Hà Nội, Ngày 04/06/2020

Vai trò của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực trong việc cơ cấu lại đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn bộ máy, nâng cao tự chủ và đẩy mạnh xã hội hóa

Ngày đăng: 06/06/2019   02:38
Mặc định Cỡ chữ
Ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã có Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó xác định rõ mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể và một số nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW, Chỉnh phủ đã ban hành Chương trình hành động kèm theo Nghị quyết số 08/NQ- CP với 52 nhiệm vụ và giao trách nhiệm cụ thể cho từng bộ, ngành và địa phương thực hiện. Bài viết tập trung phân tích, làm rõ một số vấn đê cần nghiên cứu khi xây dựng và hoàn thiện thể chế liên quan đến đổi mới, sắp xếp, nâng cao tỉnh tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập và đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

1. Khái quát một số nhiệm vụ đặt ra theo tinh thần và nội dung Nghị quyết số 19-NQ/TW

1.1 Một số chỉ tiêu cơ bản

Về số lượng đơn vị sự nghiệp công lập: giảm tối thiểu 10% cho mỗi giai đoạn (đến năm 2021 và đến năm 2025). Đến năm 2030 chỉ duy trì các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, quản lý nhà nước và cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.

Về số đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính: phấn đấu đạt 10% cho mỗi giai đoạn (đến năm 2021 và đến năm 2025). 

Về số đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác: phấn đấu đến năm 2025 đạt 100% đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác chuyển đổi thành công ty cổ phần (trừ bệnh viện, trường học).

Về số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập: giảm tối thiểu 10% tương ứng với mỗi giai đoạn (đến năm 2021 tính theo số năm 2015, đến năm 2025 tính theo số năm 2021 và đến năm 2030 tính theo số năm 2025).

Về chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp: phấn đấu giảm bình quân 10% cho mỗi giai đoạn (2016-2020, 2021-2025) và 15% cho giai đoạn 2025-2030.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

1.2 Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

Nghị quyết số 19-NQ/TW đã xác định một số nhiệm vụ, giải pháp cần triển khai ngay để sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập thuộc 07 lĩnh vực sự nghiệp (giáo dục và đào tạo; giáo dục nghề nghiệp; y tế; khoa học và công nghệ; văn hóa, thể dục, thể thao; thông tin và truyền thông; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác) và một số nhiệm vụ, giải pháp có tính dài hạn như: 1) Đẩy mạnh cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường, thúc đẩy xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công; 2) Nâng cao năng lực quản trị của đơn vị sự nghiệp công lập; 3) Hoàn thiện cơ chế tài chính; 4) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Để thực hiện hiệu quả các giải pháp nêu trên, bên cạnh việc chủ động vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương (với tư cách là cơ quan quản lý đơn vị sự nghiệp) và nhu cầu tự đổi mới, nâng cao năng lực của các đơn vị sự nghiệp công lập thì vai trò của các bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành công trong việc đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

2. Vai trò của bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp

Trên cơ sở chỉ tiêu đặt ra trong việc sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW, bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

Một là, giảm số lượng đơn vị sự nghiệp công lập, chỉ duy trì các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, quản lý nhà nước và cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.
Trong một xã hội phát triển, nhu cầu thụ hưởng các dịch vụ sự nghiệp công ngày càng cao cả về chất lượng và số lượng dịch vụ. Trong điều kiện nguồn lực của Nhà nước còn hạn chế, việc xác định phạm vi cung ứng dịch vụ sự nghiệp công thuộc trách nhiệm của Nhà nước là cần thiết. Vì vậy, bên cạnh việc xác định các dịch vụ sự nghiệp có tính chất phục vụ quản lý nhà nước và các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu Nhà nước cần tổ chức cung ứng, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp cần nghiên cứu rà soát và lập danh mục các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong đó bao gồm các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu thuộc ngành, lĩnh vực trong từng giai đoạn.

Để xác định được một dịch vụ sự nghiệp công theo ngành, lĩnh vực, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực cần làm rõ một số yếu tố cơ bản của dịch vụ đó, gồm: có khả năng xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật; xác định được tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng; dự báo được lộ trình tính giá đầy đủ.

Trên cơ sở danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách, bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp cần phân loại các dịch vụ sự nghiệp công tùy theo mức độ khả năng xã hội hoá, bảo đảm phù hợp với lộ trình tính giá đầy đủ đối với từng loại dịch vụ sự nghiệp công. Theo đó, cần phải tổng rà soát, đánh giá năng lực cung ứng dịch vụ sự nghiệp công của các đơn vị sự nghiệp trong và ngoài công lập theo ngành, lĩnh vực để xây dựng hoặc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực, phù hợp với định hướng đẩy mạnh xã hội hóa, đáp ứng yêu cầu từng bước thu gọn đầu mối, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công của các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực.

Quy hoạch này cần bao quát các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập và hoạt động theo ngành, lĩnh vực đang do các bộ, ngành Trung ương và địa phương quản lý (các cơ quan này có trách nhiệm chỉ đạo định hướng sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập do mình quản lý gửi bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp tổng hợp trong quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực).

Hai là, tăng số đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính.

Cùng với nhiệm vụ sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực, việc tạo cơ chế thúc đẩy các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động với khả năng tự chủ tài chính ngày càng cao là yêu cầu cấp thiết. Để thực hiện mục tiêu này, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực cần tập trung vào một số nhiệm vụ sau:

Xác định, phân loại dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực thực hiện theo cơ chế phí và dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực thực hiện theo cơ chế giá dịch vụ trong từng giai đoạn theo nguyên tắc chuyển dần từ áp dụng cơ chế phí sang thực hiện theo cơ chế giá dịch vụ (đủ bù đắp chi phí và có tích lũy đối với hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công của đơn vị sự nghiệp công lập). Trên cơ sở đó, xây dựng cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực tạo cơ sở pháp lý để thực hiện phương án tự chủ theo từng mức: tự chủ một phần chi thường xuyên; tự chủ chi thường xuyên; tự chủ chi thường xuyên và một phần chi đầu tư; tự chủ chi thường xuyên và chi đầu tư.

Để có cơ sở xác định phí, giá dịch vụ, bộ quản lý ngành, lĩnh vực cần hoàn thiện định mức kinh tế - kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng tương ứng với tính chất dịch vụ sự nghiệp công. Hai vấn đề này cần được nghiên cứu để quy định phù hợp với trình độ phát triển khoa học và công nghệ của ngành, lĩnh vực, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, mức thu nhập và khả năng chi trả của đối tượng thụ hưởng dịch vụ sự nghiệp công trong từng giai đoạn.

Về nguyên tắc, khi thực hiện tự chủ tài chính, đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm cung ứng bình đẳng về chất lượng dịch vụ đối với mọi đối tượng thụ hưởng. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi cho các đối tượng người nghèo, đối tượng chính sách, bộ quản lý ngành, lĩnh vực cần xây dựng chính sách và thực hiện phương thức hỗ trợ trực tiếp đối với đối tượng người nghèo, đối tượng chính sách khi thụ hưởng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.

Ba là, chuyển đổi đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác thành công ty cổ phần (trừ bệnh viện, trường học).

Việc chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần là một giải pháp mang tính đột phá, thay đổi về mô hình quản trị (từ cơ chế thủ trưởng sang cơ chế hội đồng), thay đổi về sở hữu (từ sở hữu nhà nước sang đa sở hữu có sự tham gia của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước), về cơ bản, các dịch vụ sự nghiệp thuộc ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đổi từ đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần là những dịch vụ có tính xã hội hóa cao, khu vực ngoài nhà nước thực hiện có có khả năng đem lại hiệu quả cao hơn khu vực nhà nước. Giá của các loại dịch vụ này cơ bản thực hiện theo nguyên tắc thị trường và được điều chỉnh phù hợp với tính chất thụ hưởng dịch vụ (với mục đích sinh hoạt thì giá được Nhà nước kiểm soát theo khung giá, với mục đích kinh doanh thì thực hiện theo giá thị trường). Danh mục các ngành, lĩnh vực này cần được các bộ quản lý ngành, lĩnh vực rà soát, hoàn thiện theo từng giai đoạn trên cơ sở nghiên cứu thị trường, khả năng cung ứng của khu vực ngoài nhà nước và lộ trình chuyển đổi từ phí sang giá đối với dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực.

Bốn là, giảm số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Việc thực hiện chỉ tiêu này gắn với kết quả thực hiện các giải pháp về tăng số đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính (trên cơ sở giá dịch vụ được tính đúng, đủ theo cơ chế thị trường có sự kiểm soát của Nhà nước) và chuyển đổi đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác thành công ty cổ phần (trên cơ sở hoàn thiện danh mục ngành, lĩnh vực hoạt động mà đơn vị sự nghiệp công lập phải chuyển thành công ty cổ phần).

Việc giảm số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực thực sự có ý nghĩa khi thực hiện cơ chế xã hội hóa sẽ giúp Nhà nước đáp ứng một phần quan trọng đối với việc cung ứng dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực trong bối cảnh nhu cầu của người dân và xã hội ngày càng tăng cao. Vì vậy, để thực hiện chỉ tiêu này, bên cạnh việc thực hiện các giải pháp một cách chủ động từ phía các cơ quan nhà nước, bộ quản lý ngành, lĩnh vực cần nghiên cứu các chính sách khuyến khích các thành phần ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực để đáp ứng nhu cầu (cả về chất lượng và số lượng) ngày càng cao của người dân và xã hội. Qua đó, giảm áp lực tăng số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập đối với một số ngành, lĩnh vực (gián tiếp thực hiện mục tiêu giảm số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực).

Năm là, giảm chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp.

Trên cơ sở danh mục dịch vụ sử dụng ngân sách nhà nước, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp cần tiếp tục phân loại theo nguyên tắc: các dịch vụ thiết yếu thì Nhà nước bảo đảm kinh phí; các dịch vụ cơ bản thì Nhà nước hỗ trợ kinh phí; các dịch vụ mang tính đặc thù theo ngành, lĩnh vực thì Nhà nước thực hiện theo cơ chế đặt hàng hoặc đấu thầu để tạo điều kiện cho các cơ sở ngoài công lập cùng tham gia (giá của nhóm dịch vụ này về cơ bản cần được tính đầy đủ chi phí nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc không vì mục tiêu lợi nhuận); các dịch vụ khác thì đẩy mạnh thực hiện cơ chế xã hội hóa, huy động sự tham gia cung ứng của các thành phần kinh tế (giá của nhóm dịch vụ này về cơ bản được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận giữa đơn vị cung ứng dịch vụ với đối tượng thụ hưởng dịch vụ, bảo đảm phù hợp với khung giá do Nhà nước quy định); các loại dịch vụ thuộc ngành, lĩnh vực do doanh nghiệp cung ứng (Nhà nước không thành lập các đơn vị sự nghiệp công lập hoặc chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập đang cung ứng các dịch vụ này thành doanh nghiệp).

Ngoài việc phân loại các dịch vụ sự nghiệp công để có cơ chế đảm bảo hoặc hỗ trợ từ phía Nhà nước, việc bố trí kinh phí đối với hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cần được thực hiện theo cơ chế đấu thầu, đặt hàng, bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng giữa các đơn vị sự nghiệp trong và ngoài công lập trong việc cung ứng dịch vụ sự nghiệp công. Qua đó, hiệu quả sử dụng kinh phí nhà nước sẽ được gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công. Các đơn vị sự nghiệp công lập không có khả năng cung ứng hoặc cung ứng dịch vụ công không hiệu quả sẽ được sắp xếp lại (hợp nhất, sáp nhập hoặc giải thể), khắc phục việc bố trí kinh phí theo số lượng biên chế sự nghiệp tại các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động không hiệu quả. Theo đó, Nhà nước có cơ sở phân loại, quản lý và đầu tư có trọng điểm để nâng cao năng lực các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động có hiệu quả, sắp xếp, kiện toàn, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp hoạt động không hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Sáu là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Đổi mới, nâng cao tính tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập với mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực vừa là mục tiêu, vừa là đối tượng của hoạt động quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực thuộc trách nhiệm của bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp. Vì vậy, để quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công phát triển theo đúng định hướng, bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp cần hoàn thiện tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, bảo đảm người dân và xã hội được thụ hưởng chất lượng hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công tương ứng với mức phí, giá dịch vụ mà họ đóng góp, chi trả. Đồng thời, qua hoạt động giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng dịch vụ sự nghiệp công (sự phù hợp đối với các tiêu chuẩn, điều kiện tổ chức, hoạt động và mức độ hài lòng của các đối tượng thụ hưởng dịch vụ sự nghiệp công) với mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, các cơ quan quản lý sẽ thực hiện việc bố trí kinh phí theo chất lượng kết quả đầu ra của hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công do các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp./.

TS.Vũ Hải Nam – Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức – Biên chế, Bộ Nội vụ
 

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Một số định hướng nghiên cứu cơ bản của Bộ Nội vụ trong thời gian tới

Ngày đăng 29/05/2020
Ngày 16/10/2015, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ký ban hành Quyết định số 1585/QĐ-BNV Phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và Công nghệ của ngành Nội vụ giai đoạn 2015 - 2025. Chiến lược đã đưa ra những định hướng nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ ngành Nội vụ cụ thể trong từng lĩnh vực thuộc ngành Nội vụ.

Khung chính sách đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ

Ngày đăng 29/05/2020
Hiện nay, đang còn nhiều quan điểm khác nhau về người có tài năng; nội dung chính sách đối với người có tài năng và cách thức áp dụng chính sách đối với người có tài năng để đạt mục tiêu đề ra. Bài viết trình bày một số quan điểm và khung chính sách đối với người có tài năng; đề xuất, kiến nghị về hoàn thiện chính sách thu hút và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ ở Việt Nam.

Chính sách thu hút nguồn nhân lực cho vùng dân tộc thiểu số của Australia và những gợi mở đối với Việt Nam

Ngày đăng 27/05/2020
Bài viết giới thiệu khái quát chính sách thu hút nguồn nhân lực của Australia với mục tiêu phát triển bền vững cộng đồng người bản địa và từng bước thu hẹp khoảng cách giữa người bản địa với các nhóm khác trong xã hội; qua đó kiến nghị một số nội dung Việt Nam có thể nghiên cứu, vận dụng trong việc xây dựng chủ trương, chính sách thu hút nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng dân tộc thiểu số đạt hiệu quả.

Một cách tiếp cận đối với tư tưởng, quan điểm và các nội dung sửa đổi Luật Thanh niên năm 2005

Ngày đăng 26/05/2020
Thanh niên là mùa xuân của dân tộc, là tương lai của đất nước. Cho nên các quốc gia đều có các chính sách để thanh niên phát triển, tu dưỡng, rèn luyện và học tập, cống hiến và lập thân, lập nghiệp. Ngược lại, với sức trẻ, nhiệt huyết và ước mơ của mình, thanh niên cũng có trách nhiệm với bản thân, với gia đình và Tổ quốc. Tháng 01/1955, tại Trường Đại học nhân dân Việt Nam, Bác Hồ đã nói: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì, mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà”. Tổng thống Mỹ John F.Kennedy cũng đã nói với thanh niên Mỹ vào ngày 20/01/1961: “Đừng hỏi Tổ quốc có thể làm gì cho bạn, hãy hỏi bạn có thể làm gì cho Tổ quốc”. Có thể tiếp cận từ góc độ này để xác định tư tưởng, quan điểm và nội dung cần sửa đổi Luật Thanh niên năm 2005.

Bảo đảm sự tham gia của người dân trong xây dựng chính sách công ở Việt Nam

Ngày đăng 11/05/2020
Việc triển khai thực hiện một số chính sách công ở Việt Nam thời gian qua cho thấy còn có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các nội dung, khó đi vào cuộc sống, gây lãng phí, tốn kém và không phù hợp với năng lực thực thi của địa phương, dẫn đến cản trở sự phát triển của đời sống xã hội - mà một trong những nguyên nhân quan trọng là thiếu sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng chính sách công. Bài viết phân tích, lý giải tầm quan trọng và đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng, hoạch định chính sách công.

Tiêu điểm

Nổi lửa, giữ lửa và cái chớp mắt lịch sử

“Lửa” chống tham nhũng, “lửa” nhiệt huyết phát triển kinh tế cùng bùng lên trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng. Nổi lửa khó khăn, nhưng giữ lửa còn khó khăn hơn khi một nhiệm kỳ, theo nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, “chỉ là cái chớp mắt của lịch sử”.