Hà Nội, Ngày 14/08/2020

Thực trạng và giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý tại các cấp Tòa án nhân dân

Ngày đăng: 11/11/2019   10:51
Mặc định Cỡ chữ
Phát biểu tham luận tại Hội thảo khoa học "Nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới và tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý" do Bộ Nội vụ tổ chức vào cuối tháng 10/2019, bà Lương Ngọc Trâm, Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao đã nêu lên thực trạng đội ngũ nữ lãnh đạo, quản lý ngành Tòa án nhân dân; chỉ ra nguyên nhân hạn chế và đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý tại Tòa án nhân dân các cấp.
Bà Lương Ngọc Trâm, Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao phát biểu tại Hội thảo. Ảnh: Mạnh Quân.

Thực trạng cán bộ, công chức nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý, là Thẩm phán tại các cấp Tòa án nhân dân

Đối với Tòa án nhân dân tối cao: có 01 nữ là Ủy viên Ban Cán sự đảng, Phó Chánh án; 16 nữ vụ trưởng, phó vụ trưởng và tương đương; 40 công chức nữ lãnh đạo cấp phòng và tương đương; 04 nữ/17 thẩm phán. Số nữ cán bộ, công chức tham gia cấp ủy là 23 người.

Đối với các Tòa án nhân dân cấp cao: có 01 nữ Phó Chánh án/10 Phó Chánh án; 06 nữ/36 người giữ chức vụ chánh tòa, phó chánh tòa và tương đương; 13 công chức nữ/31 người giữ chức vụ trưởng phòng, phó trưởng phòng và tương đương; 16 nữ/103 thẩm phán. Số nữ cán bộ, công chức tham gia cấp ủy là 18 người.

Đối với các Tòa án nhân dân cấp tỉnh: có 10 nữ Chánh án/63 Chánh án; 28 nữ Phó Chánh án/150 Phó Chánh án; 114 nữ trưởng phòng/360 người giữ chức vụ trưởng phòng; 205 nữ/434 người giữ chức vụ phó trưởng phòng và tương đương; 400/1.118 Thẩm phán. Số nữ cán bộ, công chức tham gia tỉnh ủy là 07 người.

Đối với các Tòa án nhân dân cấp huyện: có 127 nữ Chánh án/679 Chánh án; 339 nữ Phó Chánh án/1.028 Phó Chánh án; 205 nữ Trưởng phòng/435 người giữ chức vụ Trưởng phòng; 149 nữ/255 người giữ chức vụ phó trưởng phòng và tương đương; 2.060/4.666 thẩm phán. Số nữ cán bộ, công chức tham gia huyện ủy là 109.

Thực trạng trên cho thấy, hiện nay số lượng cán bộ, công chức nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý, là thẩm phán tại các cấp Tòa án nhân dân còn thấp, đặc biệt là cán bộ, công chức nữ là người đứng đầu các đơn vị. Một phần nguyên nhân là do cấp ủy, người đứng đầu một số đơn vị chưa thực sự quan tâm đến việc thực hiện Luật bình đẳng giới, chưa lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào việc xây dựng các chủ trương, chính sách, kế hoạch, đề án, chương trình công tác của đơn vị. Một số quy định hiện hành liên quan đến tuổi nghỉ hưu, tuổi quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm… đối với phụ nữ còn chưa phù hợp, chưa thực sự bình đẳng giữa nam và nữ, dẫn tới những hạn chế về điều kiện và cơ hội của phụ nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo, quản lý tại các cấp Tòa án nhân dân…

Giải pháp

Thứ nhất, quán triệt thực hiện nghiêm túc Luật bình đẳng giới và các nghị định hướng dẫn thi hành; Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị “về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Tòa án về vị trí, vai trò của cán bộ, công chức, viên chức trong các hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân các cấp. Thực hiện kịp thời và đúng pháp luật các chế độ, chính sách đối với cán bộ nữ. Tạo điều kiện và cơ hội để nữ cán bộ, công chức, viên chức ngành Tòa án khẳng định vai trò của mình trong công tác chuyên môn và công tác lãnh đạo, quản lý.

Thứ hai, rà soát, đánh giá thực trạng đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức của ngành Tòa án, xây dựng quy hoạch nguồn cán bộ nữ theo từng vị trí công tác, từ đó lập kế hoạch cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức ngành Tòa án trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh quy hoạch, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Thứ ba, có biện pháp tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối về giới trong cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là các vị trí chủ chốt trong Tòa án nhân dân các cấp để thu ngắn khoảng cách về giới trong lĩnh vực chính trị./.

Trí Đức

Tin tức cùng chuyên mục

Cách tiếp cận về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế trong quá trình phát triển

Ngày đăng 13/08/2020
Mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế là mối quan hệ đa diện, đa chiều và đa cấp độ. Hiện nay đang có những cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế trong quá trình phát triển. Có thể khái quát thành một số quan niệm sau:

Thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động

Ngày đăng 11/08/2020
Người lao động được xem là đối tượng cần có chính sách quan tâm đầy đủ hơn trong xã hội, đặc biệt là chính sách về khuyến khích, lôi cuốn, động viên, khen thưởng cho những cống hiến của họ đối với cộng đồng. Bài viết chú trọng tìm hiểu về chính sách cho người lao động, thực trạng công tác khen thưởng cho đối tượng này và đề xuất những giải pháp đối với công tác khen thưởng cho người lao động hiện nay.

Áp dụng khoa học tư duy hệ thống trong xây dựng mô hình hệ sinh thái kinh tế tuần hoàn trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Ngày đăng 10/08/2020
Sức mạnh của CMCN 4.0 có thể được khai thác để cải thiện cách vật liệu được quản lý và đưa xã hội ra khỏi mô hình cổ xưa: khai thác – sản xuất – thải bỏ để tiến tới mô hình kinh tế tuần hoàn với các giải pháp bền vững. Giải pháp CMCN 4.0 sẽ không giải quyết được tất cả các thách thức và yêu cầu để chuyển sang một kinh tế tuần hoàn, nhưng nó cung cấp một công cụ để làm dễ dàng hơn và nhiều hơn nữa chi phí hiệu quả.

Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Ngày đăng 06/08/2020
Qua các giai đoạn phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đề ra những quan điểm, chủ trương đúng đắn để xử lý mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Tư tưởng đó dần được hoàn thiện qua các kỳ đại hội, thể hiện trong các văn kiện của Đảng và được thể chế hóa trong các chính sách của Nhà nước.

Một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng thời gian qua

Ngày đăng 05/08/2020
Từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng(1) đến nay (tính đến tháng 5-2020), nhất là sau hơn 4 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện ráo riết, quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, toàn diện, bài bản, đi vào chiều sâu; phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp giữa phòng ngừa với phát hiện, xử lý, giữa phòng, chống tham nhũng với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, giữa trong nội bộ với ngoài xã hội, giữa trong nước với ngoài nước; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự.