các hiện tượng mất dân chủ, dân chủ hình thức. Đổi mới quy trình ra nghị quyết, quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết. Cần xây dựng quy chế ra quyết định của Đảng, bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể cấp ủy và cán bộ, đảng viên.

Thứ tư, duy trì nghiêm túc chế độ kiểm tra, giám sát để giúp tổ chức đảng cấp dưới hoạt động đúng hướng. Kịp thời ngăn chặn, khắc phục các khuyết điểm, sai phạm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng cấp dưới khi mới manh nha dấu hiệu vi phạm, nhất là biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mất đoàn kết, độc đoán, chuyên quyền. Xử lý nghiêm minh những cá nhân có sai phạm trong công tác lãnh đạo, điều hành gây hậu quả nghiêm trọng.

Ba là, thể chế hóa, cụ thể hóa các nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ thành các quy định, quy chế của từng cấp để tổ chức thực hiện thống nhất. Thực hiện thể chế hóa, cụ thể hóa các nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ thành các quy định, quy chế phải đảm bảo thực hiện. Công tác tổ chức, cán bộ nhất thiết phải do cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quyết định theo đa số; cá nhân phải nghiêm túc chấp hành quyết định của tập thể; tổ chức đảng cấp dưới phải chấp hành quyết định của tổ chức đảng cấp trên. Các quy định, quy chế sau khi ban hành phải được quán triệt sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, nhất là trong cấp ủy, tập thể lãnh đạo và đội ngũ làm công tác tổ chức, cán bộ để hiểu đúng, thực hiện đúng.

Bốn là, mở rộng và phát huy dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ. Đẩy mạnh dân chủ hóa, công khai hóa trong công tác tổ chức, cán bộ. Việc dân chủ hóa, công khai hóa phải được thể hiện ở tất cả các khâu của công tác tổ chức, cán bộ: từ tuyển chọn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ đến giám sát cán bộ sau bầu cử, bổ nhiệm. Quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu và các thành viên trong tập thể lãnh đạo cơ quan sử dụng cán bộ và cơ quan tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ.

Kịp thời nắm bắt tình hình nội bộ của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả những trường hợp lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, đưa ra những nhận xét thiếu trung thực, không khách quan nhằm hạ uy tín cán bộ, nhất là ở những cơ quan, đơn vị có tư tưởng cục bộ, bè phái hoặc đoàn kết nội bộ không tốt. Kịp thời kiểm tra, xác minh, kết luận những vấn đề mới phát sinh để định hướng dư luận của cán bộ, đảng viên và quần chúng; không để những thông tin sai sự thật chi phối chất lượng công tác tổ chức, cán bộ.

Năm là, kiện toàn bộ máy các cơ quan tham mưu của cấp ủy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ. Kiện toàn và nâng cao chất lượng các cơ quan tham mưu giúp cấp ủy có cơ sở đưa ra quyết định đúng đắn về tổ chức, cán bộ. Cấp ủy đảng nhất quán thực hiện chủ trương ưu tiên bố trí những cán bộ có kinh nghiệm, có phẩm chất đạo đức tốt, công tâm và có tinh thần trách nhiệm cao làm công tác tổ chức, cán bộ. Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị.

Sáu là, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ.Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy theo thẩm quyền phải coi trọng công tác kiểm tra, giám sát đối với cán bộ và công tác tổ chức, cán bộ. Tập trung kiểm tra việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ. Kịp thời kiểm tra, kết luận và kiên quyết xử lý những cá nhân, tập thể vi phạm các quy định về công tác tổ chức, cán bộ, nhất là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Kết hợp kiểm tra, giám sát thường xuyên với định kỳ, kiểm tra dấu hiệu vi phạm. Xây dựng kế hoạch, phân công tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát về công tác tổ chức, cán bộ bảo đảm đồng bộ, thống nhất với những nội dung kiểm tra khác.

Bảy là, nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ tiêu chí định lượng các đặc trưng định tính của cán bộ để cất nhắc, đề bạt theo hướng coi trọng thực chất, không rơi vào chủ nghĩa hình thức, thiên về bằng cấp, tuổi tác...; đặc biệt chú trọng năng lực tự vươn lên qua thực tiễn của cán bộ và dự báo sự phát triển hơn nữa của cán bộ để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm./.

------------------------------------

Ghi chú:

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.309.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.88-89.

(3),(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb CTQG-ST, H.2012, tr.26, tr.22-23.

 

PGS.TS Vũ Văn Phúc - Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương
PGS.TS Trần Thị Minh Châu - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Cách tiếp cận về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế trong quá trình phát triển

Ngày đăng 13/08/2020
Mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế là mối quan hệ đa diện, đa chiều và đa cấp độ. Hiện nay đang có những cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế trong quá trình phát triển. Có thể khái quát thành một số quan niệm sau:

Thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động

Ngày đăng 11/08/2020
Người lao động được xem là đối tượng cần có chính sách quan tâm đầy đủ hơn trong xã hội, đặc biệt là chính sách về khuyến khích, lôi cuốn, động viên, khen thưởng cho những cống hiến của họ đối với cộng đồng. Bài viết chú trọng tìm hiểu về chính sách cho người lao động, thực trạng công tác khen thưởng cho đối tượng này và đề xuất những giải pháp đối với công tác khen thưởng cho người lao động hiện nay.

Áp dụng khoa học tư duy hệ thống trong xây dựng mô hình hệ sinh thái kinh tế tuần hoàn trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Ngày đăng 10/08/2020
Sức mạnh của CMCN 4.0 có thể được khai thác để cải thiện cách vật liệu được quản lý và đưa xã hội ra khỏi mô hình cổ xưa: khai thác – sản xuất – thải bỏ để tiến tới mô hình kinh tế tuần hoàn với các giải pháp bền vững. Giải pháp CMCN 4.0 sẽ không giải quyết được tất cả các thách thức và yêu cầu để chuyển sang một kinh tế tuần hoàn, nhưng nó cung cấp một công cụ để làm dễ dàng hơn và nhiều hơn nữa chi phí hiệu quả.

Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Ngày đăng 06/08/2020
Qua các giai đoạn phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đề ra những quan điểm, chủ trương đúng đắn để xử lý mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Tư tưởng đó dần được hoàn thiện qua các kỳ đại hội, thể hiện trong các văn kiện của Đảng và được thể chế hóa trong các chính sách của Nhà nước.

Một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng thời gian qua

Ngày đăng 05/08/2020
Từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng(1) đến nay (tính đến tháng 5-2020), nhất là sau hơn 4 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện ráo riết, quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, toàn diện, bài bản, đi vào chiều sâu; phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp giữa phòng ngừa với phát hiện, xử lý, giữa phòng, chống tham nhũng với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, giữa trong nội bộ với ngoài xã hội, giữa trong nước với ngoài nước; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự.