Hà Nội, Ngày 04/06/2020

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam

Ngày đăng: 16/07/2019   10:19
Mặc định Cỡ chữ
Pháp luật về công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong việc quản lý và xây dựng đội ngũ công chức cấp xã trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, đồng thời pháp luật là cơ sở pháp lý để công chức cấp xã thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Bài viết đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã.

 

1. Thực trạng quy định và việc thực hiện pháp luật về công chức cấp xã

1.1. Về số lượng công chức cấp xã

Thực hiện quy định của pháp luật, các địa phương đã bố trí số lượng công chức cấp xã (CCCX) khoảng từ 11 đến 14 trong số 21 đến 25 cán bộ, công chức cấp xã theo phân loại đơn vị hành chính cấp xã. Theo quy định tại Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, CCCX và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, số lượng cán bộ, CCCX giảm còn từ 19 đến 23 và Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố thuộc Trung ương có quyền quyết định số lượng cán bộ, CCCX bằng hoặc thấp hơn so với quy định hiện hành. Tuy nhiên, do diện tích tự nhiên và số lượng dân cư của các đơn vị hành chính cấp xã có sự chênh lệch khá lớn, nên việc quy định số lượng CCCX chỉ hơn kém nhau 03 người cũng cần có thời gian để kiểm chứng tính hợp lý. Mặt khác, một số nhiệm vụ quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm, trật tự xây dựng, an toàn giao thông, xây dựng và các dịch vụ hành chính công,... ở đô thị hiện chưa được giao cho chức danh công chức nào đảm nhiệm. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu theo hướng hoặc bổ sung chức danh CCCX phù hợp với nhiệm vụ quản lý nhà nước của UBND phường hoặc giao các nhiệm vụ đó cho một hoặc các chức danh công chức phường.

1.2. Về nghĩa vụ và quyền của công chức cấp xã

Nghĩa vụ, quyền của CCCX được pháp luật quy định khá cụ thể nhằm bảo đảm hoạt động công vụ diễn ra thường xuyên, liên tục và hiệu quả. Tuy nhiên, quy định về quyền và nghĩa vụ của CCCX còn có một số vướng mắc, bất cập. Điều 12, Pháp lệnh Công an xã quy định “Phó trưởng Công an xã giúp Trưởng Công an xã thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng Công an xã; khi Trưởng Công an xã vắng mặt thì Phó trưởng Công an xã được Trưởng Công an xã ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Công an xã”. Trong khi đó, Phó trưởng Công an xã là lực lượng bán chuyên trách chỉ được hưỏng phụ cấp, do đó việc giao quyền cho Phó trưởng Công an xã khi Trưởng Công an xã vắng mặt cũng cần cân nhắc thêm về tính hợp lý. Ngoài ra, nội dung điều chỉnh của pháp luật về địa vị pháp lý của CCCX còn những hạn chế như: Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định những việc CCCX không được làm liên quan đến sản xuất, kinh doanh(1), nhưng chưa có quy định để xử lý khi bố, mẹ hoặc vợ, con trực tiếp kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý của CCCX.

1.3. Về tiêu chuẩn công chức cấp xã

Quy định về tiêu chuẩn CCCX được chia làm 2 nhóm cơ bản, nhóm 1 gồm chức danh Trưởng Công an xã, Chỉ huy trưởng quân sự cấp xã; nhóm 2 gồm 5 chức danh còn lại. Quy định về tiêu chuẩn của CCCX bao gồm tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể, nhưng các tiêu chuẩn này chưa gắn với yếu tố năng lực của người dự tuyển mà chỉ chú trọng vào yếu tố bằng cấp. Bên cạnh đó, quy định về trình độ chuyên môn là tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp đến nay đã bộc lộ những hạn chế nhất định, là một trong những nguyên nhân khiến CCCX xử lý công việc còn sai sót hoặc có những hành vi vi phạm pháp luật gây bất bình trong nhân dân. Khi thực hiện chủ trương bố trí công an xã là lực lượng chính quy sẽ khắc phục phần nào những bất cập này.

Đối với tiêu chuẩn cụ thể của CCCX, Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ quy định ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng chức danh CCCX. Tuy nhiên, hiện chưa có văn bản nào quy định cụ thể ngành đào tạo phù hợp đối với từng chức danh CCCX. Do đó, một số địa phương phải vận dụng những quy định khác trong tuyển dụng CCCX. Ngoài ra, pháp luật về CCCX hiện hành chưa quy định cụ thể, đồng bộ về nghĩa vụ và tiêu chuẩn đạo đức của CCCX trong hoạt động công vụ. Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định về tiêu chuẩn và nghĩa vụ, quyền của CCCX nhưng một số luật chuyên ngành như Luật Hộ tịch năm 2014, Pháp lệnh Công an xã năm 2008... cũng có một số điều khoản quy định về tiêu chuẩn và nhiệm vụ, quyền hạn của một số chức danh CCCX. Điều này làm phát sinh tình trạng một chức danh CCCX có nhiều quy định về tiêu chuẩn khác nhau, gây khó khăn trong thực hiện pháp luật về CCCX.

1.4. Về tuyển dụng công chức cấp xã

Các quy định về tiêu chuẩn và quy trình, hình thức, nội dung tuyển dụng tạo điều kiện cho các cơ quan chức năng thực hiện công tác này theo đúng yêu cầu đặt ra. Việc quy định linh hoạt hai hình thức tuyển dụng là thi tuyển và xét tuyển cũng như điều kiện về văn bằng, chứng chỉ không phân biệt loại hình đào tạo giúp các cơ quan quản lý tuyển được những CCCX phù hợp, đáp ứng yêu cầu của địa phương. Tuy nhiên, một số quy định về tuyển dụng chưa khả thi như: “Ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng chức danh CCCX”(2) do UBND cấp tỉnh quyết định, nhưng tại Điều 10 của Thông tư số 06/2012/TT-BNV có quy định “theo yêu cầu của chức danh CCCX cần tuyển dụng do UBND cấp xã xây dựng gắn với ngành đào tạo” gây khó hiểu trong quá trình thực hiện. Vậy UBND cấp huyện hay UBND cấp tỉnh được quyền quyết định từng chức danh CCCX  thì ngành đào tạo nào phù hợp trong tuyển dụng. Ngoài ra, một số vấn đề cần nghiên cứu làm rõ như việc giám sát khâu tuyển dụng CCCX qua hình thức phỏng vấn để bảo đảm sự công bằng, minh bạch và hiệu quả.

1.5. Về sử dụng, bố trí công chức cấp xã

Thực trạng bố trí và sử dụng CCCX hiện nay như sau: đối với các chức danh dược bố trí 02 người nhưng khối lượng công việc ít thì phân công kiêm nhiệm thêm công việc phù hợp để đảm bảo thời gian và hiệu suất làm việc cao hơn. Thực tế, các chức danh CCCX phải đảm nhiệm khối lượng công việc lớn, cường độ làm việc cao, đặc biệt là phải thực hiện các công việc với nhiều nhóm kỹ năng tác nghiệp khác nhau dẫn đến việc giải quyết, xử lý trong thực hiện nhiệm vụ còn nhiều hạn chế.

Luật Phòng, chống tham nhũng có quy định việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác cũa một số ngành, lĩnh vực như: kế toán, tài chính, tư pháp, địa chính... và chức danh lãnh đạo, quản lý nhưng không quy định điều chỉnh đối với CCCX. Trong thực tế, do chưa có quy định cụ thể nên thiếu sự thống nhất giữa các địa phương khi tiến hành chuyển đổi vị trí công tác của một số chức danh gây ảnh hưỏng đến tâm lý CCCX và hiệu quả hoạt động của UBND cấp xã.

1.6. Về đánh giá, xếp loại công chức cấp xã

Việc thực hiện công tác đánh giá, xếp loại CCCX hiện nay “còn nặng tính hình thức, bình quân, cảm tính” và “bị chi phối bởi thân quen, họ hàng” đang diễn ra tại một số địa phương. Bên cạnh đó, chưa có quy định tiêu chí cụ thể, phù hợp với đặc điểm của CCCX; chưa có tiêu chí đánh giá dựa trên kết quả công việc của từng chức danh; CCCX là đối tượng làm việc trực tiếp với dân, gần dân nhất nhưng chưa có quy định về tiêu chí đánh giá của người dân để tăng tính khách quan trong việc đánh giá.

1.7.Về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã

Các quy định của pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng vừa có tính bắt buộc nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng thực thi công vụ, bảo đảm quyền lợi của CCCX. Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập, vướng mắc. Ví dụ, quy định “không quá 40 tuổi tính từ thời điểm được cử đi đào tạo" chưa tương thích với quy định "có cam kết tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, công vụ sau khi hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian ít nhất gấp 02 lần thời gian đào tạo”. Mặt khác, do số lượng CCCX được bố trí một chức danh từ 01 đến 02 người nên việc đi học trong thời gian dài sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc chỉ đạo điều hành và thực hiện các công việc chuyên môn tại địa phương.

1.8. Về khen thưởng, kỷ luật công chức cấp xã

Quy định hiện hành về khen thưởng, kỷ luật đã động viên, khuyến khích CCCX hoàn thành tốt nhiệm vụ, đưa ra được những chế tài xử phạt để có ý thức không vi phạm trong quá trình thực thi công vụ. Bên cạnh đó, việc quy định của pháp luật về kỷ luật đối với Trưởng Công an xã và Chỉ huy trưởng quân sự cấp xã, trường hợp vi phạm pháp luật bị áp dụng hình thức kỷ luật giáng chức hoặc cách chức mà không sắp xếp được chức danh công chức khác ở cấp xã thì đồng thời giải quyết chế độ thôi việc(3) đang có những khó khăn, vướng mắc như: cùng chức danh CCCX nhưng lại có hình thức kỷ luật khác nhau gây ra sự bất bình đẳng; CCCX vi phạm kỷ luật rất khó để sắp xếp vào chức danh khác; mỗi chức danh CCCX khác đều có yêu cầu về tiêu chuẩn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và thông qua thi tuyển.

1.9. Về chế độ, chính sách tiền lương

Các chế độ, chính sách tiền lương đã được pháp luật quy định khá cụ thể, tuy nhiên, hiện nay còn thiếu đồng bộ, không ổn định, có điểm chưa hợp lý. Khối lượng công việc của CCCX ngày càng tăng và phức tạp hơn, do đặc thù của cấp cơ sở. Vì vậy, một số người có trình độ, năng lực không muốn trở thành CCCX hoặc CCCX xin nghỉ việc dẫn đến tình trạng thiếu công chức tại các địa phương. Tiền lương CCCX hiện được hưởng như công chức cấp huyện trở lên nhưng khi có yêu cầu chuyển CCCX thành công chức cấp huyện phải có ít nhất 5 năm công tác, đảm bảo đủ tiêu chuẩn của ngạch công chức thì mới đủ tiêu chuẩn xem xét. Quy định này chưa phù hợp với việc đảm bảo sự liên thông trong đội ngũ công chức các cấp.

2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã

Một là, hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã đáp ứng mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức cấp xã trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp.

Đối với CCCX, do vị trí và đặc điểm của chính quyền cấp xã cũng như tính chất đặc thù nên pháp luật về CCCX đã có những quy định riêng về chính sách và chế độ đãi ngộ. Thời kỳ đầu, chưa có quy định được hưởng lương và chế độ bảo hiểm xã hội, sau đó có quy định khi đủ điều kiện về tuổi đời và về số năm công tác, CCCX được hưởng trợ cấp hàng tháng và nay được hưởng lương hưu; được bổ sung quyền lợi chuyển ngạch, được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực...

Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao trong quản lý, điều hành kinh tế - xã hội ở cơ sở, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy định pháp luật về công chức, công vụ nói chung và CCCX nói riêng bảo đảm điều chỉnh đầy đủ, toàn diện và đồng bộ các nội dung liên quan đến CCCX như: nghĩa vụ, quyền, tiêu chuẩn, tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật, chế độ, chính sách đãi ngộ... nhằm xây dựng đội ngũ CCCX đáp ứng yêu cầu thực hiện hiệu quả nhiệm vụ tại địa phương.

Hai là, hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã phù hợp với đặc điểm của tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã.

Đội ngũ CCCX có những đặc điểm riêng, đặc thù là những người thường sinh sống trên địa bàn công tác, gắn bó mật thiết với dân cư, trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giải quyết nhu cầu của người dân, bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội và duy trì trật tự, an ninh, an toàn xã hội trên địa bàn cấp xã. Do vậy, cần căn cứ vào nhiệm vụ của UBND cấp xã để có sự điều chỉnh các quy định về chức danh, tiêu chuẩn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng... đối với CCCX.

Quá trình hoàn thiện pháp luật về CCCX luôn gắn liền với thể chế về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã. Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã phân định thẩm quyền của chính quyền đô thị và nông thôn phù hợp với điều kiện, đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và đặc thù của các ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, sự khác biệt về tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ cũng như cán bộ, công chức cũa chính quyền phường và chính quyền xã chưa phù hợp với đặc điểm quản lý ở đô thị và nông thôn.

Trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước và đẩy mạnh phân quyền, phân cấp quản lý cho chính quyền địa phương các cấp, việc hoàn thiện pháp luật về CCCX phải đáp ứng cân đối giữa tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã và bảo đảm mục tiêu sắp xếp, thu gọn hợp lý các đơn vị hành chính cấp xã chưa đạt 50% tiêu chuẩn theo quy định về quy mô dân số, diện tích tự nhiên và giảm số lượng thôn, tổ dân phố.

Ba là, hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã phải đảm bảo nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo và Nhà nước quản lý công tác cán bộ.

Việc hoàn thiện pháp luật về CCCX phải xuất phát từ các quan điểm, chủ trương của Đảng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ CCCX nói chung. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII đã đề ra nhiệm vụ: “Rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách đối với cán bộ, công chức theo hướng khuyến khích cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ; lấy bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, hiệu quả thực thi nhiệm vụ để đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Xây dựng cơ chế, chính sách dãi ngộ, thu hút, trọng dụng nhân tài”.

Hoàn thiện pháp luật về CCCX, cần quán triệt yêu cầu của Nghị quyết số 39-NQ/TVV ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, đó là: “Đẩy mạnh thực hiện kiêm nhiệm đối với một số chức danh của cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp xã, nhất là kiêm nhiệm đối với các chức danh cán bộ không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, tổ dân phố. Khoán kinh phí chi trả phụ cấp để khuyến khích giảm dần số lượng những người hoạt động không chuyên trách và tăng thu nhập của CCCX. Cần sửa đổi Quy định về CCCX theo hướng tinh gọn, giảm bớt chức danh theo tinh thần Kết luận số 64-KL/TVV ngày 28/5/2013 của Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khóa Xl(4). Quán triệt tinh thần của Nghị quyết số 18/NQ- TW (khóa XII) “Sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã và quy định khung số lượng cán bộ, CCCX cho phù hợp theo hướng xác định rõ vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh, đặc thù của địa phương và bảo đảm tinh giản biên chế”(5).

Bốn là, hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã phải bảo đảm tính đồng bộ với các lĩnh vực pháp luật có liên quan, tính kế thừa và tính hiện đại.

Đội ngũ CCCX chịu sự điều chỉnh pháp luật của các lĩnh vực pháp luật khác nhau, vì vậy việc hoàn thiện pháp luật về CCCX cần phải xem xét đến yếu tố này. Để đảm bảo tính kế thừa, cần tổng kết, đánh giá toàn diện về phạm vi, nội dung điều chỉnh và so sánh với kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật để chọn lọc, tiếp tục áp dụng những quy định hợp lý và bổ sung những quy định mới. Khi nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về CCCX cần xem xét các yếu tố về hội nhập quốc tế cũng như đặc điểm trong giai đoạn phát triển của đất nước để có những điều chỉnh phù hợp.

Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về CCCX nhằm khắc phục các hạn chế, đồng thời góp phần xây dựng đội ngũ CCCX chuyên nghiệp, hiện dại, hoàn thành tốt nhiệm vụ Nhà nước giao./.

TS. Trần Thị Hạnh - Viện trưởng Viện nghiên cứu và phát triển, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

-------------------------------------------------------------------

Ghi chú:
(1) Quốc hội, Luật cán bộ, công chức năm 2008.
(2) Bộ Nội vụ, Điều 2, Thông tư số 06/2012/TT- BNV ngày 30/10/2012 hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn.
(3) Chính phủ, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 về công chức xã, phường, thị trấn.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ưong khóa XI, Nxb CTQG, H.2013.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 18-NQ/TVV Hội nghị Trung Ương lần thứ 6 (khóa XII) “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị .

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch

Ngày đăng 04/05/2020
Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên để góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là nhiệm vụ rất quan trọng trong giai đoạn các bộ, ngành, địa phương đang tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Giải pháp tinh giản biên chế

Ngày đăng 08/04/2020
Thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị khóa XI về “tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”; Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 về “tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập” đã thu được một số kết quả cụ thể. Tuy nhiên, nhìn tổng thể các kết quả này chưa phản ánh đủ tinh thần tinh giản biên chế, xây dựng tổ chức bộ máy gọn nhẹ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, xã hội hóa và tăng tính tự chủ các hoạt động sự nghiệp. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân, cần được đánh giá một cách khách quan.

Càng khó khăn, phức tạp cán bộ, đảng viên càng phải gương mẫu, đi đầu

Ngày đăng 06/04/2020
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh càng trong gian khó, hiểm nguy càng đòi hỏi vai trò tiền phong, gương mẫu, đi đầu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Không chỉ trong kháng chiến mà cả trong hòa bình, vào những lúc “nước sôi, lửa bỏng”, trong gian khó, hiểm nguy, trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm của đất nước, càng đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên thể hiện rõ tính tiền phong, gương mẫu.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đường lối hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước

Ngày đăng 11/03/2020
Tư tưởng chủ yếu của đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta là: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nâng cao vị thế đất nước, vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo trong các cơ quan nhà nước ở Việt Nam

Ngày đăng 10/03/2020
Phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo của các cơ quan nhà nước để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp là việc xây dựng nền tảng hệ giá trị nhằm thúc đẩy sự đam mê, khát vọng, động lực kinh doanh, sự tự tin, biết chấp nhận rủi ro để bắt đầu một sự nghiệp, phát triển sản phẩm mới, thị trường mới; nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh của mọi cá nhân, tổ chức đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Tiêu điểm

Nổi lửa, giữ lửa và cái chớp mắt lịch sử

“Lửa” chống tham nhũng, “lửa” nhiệt huyết phát triển kinh tế cùng bùng lên trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng. Nổi lửa khó khăn, nhưng giữ lửa còn khó khăn hơn khi một nhiệm kỳ, theo nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, “chỉ là cái chớp mắt của lịch sử”.