Hà Nội, Ngày 01/04/2020

Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức nữ ở Việt Nam

Ngày đăng: 10/02/2020   04:23
Mặc định Cỡ chữ
Việt Nam là một trong những nước tích cực thực hiện bình đẳng giới trong xây dựng chính sách, pháp luật, đã phê chuẩn và chính thức trở thành thành viên của CEDAW (Công ước quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979) vào năm 1982. Việc thúc đẩy bình đẳng giới và vấn đề lồng ghép bình đẳng giới đối với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức nữ trong xây dựng pháp luật là điều cần thiết, nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương, đồng thời đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và pháp luật quốc tế về bình đẳng giới. 
Ảnh minh họa: tcnn.vn

1. Yêu cầu về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ trong xây dựng pháp luật 

1.1. Các văn bản của Đảng về vấn đề bình đẳng giới, yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng giới và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho phụ nữ

Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đặt ra nhiệm vụ: “Xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt hệ thống pháp luật, chính sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ. Xây dựng, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách bảo đảm tốt hơn quyền lợi chính đáng của phụ nữ, đặc biệt trong các lĩnh vực lao động, việc làm, giáo dục – đào tạo, dạy  nghề, hôn nhân gia đình, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ bà mẹ, trẻ em” 

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), có yêu cầu về việc: “Xây dựng và triển khai chiến lược quốc gia về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ, tập trung ở những vùng và khu vực có sự bất bình đẳng và nguy cơ bất bình đẳng cao… Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc, nhiệm vụ” 

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), tiếp tục đặt ra nhiệm vụ: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ, thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng. Nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện luật pháp và chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình trong gia đình và xã hội”.

1.2. Các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) quy định về bình đẳng giới, về bảo đảm các quyền lợi chính đáng của phụ nữ

Thực hiện các quan điểm của Đảng về bình đẳng giới, các quy định về bình đẳng giới và bảo đảm quyền của phụ nữ trong thực hiện nhiệm vụ được thể thể hóa tại nhiều văn bản QPPL như luật, nghị định, thông tư. Cụ thể:

Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định rõ về yêu cầu lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL, theo đó, khi xây dựng văn bản QPPL cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm xác định vấn đề giới và các biện pháp giải quyết trong lĩnh vực mà văn bản QPPL đó điều chỉnh. Theo quy định của Luật, “biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt, đối xử về giới”. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là “biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này”. 

Luật Bình đẳng giới quy định về dự báo tác động của những quy định tại văn bản QPPL khi được ban hành đối với nữ và nam, xác định nguồn lực để giải quyết vấn đề về giới và quy định về trách nhiệm của cơ quan thẩm định trong việc đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL. Việc đánh giá thẩm định bao gồm việc xác định vấn đề giới; các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới và tính khả thi của việc giải quyết vấn đề giới được điều chỉnh trong dự thảo văn bản QPPL. 

Cụ thể hóa các quy định tại Luật Bình đẳng giới năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới. Theo đó, một trong những biện pháp để thực hiện bình đẳng giới là: quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam để bảo đảm đạt đủ tiêu chuẩn chuyên môn và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật; hỗ trợ, tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam để tăng cường sự chia sẻ giữa nữ và nam trong công việc gia đình và xã hội phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới; quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam để thực hiện chính sách ưu tiên trong từng lĩnh vực cụ thể và quy định nữ được quyền lựa chọn và việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam để bảo đảm bình đẳng giới.

Nghị định cũng giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành trong đó có Bộ Nội vụ về việc: “Xây dựng, trình Chính phủ ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy định về quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ; quy định tỷ lệ nữ thích đáng để bổ nhiệm các chức danh trong các cơ quan nhà nước; quy định tỷ lệ nữ cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong các cơ quan, tổ chức có từ 30% lao động nữ trở lên phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; quy định tỷ lệ nam, nữ thích hợp, nữ được quyền lựa chọn hoặc ưu tiên nữ khi nữ đạt tiêu chuẩn như nam trong tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm”.

Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04/6/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới đã quy định rõ về trách nhiệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới, sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện bình đẳng giới trên cả nước. 

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã có nhiều quy định cụ thể và chi tiết về trách nhiệm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng dự án luật từ khi đề nghị xây dựng luật đến khi thẩm định, thẩm tra dự án luật (khoản 2 Điều 35, điểm d khoản 3 Điều 39, khoản 2 Điều 58, điểm d khoản 1 Điều 64 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015).

Nghị định số 56/2012/NĐ-CP ngày 16/7/2012 của Chính phủ quy định trách nhiệm của các bộ, ngành, UBND các cấp trong việc bảo đảm cho các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước. Theo đó, quy định trách nhiệm của các bộ, ngành và UBND các cấp trong việc mời Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, các văn bản QPPL, các chương trình, đề án, dự án liên quan đến quyền, lợi ích của phụ nữ, trẻ em, các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội thuộc chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương. 

Ngày 24/12/2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 2351/QĐ-TTg về chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020. Chiến lược đặt mục tiêu cụ thể, phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

Ngày 31/3/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 515/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2020. Đề án đưa ra các giải pháp cụ thể để thực hiện bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức như: tăng cường công tác quy hoạch, tạo nguồn, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức nữ bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới; thực hiện kiện toàn, sắp xếp, bổ nhiệm các chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp bảo đảm tỷ lệ nữ nhằm thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; ưu tiên lựa chọn nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định và trong quy hoạch chức vụ, chức danh.

2. Thực trạng các quy định về bình đẳng giới đối với cán bộ, công chức nữ trong văn bản quy phạm pháp luật hiện nay

2.1. Các quy định pháp luật về bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức

- Quy định pháp luật về bình đẳng giới trong đào tạo, bồi dưỡng, mang thai, nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đối với cán bộ, công chức, viên chức là nữ.

Trong thực hiện nhiệm vụ học tập, nâng cao trình độ, phụ nữ là cán bộ, công chức, viên chức được quan tâm và có các quy định pháp luật cụ thể để bảo vệ họ như: “Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ” . Quy định này xuất phát từ chính sách của Nhà nước ta trong việc bảo vệ đặc biệt đối với sự phát triển lành mạnh của trẻ em. Do đó, cán bộ, công chức nữ khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng có mang theo con nhỏ dưới ba mươi sáu tháng tuổi được Chính phủ hỗ trợ về: các hình thức đào tạo linh hoạt, phù hợp điều kiện, hoàn cảnh của nữ cán bộ, công chức, viên chức đang nuôi con nhỏ; hỗ trợ bằng tiền, tạo điều kiện về nơi ở, nơi gửi trẻ, trường mầm non khi nữ cán bộ, công chức, viên chức mang theo con đến cơ sở đào tạo, bồi dưỡng.

- Quy định pháp luật về bình đẳng giới trong lao động, việc làm đối với cán bộ, công chức là nữ.

Luật cán bộ, công chức năm 2008 có quy định về biệt phái công chức, nhằm rèn luyện chuyên môn, bản lĩnh người cán bộ, công chức; đồng thời khi thực hiện luân chuyển, biệt phái tạo điều kiện cho cán bộ, công chức tiếp xúc với nhiều mảng công việc khác nhau, nâng cao trình độ, kinh nghiệm thực tiễn trong thực thi nhiệm vụ. Đối với công chức là nữ, Luật có quy định cụ thể đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức: “Không thực hiện biệt phái đối với công chức nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi”. Đây được coi là một biện pháp nhằm thúc đẩy vấn đề bình đẳng giới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của người mẹ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, phù hợp pháp luật về bảo vệ, chăm sóc toàn diện trẻ em. 

Đối với vấn đề kỷ luật lao động, Bộ luật Lao động năm 2012 cũng đã dùng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới khi quy định về kỷ luật lao động dành cho đối tượng nữ. Theo đó, Bộ luật Lao động quy định người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động trong thời gian: “Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản, người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi”, gồm các trường hợp: “Nuôi con đẻ dưới 12 tháng tuổi; nuôi con nuôi hợp pháp theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình dưới 12 tháng tuổi; nuôi đứa trẻ mang thai hộ dưới 12 tháng tuổi đối với người lao động là người mang thai hộ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình”.

- Quy định pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị đối với cán bộ, công chức, viên chức là nữ.

Luật Bình đẳng giới quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, trong đó có các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị đối với đối tượng là cán bộ, công chức “bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới” và phụ nữ có quyền tự ứng cử, bình đẳng như nam giới khi được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, bình đẳng trong việc tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp. Điều này xuất phát từ chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, yêu cầu về đạt mục tiêu: “phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động”.

- Quy định pháp luật về bình đẳng giới trong hỗ trợ vật chất đối với cán bộ, công chức, viên chức là nữ.

Về hỗ trợ trong đền bù chi phí đào tạo đối với cán bộ, công chức là nữ:

Trong trường hợp cán bộ, công chức sau khi được cử đi đào tạo trình độ trung cấp trở lên bằng nguồn ngân sách nhà nước hoặc kinh phí của cơ quan quản lý, sử dụng, phải thực hiện đền bù chi phí đào tạo trong trường hợp: “Tự ý bỏ học, bỏ việc hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trong thời gian đào tạo; không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng tốt nghiệp; đã hoàn thành và được cấp văn bằng tốt nghiệp khóa học nhưng bỏ việc hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc khi chưa phục vụ đủ thời gian cam kết”.

Điều 9, Nghị định số 101/2017/NĐ-CP quy định điều kiện được giảm chi phí đền bù đào tạo, theo đó: “Mỗi năm công tác của cán bộ, công chức, viên chức (không tính thời gian tập sự và thời gian công tác sau khi được đào tạo) được tính giảm 1% chi phí đền bù. Trường hợp là nữ hoặc là người dân tộc thiểu số thì mỗi năm công tác được tính giảm tối đa 1,5% chi phí đến bù”.

2.2. Những “khoảng trống pháp luật” về bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức

- Quy định pháp luật về bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện đảm bảo an toàn, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 mà Việt Nam là thành viên, có quy định cho tất cả các quốc gia là thành viên trong việc cần có các biện pháp thích hợp để: “Sửa đổi các khuôn mẫu văn hóa - xã hội về hành vi của nam giới và phụ nữ, nhằm đạt được việc xoá bỏ những thành kiến, phong tục tập quán và tất cả những hành động khác mà dựa trên tư tưởng cho giới này là hơn, cho giới kia là kém, hoặc dựa trên nhận thức mang tính rập khuôn về vai trò của nam giới và phụ nữ” (Điều 5) do những lo ngại rằng sự phân biệt chống lại phụ nữ vẫn đang tồn tại ở rất nhiều nơi và chưa đảm bảo tích cực về an toàn cho phụ nữ trong môi trường làm việc. Để cụ thể hóa vấn đề này, hệ thống pháp luật Việt Nam cần có các quy định điều chỉnh về pháp luật đủ mạnh để đảm bảo an toàn môi trường làm việc cho phụ nữ, nhất là đối với cán bộ, công chức, viên chức nữ. Hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam đề cập chưa đầy đủ các quy định về việc đảm bảo sự an toàn của nữ cán bộ, công chức, viên chức trong môi trường làm việc; chưa có quy định cụ thể về việc chống quấy rối tình dục phụ nữ là cán bộ, công chức, viên chức tại nơi làm việc và còn khoảng trống pháp lý về chế tài xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự trong trường hợp hành động quấy rối tình dục gây hậu quả nghiêm trọng. 

- Quy định pháp luật về bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện chức năng thai sản, chăm sóc con nhỏ.

Pháp luật Việt Nam hiện nay đề cập chưa đầy đủ đến quyền lợi, nghĩa vụ như nhau giữa cán bộ, công chức, viên chức là nam và nữ trong việc chăm sóc con nhỏ, thực hiện chức năng thai sản và các vấn đề liên quan đến kế hoạch hóa gia đình. Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 đã có yêu cầu các quốc gia là thành viên: “phải áp dụng tất cả các biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, nhằm đảm bảo cho họ, trên cơ sở bình đẳng nam - nữ, được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bao gồm những dịch vụ liên quan đến kế hoạch hóa gia đình” (Điều 5). Và vấn đề này cần được cụ thể hóa trong luật và văn bản QPPL hướng dẫn thi hành ở nước ta. 

- Quy định pháp luật về bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện bảo vệ đời tư dẫn đến hạn chế tư cách pháp lý của phụ nữ.

Vấn đề bảo vệ đời tư, những bí mật cá nhân của phụ nữ là cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình sinh sống là điều quan trọng, đây có thể là những tài liệu chống lại họ trong quá trình cử đi đào tạo, bồi dưỡng hoặc cất nhắc, đề bạt, bổ nhiệm ở vị trí lãnh đạo. Đối với các tài liệu riêng tư, khi được phát tán hoặc cá nhân lợi dụng đưa thông tin không chính xác, ảnh hưởng đến uy tín, tư cách pháp lý của người phụ nữ là cán bộ, công chức, viên chức. Mặc dù, các thông tin được phát tán về đời tư không có căn cứ và không là điều kiện để làm căn cứ cất nhắc, đề bạt, bổ nhiệm, cử đi đào tạo, bồi dưỡng nhưng trên thực tế có ảnh hưởng đến tâm lý, quy trình, có tác động pháp lý xấu đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức. Điều này cần được nghiên cứu để cụ thể hóa bằng QPPL, có chế tài xử phạt và răn đe, để kẻ xấu không lợi dụng nhằm “triệt hạ”, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của phụ nữ là cán bộ, công chức, viên chức. Đây cũng là yêu cầu của Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 đối với các quốc gia thành viên: “tất cả các hợp đồng và tất cả các tài liệu riêng tư khác, dưới bất kỳ dạng nào mà có tác động pháp lý dẫn đến việc hạn chế tư cách pháp lý của phụ nữ, sẽ bị coi là vô giá trị và không có hiệu lực thi hành”.

3. Giải pháp lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật đối với cán bộ, công chức nữ

Một là, vấn đề bình đẳng giới cần được sự quan tâm sát sao, quyết liệt và có hiệu quả hơn nữa của Đảng, Quốc hội, Chính phủ trong việc chỉ đạo thể chế hóa các quan điểm của Đảng về bình đẳng giới, chống phân biệt về giới, đảm bảo các quyền của phụ nữ là cán bộ, công chức trong hệ thống luật pháp ở nước ta. 

Hàng năm, Ủy ban về sự xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ của Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 vẫn làm việc và xem xét những tiến bộ trong thực hiện công ước do các thành viên tham gia. Do đó, cụ thể hóa những quy định của Công ước vào Hiến pháp, các quy định của luật và các văn bản QPPL hướng dẫn thi hành ở nước ta hiện nay là điều cần thiết và cần tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung thường xuyên cho phù hợp. 

Hai là, bộ, cơ quan ngang bộ cần nghiêm túc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong thực hiện xây dựng luật, các văn bản QPPL hướng dẫn thi hành. Có đánh giá tác động về giới trong quá trình xây dựng chính sách, dự thảo văn bản QPPL. Đây là vấn đề đã được quy định tại Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015 và Luật bình đẳng giới năm 2006. Tuy nhiên trên thực tế, việc đánh giá tác động về giới trong hồ sơ xây dựng luật của các bộ, cơ quan ngang bộ và dự thảo các quy định lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, nhất là có các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới cho cán bộ, công chức là nữ vẫn còn hạn hẹp, hình thức và chưa thực sự hiệu quả. 

Ba là, quy định trách nhiệm của bộ, ngành trong việc chưa thực hiện nghiêm túc về lồng ghép bình đẳng giới, trong đó có vấn đề bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức trong hệ thống văn bản QPPL ban hành thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước. 

Bốn là, Chính phủ giao trách nhiệm các bộ, ngành tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao, tình hình thực tế và Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 đối với các văn bản QPPL thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước chưa thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, chưa thực hiện các giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức (nếu có). 

Năm là, các tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước, các bộ, ngành địa phương về phát hiện các vấn đề về bất bình đẳng giới, sự bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành về bất bình đẳng giới, kiến nghị các giải pháp, quy định về bình đẳng giới cho cán bộ, công chức nữ, đảm bảo quyền lợi cho cán bộ, công chức nữ trên các mặt kinh tế - chính trị - an sinh xã hội. 

Sáu là, nâng cao trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong việc thẩm định hồ sơ xây dựng luật của các bộ, ngành về thành phần hồ sơ đánh giá tác động chính sách, trong đó có đánh giá tác động về giới. Nâng cao trách nhiệm của  Ủy ban các vấn đề xã hội trong việc thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết đối với xác định vấn đề giới, đảm bảo nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới, tính khả thi của các quy định về bảo đảm bình đẳng giới. 

Bảy là, Chính phủ giao các Bộ: Lao động - Thương binh và Xã hội; Nội vụ và các bộ, ngành có liên quan tiến hành rà soát, lồng ghép quy định về bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức tại Luật Cán bộ, công chức, Luật Lao động, các luật khác có liên quan. Các bộ chủ động trình Chính phủ văn bản hướng dẫn thi hành, lồng ghép có hiệu quả vấn đề bình đẳng giới và cụ thể hóa các quy phạm pháp luật về bình đẳng giới đối với cán bộ, công chức nữ, khắc phục “khoảng trống pháp luật” về bình đẳng giới đối với cán bộ, công chức nữ, phù hợp Hiến pháp, hệ thống pháp luật và Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 mà Việt Nam là thành viên./.

----------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

3. Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị.

4. Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 về chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020.

5. Quyết định số 515/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 – 2020.

6. Luật Bình đẳng giới năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

7. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

8. Luật cán bộ, công chức năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

9.  Bộ Luật lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

10. Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, 1979.

TS Trần Thị Minh Châu - Chuyên viên chính Vụ Pháp chế, Bộ Nội vụ

Tin tức cùng chuyên mục

Để Đảng mãi xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”

Ngày đăng 30/03/2020
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “… Đảng ta vĩ đại vì nó bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta. Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”(1); và “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”(2). Chín mươi năm qua (03/02/1930 - 03/02/2020), Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xứng đáng với vị thế là đội tiền phong, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng cần phải cố gắng, nỗ lực hơn nữa để mãi xứng đáng với vị thế, vai trò và trách nhiệm lịch sử mà đất nước và nhân dân giao phó.

Sự ra đời và sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giai cấp, dân tộc và xã hội 

Ngày đăng 26/03/2020
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Từ khi thành lập cho đến nay, Đảng luôn thể hiện rõ là một đảng cách mạng chân chính, hội tụ sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam suốt 90 năm qua đã minh chứng cho tầm vóc bản lĩnh, trí tuệ của Đảng trên con đường lãnh đạo xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách công ở Việt Nam

Ngày đăng 24/03/2020
Trong chu trình chính sách công, thực thi chính sách có vai trò thực hiện mục tiêu chính sách, kiểm nghiệm chính sách trong thực tế, và góp phần cung cấp luận cứ cho việc hoạch định, ban hành chính sách tiếp theo. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công, trong đó có ba yếu tố chủ yếu là chất lượng chính sách; đối tượng bị tác động bởi chính sách (đối tượng chính sách) và chủ thể thực thi chính sách. Trên cơ sở khái lược các nghiên cứu có liên quan, bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách công, từ đó đề xuất một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi chính sách công ở Việt Nam.

Phòng, chống các biểu hiện “diễn biến hoà bình” trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức

Ngày đăng 24/03/2020
Nhận thức đúng đắn về nội dung, thủ đoạn thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với nước ta hiện nay và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu của chúng là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của các cơ quan trong hệ thống chính trị hiện nay. Để làm tốt nhiệm vụ này; đẩy lùi nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức cần có giải pháp đồng bộ, toàn diện, trong đó đào tạo, bồi dưỡng là một giải pháp quan trọng. Tuy nhiên, không chỉ cần bồi dưỡng về năng lực mà còn cần nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ. Điều này đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải thực sự là những người có bản lĩnh, đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp, không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Sự lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Ngày đăng 17/03/2020
Trên cơ sở lý luận, thực tiễn - lịch sử những thập niên đầu của thế kỷ XX và quá trình vận động, phát triển của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua (1930-2020), trong đó có 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, bài viết khẳng định con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của nhân dân Việt Nam.

Tiêu điểm

Thủ tướng: Cách ly toàn xã hội từ 0 giờ ngày 01/4/2020 trên phạm vi toàn quốc

Ngày 31/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19. Theo đó, thực hiện cách ly toàn xã hội trong vòng 15 ngày kể từ 0 giờ ngày 01/4/2020 trên phạm vi toàn quốc theo nguyên tắc gia đình cách ly với gia đình, thôn bản cách ly với thôn bản, xã cách ly với xã, huyện cách ly với huyện, tỉnh cách ly với tỉnh, phân xưởng, nhà máy sản xuất phải bảo đảm khoảng cách an toàn, đeo khẩu trang, thực hiện khử trùng, diệt khuẩn theo quy định.