Hà Nội, Ngày 17/06/2024

Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị địa phương ở Việt Nam 

Ngày đăng: 23/04/2019   15:45
Mặc định Cỡ chữ
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, quyết sách quan trọng về đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, trong đó có chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bài viết tập trung phân tích và nhấn mạnh nếu quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị địa phương ở Việt Nam sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam.
Ảnh minh họa: internet

1. Khái niệm và đặc điểm của quản trị địa phương

Quản trị địa phương (Local Governance) là một trong 3 cấp độ của quản trị, đó là quản trị toàn cầu, quản trị quốc gia, quản trị địa phương. Quản trị địa phương bao gồm những thiết chế nhà nước và cả những thiết chế phi nhà nước ở tầm địa phương như: các quy phạm xã hội (quy ước, hương ước, tập tục) các mạng lưới xã hội, các tổ chức cộng đồng…, khuôn khổ cho các mối tương tác giữa công dân và công dân, công dân và nhà nước, cơ chế ra quyết định, cung cấp dịch vụ công ở cấp địa phương. 
Có thể nêu một số đặc điểm cơ bản của quản trị địa phương như sau:
- Quản trị địa phương gắn với các công việc của địa phương và lợi ích của nhân dân địa phương. Do đó, quá trình quản trị cần căn cứ vào đặc điểm, nguồn lực của địa phương và nhu cầu của người dân địa phương để xây dựng kế hoạch chiến lược cho địa phương.
- Chủ thể của quản trị địa phương là cộng đồng dân cư địa phương, bao gồm các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ… và công dân đang sinh sống, hoạt động tại lãnh thổ địa phương. Sự tham gia của các chủ thể vào quản trị địa phương được thực hiện dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Chính quyền địa phương có quyền tự quản nhất định trong xây dựng và quản lý bộ máy của mình.
- Quản trị địa phương tại mỗi cấp có quyền tự quản nhất định về chức năng, nhiệm vụ, bộ máy, ngân sách phù hợp với điều kiện của địa phương theo quy định của pháp luật.
- Quản trị địa phương chịu sự kiểm soát của chính quyền trung ương.
Quản trị địa phương chịu sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố sau:
- Trình độ dân trí và mức độ tự ý thức về quyền công dân.
- Mức độ tham gia của các tổ chức xã hội vào quản trị địa phương.
- Trách nhiệm báo cáo và giải trình.

2. Xu hướng hoạt động của chính quyền địa phương theo nguyên tắc tự quản trên thế giới 

Năm 1985, Liên minh châu Âu đã thông qua Công ước về tự quản địa phương, do đó những nước muốn gia nhập Liên minh châu Âu phải tham gia Công ước này.  Hiến chương châu Âu về chính quyền tự quản địa phương có hiệu lực từ ngày 01/9/1988 đã được trên 30 nước châu Âu phê chuẩn và được các nước Trung Âu, Đông Âu sử dụng như một văn bản hướng dẫn về chính quyền địa phương trong xây dựng hiến pháp và các văn bản pháp lý liên quan. Theo Hiến chương châu Âu, tự quản địa phương là quyền và các khả năng thực tế của các địa phương, trong khuôn khổ các đạo luật, quy định và xây dựng một phần chủ yếu các công việc tại địa phương, trong sự tự chịu trách nhiệm, vì hạnh phúc của nhân dân tại địa phương mình.
Theo quan điểm của Liên minh châu Âu, mô hình “quản trị nhà nước tốt” cần đảm bảo một số yếu tố: 1) Một hệ thống chính trị và pháp luật tôn trọng sự tự do và các quyền hợp pháp của con người; 2) Tồn tại trong một nhà nước pháp quyền; 3) Có sự phân chia quyền lực; 4) Có sự tham gia của nhiều chủ thể vào quản lý; 5) Quản lý có hiệu quả các nguồn lực công(1). 
Quản trị nhà nước tốt được xây dựng trên cơ sở 8 nguyên tắc cơ bản(2): huy động sự tham gia của các chủ thể trong xã hội vào quản trị nhà nước; quản lý bằng pháp luật; công khai, minh bạch; thích ứng và linh hoạt; định hướng và đồng thuận; công bằng và bình đẳng; hiệu lực và hiệu quả; trách nhiệm giải trình.

3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị địa phương ở Việt Nam 

Chính quyền địa phương Việt Nam từ Hiến pháp năm 1946 đến nay có nhiều đóng góp to lớn vào việc thiết lập, củng cố chính quyền nhân dân, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. 
Theo quy định hiện hành, chính quyền địa phương Việt Nam gồm cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (Hội đồng nhân dân) và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Ủy ban nhân dân). Khác với chế độ tự quản địa phương của một số nước, chính quyền địa phương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (Hội đồng nhân dân) do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập trên cơ sở các cơ quan quyền lực nhà nước này theo quy định của pháp luật nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hoà giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước. 
Gắn với chính quyền địa phương có quản trị địa phương là một khái niệm rộng hơn. Theo đó, cần phải xây dựng các hệ thống nguyên tắc để định hình hệ thống chính quyền địa phương hiệu quả, mang tính đại diện, hiểu biết và được sự ủng hộ của người dân.
Trong quản trị địa phương ở Việt Nam cần xem tiếng nói của người dân có mối quan hệ đồng đẳng với chính quyền. Làm thế nào để người dân tham gia ngày càng nhiều vào quản lý nhà nước, đối thoại với chính quyền, đóng góp vào việc xây dựng các chính sách công, nhằm hướng đến sự phát triển bền vững của địa phương. Những năm qua, quản trị địa phương ở Việt Nam bên cạnh những ưu điểm thì vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục như: quyết định quản lý còn thiếu sự sáng tạo, linh hoạt, nhanh nhạy trước những tác động của môi trường quốc tế; sự tham gia của các tổ chức xã hội vào quản trị địa phương chưa cao; nhân sự quản trị địa phương chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của quản lý địa phương trong bối cảnh hội nhập quốc tế, một bộ phận cán bộ, công chức địa phương có trình độ chuyên môn, trình độ quản lý, trình độ lý luận, ngoại ngữ, tin học còn yếu và chưa được đào tạo có tính hệ thống, thậm chí có biểu hiện sa sút về phẩm chất, quan liêu, xa dân, tham nhũng. Việc giám sát của người dân đối với công việc chính quyền ở một số nơi còn mang nặng tính hình thức…

Vì vậy, hướng tới xây dựng một nền quản trị địa phương ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu của người dân và nâng cao trách nhiệm giải trình, cần quan tâm đến các yếu tố sau đây:

Một là, tiếp tục tăng cường sự tham gia của các chủ thể vào quản trị địa phương.
Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Quy định này cho phép sự đa dạng về hình thức thực hiện quyền lực của nhân dân hơn so với Hiến pháp năm 1992, đặc biệt thể hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp đã làm rõ hơn, sâu sắc hơn vai trò làm chủ của nhân dân. 
Trong thời gian tới, Đảng và Nhà nước cần quan tâm nhiều hơn đến việc ban hành và thực hiện các thể chế về dân chủ trực tiếp, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tự mình trực tiếp quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia cũng như của mỗi địa phương, thể hiện đúng bản chất của Nhà nước ta. Bên cạnh đó, khuyến khích sự tham gia nhiều hơn của doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức kinh tế tư nhân, các tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức tình nguyện, các hội và tổ chức cộng đồng ở địa phương, tạo dựng niềm tin cho các chủ thể này tại địa phương, thu hẹp dần những rào cản đối với chính quyền địa phương.

Hai là, chú trọng xây dựng nguồn nhân lực quản trị địa phương đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, hiện đại, chống tham nhũng.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Vô luận việc gì đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả”(3); “cán bộ là gốc của mọi công việc”(4). 
Nguồn lực con người là yếu tố hàng đầu của tổ chức. Cùng với sự hình thành của kinh tế tri thức, hàm lượng và vai trò tri thức của người lao động tăng lên. Do đó, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành nguồn lực quan trọng nhất, có ý nghĩa chiến lược trong thời đại ngày nay. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá VIII đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ”.

Tất cả những yếu tố như sự hiểu biết, trình độ nghề nghiệp, trình độ giác ngộ chính trị, tình cảm và tâm lý lợi ích bản thân, gia đình… của mỗi cán bộ, công chức đều ảnh hưởng đến mức độ thực hiện công việc. Phải có cơ chế phát hiện nhân tài, quyết tâm dùng nhân tài, có chính sách đãi ngộ thoả đáng để người tài yên tâm công tác, làm việc, cống hiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Phải tạo cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Khi họ đau ốm phải có thuốc thang. Tùy theo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyết vấn đề gia đình. Những điều đó rất quan hệ đến tinh thần của cán bộ”(5). Phải có chế độ công vụ nghiêm ngặt làm cho cán bộ, công chức hiểu rõ hơn về bổn phận, trách nhiệm và quyền năng, an tâm trong cuộc sống riêng, không nghĩ tới những hành vi sách nhiễu dân, coi đó như những “thủ tục đầu tiên” khi giải quyết công việc theo yêu cầu, để xây dựng chính quyền địa phương vững mạnh, Nhà nước trọng sạch, vững mạnh. 
Trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện việc xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá, thẩm định của người dân về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương. Sự hài lòng của người dân khi giải quyết công việc sẽ là thước đo xác thực để đánh giá đạo đức, năng lực của cán bộ, công chức địa phương hiện nay.

Ba là, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội địa phương, kết hợp nâng cao trình độ dân trí và mức độ tự ý thức về quyền dân chủ ở địa phương.
Phát triển kinh tế - xã hội địa phương là các hoạt động được thực hiện bởi các chủ thể quản trị địa phương (chính quyền địa phương, các hiệp hội, doanh nghiệp…). Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương có phù hợp, khả thi, hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều yếu tố: tài chính địa phương, năng lực quản trị địa phương, doanh nghiệp tại địa phương, vật chất và con người, chủ trương của Đảng và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong việc phát triển cộng đồng như giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nhà ở, đô thị hóa, giáo dục… Việc xác định rõ vai trò, nhiệm vụ, trách nhiệm của từng cơ quan, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp trong quá trình lập kế hoạch và cơ chế chịu trách nhiệm của các chủ thể trong lập, theo dõi tiến độ thực hiện, đánh giá hiệu quả kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương có tác dụng khuyến khích tinh thần tự nguyện tham gia và thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt nội dung của phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” ở những mặt công tác sau: xây dựng cơ chế lấy ý kiến phản hồi của người dân về sử dụng dịch vụ công; tăng cường công tác kiểm tra, khen thưởng kịp thời những tổ chức, cá nhân thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở; đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật để nhân dân hiểu rõ về những nội dung dân được biết, dân được bàn và tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình ban hành các quyết định quản lý của chính quyền địa phương, những việc người dân quyết định và những việc dân được kiểm tra; thực hiện tốt việc niêm yết, công khai, minh bạch các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, công khai tài chính, các khoản huy động đóng góp của nhân dân; phổ biến nhanh chóng việc sử dụng công nghệ thông tin để nhân dân tham gia truy cập, mở mang kiến thức, nhất là trong thời đại hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0; khuyến khích người dân bày tỏ ý kiến với chính quyền trong khuôn khổ của pháp luật.

Bốn là, nâng cao trách nhiệm giải trình, gia tăng tính chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương.
Xác định rõ trách nhiệm báo cáo của các cơ quan công quyền, công chức nhà nước về những hoạt động của mình trước các chủ thể theo quy định của pháp luật là cách thức để đo lường hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương. Thực hiện tốt trách nhiệm giải trình đối với cơ quan cấp trên, đối với cơ quan dân cử, đối với khu vực tư nhân, các tổ chức xã hội, công chúng và các bên liên quan góp phần loại bỏ nhiều vấn đề tiêu cực trong nội bộ các cơ quan thực thi công quyền như: nạn tham ô, lạm dụng quỹ, độc đoán, bè phái, thiếu tuân thủ luật pháp, thiếu công khai, minh bạch trong hoạt động thu chi tài chính. Nội dung giải trình là những nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật quy định cho từng vị trí, chức danh cụ thể. 
Hiệu quả quản trị địa phương thể hiện thông qua việc xác định tầm nhìn chiến lược, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển, trực tiếp quản lý các công việc của địa phương, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của địa phương; tổ chức thực thi pháp luật, triển khai thực hiện các quyết định của Chính phủ ở địa phương, phản ánh tâm tư nguyện vọng, lợi ích của nhân dân và tạo điều kiện để nhân dân có nhiều cơ hội tham gia vào công việc của Nhà nước; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội tại địa phương./.

ThS. Lê Thị Lý - Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

--------------------------------------
Ghi chú: 
(1) Bài viết: “Quản trị địa phương và sự tham gia của nhân dân” đăng Báo Điện tử Đại biểu nhân dân, ngày 17/01/2014.
(2) Bell, Stephen, (2002), Economic Governance and Institutional Dynamics, Oxford University Press, Melbourne, Australia.
(3),(4),(5) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H.2005, tr.241, tr.269, tr.277.
Tài liệu tham khảo:
1. Hiến pháp Việt Nam năm 2013.
2. Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. 
3. Bùi Xuân Đức, Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay, Nxb Tư pháp, H.2004.
4. Lê Minh Thông - Nguyễn Như Phát, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay, Nxb CTQG, H.2002. 
5. Nguyễn Thị Phượng, Chính quyền địa phương trong việc bảo đảm thực hiện quyền công dân ở Việt Nam, Nxb Chính trị - Hành chính, H.2009.

tcnn.vn

Bình luận

Tin tức cùng chuyên mục

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Ngày đăng 10/06/2024
Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy, cơ quan, tổ chức, đảm bảo sự phát triển bền vững của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung. Bài viết phân tích thực trạng và kiến nghị giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm thực hiện thành công, hiệu quả Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.  

Nâng cao chất lượng “tự soi, tự sửa” của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở nhà trường quân đội hiện nay

Ngày đăng 08/06/2024
Học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các nhà trường quân đội (NTQĐ) là lực lượng đông đảo, chiếm đại bộ phận học viên hiện đang đào tạo tại các nhà trường trong toàn quân. Hiện nay, do tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của “một bộ không nhỏ” cán bộ, đảng viên đã phần nào tác động tiêu cực đến trách nhiệm, động cơ học tập, rèn luyện phẩm chất, năng lực của học viên ở các NTQĐ. Vì vậy, việc thường xuyên  “tự soi, tự sửa” của đội ngũ học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các NTQĐ nhằm phát hiện hạn chế, yếu kém của bản thân, từ đó tìm ra nguyên nhân, xác định giải pháp để ngăn ngừa, khắc phục, sửa chữa là yêu cầu khách quan, cấp thiết trong quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở các NTQĐ hiện nay.

Những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Nghị quyết số 27-NQ/TW

Ngày đăng 05/06/2024
Nghị quyết số 27-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ sáu khóa XIII về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tình hình mới” đã làm rõ hơn, phong phú và sâu sắc hơn những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là những nội dung cơ bản của bài viết này.

Đấu tranh chống chiêu trò lợi dụng tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm để chống phá Đảng và Nhà nước - Nhìn từ cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Ngày đăng 24/05/2024
Trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu, làm rõ thực trạng cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ; đồng thời vạch ra những nhiệm vụ, giải pháp để phòng trị, ngăn chặn thực trạng này. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn rất quan trọng để đấu tranh với những chiêu trò, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù định, lợi dụng hiện tượng một bộ phận CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm để chống phá Đảng và Nhà nước ta; đồng thời là cẩm nang quý để xây dựng đội ngũ CBCCVC toàn tâm, toàn ý phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, của Đảng, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Xây dựng văn hóa đổi mới trong cơ quan nhà nước

Ngày đăng 17/05/2024
Văn hóa đổi mới là một bộ phận cấu thành của văn hóa tổ chức, giúp xây dựng môi trường làm việc hấp dẫn hơn, phát huy tiềm năng sáng tạo của công chức, viên chức và làm tăng khả năng thích ứng của cơ quan nhà nước trước xu hướng biến đổi không ngừng của xã hội trong giai đoạn hiện nay. Để “tinh thần đổi mới” trở thành giá trị chung và xây dựng được văn hóa đổi mới trong các cơ quan nhà nước, đòi hỏi phải có một hệ thống các giải pháp mang tính đồng bộ và được thực hiện khả thi trong các cơ quan nhà nước.