Hà Nội, Ngày 20/02/2020

Quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh trong bối cảnh đất nước và quốc tế hiện nay

Ngày đăng: 14/01/2020   09:40
Mặc định Cỡ chữ
Quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh là một nội dung quan trọng trong chức năng quản lý nhà nước của Chính phủ. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng, an ninh; coi trọng công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật và đẩy mạnh công tác kế hoạch, quy hoạch về quốc phòng, an ninh là những vấn đề cần được quan tâm trong bối cảnh đất nước và quốc tế hiện nay.

1. Quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh - nhiệm vụ trọng yếu của quản lý nhà nước

Ngày nay, chúng ta xây dựng đất nước trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường, mặc dù hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo. Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng. Đảng ta chỉ rõ: “Tình hình chính trị - an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng,... tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực”(1). Trong khi đó, các tình huống quốc phòng cùng những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đối với nước ta ngày một gia tăng, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch. Trong bối cảnh đó, tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh càng có ý nghĩa quan trọng, với những nhiệm vụ mới, cần được nghiên cứu, quán triệt sâu sắc, làm cơ sở để triển khai thực hiện có hiệu quả.

Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể các hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học... của Nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự là nòng cốt, nhằm giữ vững hòa bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, mọi quy mô. Quốc phòng bao gồm các hoạt động của cả nước, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Kẻ thù xâm lược từ bên ngoài thường cấu kết với các lực lượng phản động bên trong, do đó quốc phòng phải kết hợp chặt chẽ với an ninh để bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tổ chức quốc phòng phụ thuộc trực tiếp vào chế độ xã hội, truyền thống dân tộc, điều kiện khách quan, chủ quan cụ thể của mỗi nước. 

An ninh được hiểu theo nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Theo nghĩa rộng, an ninh bao gồm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. An ninh quốc gia được biểu hiện ở sự ổn định trong quan hệ chính trị giữa các giai cấp, khẳng định vị trí lãnh đạo của giai cấp cầm quyền đối với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội và vị trí độc lập, tự chủ của đất nước đối với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới. An ninh quốc gia bao gồm sự ổn định của hai mặt, hai nội dung đối nội, đối ngoại và mối quan hệ giữa đối nội và đối ngoại; phản ánh quan hệ chính trị trong phạm vi một nước và quan hệ quốc tế.

Bảo vệ an ninh quốc gia là bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ cơ sở kinh tế và chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quan hệ đối nội và đối ngoại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, an ninh phải gắn bó chặt chẽ với quốc phòng.

Quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh là quá trình điều hành bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch và các công cụ khác của Nhà nước trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động xã hội, có quan hệ đến việc giữ gìn, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, do hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương tiến hành theo chức năng nhiệm vụ, phạm vi quyền hạn của mỗi cơ quan. 

Chủ thể quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh bao gồm tổng thể các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, trong đó, nòng cốt là các cơ quan quản lý nhà nước. Khách thể quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh bao gồm tổng thể các lĩnh vực, các hoạt động xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân và đấu tranh quốc phòng, an ninh, tất cả các hoạt động xã hội có quan hệ đến việc giữ gìn, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia của các cơ quan nhà nước, của toàn dân. Toàn dân và các đoàn thể quần chúng tích cực tham gia các hoạt động quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh dưới nhiều hình thức khác nhau trong mối quan hệ tổng thể “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Lĩnh vực quốc phòng, an ninh có những nét đặc thù riêng như: tính khẩn trương, tính thống nhất, tập trung, tính bí mật cao, tính biến động, phức tạp lớn, tính đối kháng quyết liệt, tính mệnh lệnh cao. Các đặc điểm nêu trên đòi hỏi quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh phải hết sức khoa học, đồng bộ, cụ thể, chặt chẽ, nghiêm túc.

Quốc phòng, an ninh được thể hiện ở nhiều nội dung, nhiều công việc. Đây là lĩnh vực trực tiếp diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc hết sức quyết liệt, phức tạp. Bản thân quốc phòng, an ninh mang bản chất chính trị, giai cấp sâu sắc. Vì vậy, quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Đó là bản chất của giai cấp công nhân, do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, bản chất đó được biểu hiện ở mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội”(2). Đây vừa là định hướng chiến lược quốc phòng, an ninh, vừa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu là sự cụ thể hoá mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ chiến lược. Điều đó thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về chiến lược quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với đặc điểm nổi lên là: tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, biên giới, biển đảo, nhất là ở biển Đông diễn ra gay gắt; các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng nước ta bằng những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt,... 

Như vậy, quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh là vấn đề rất quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn Đảng, toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt, có vai trò đặc biệt quan trọng. Căn cứ vào nhiệm vụ quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh, công tác tuyên truyền, giáo dục cần được triển khai, tiến hành sâu, rộng trong toàn xã hội, nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức, thấy rõ mục tiêu và nhiệm vụ chung của quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay; tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia và kiến thức quốc phòng, an ninh. Đồng thời, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới như: chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, vùng trời, “diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị, khủng bố, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia.

Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân. “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”(3). Đảng ta chỉ rõ: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái”(4). Tăng cường tiềm lực và sức mạnh quốc phòng là quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta, nhằm động viên, quy tụ, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của các nhân tố chính trị, tinh thần, tư tưởng, văn hóa, quốc phòng, an ninh, kinh tế và đối ngoại; sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân và cả hệ thống chính trị, tạo ra sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa,...”(5). Với quan điểm đó, Đảng ta đã kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển.

2. Quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh phải luôn quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng ta trong toàn bộ quá trình quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh, đó là cơ sở của mọi hoạt động quốc phòng, an ninh. Đường lối quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, hai nhiệm vụ chiến lược và kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, kết hợp kinh tế, quốc phòng, an ninh với đối ngoại,... luôn cần được quán triệt, cụ thể hóa, thể chế hóa trong mọi hoạt động quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh. Đồng thời, nhiệm vụ này phải được kết hợp một cách chặt chẽ với tổ chức, quản lý cũng như các mặt, các lĩnh vực khác trong xã hội.

Từ mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; mối liên hệ mật thiết giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với đối ngoại và với tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động khác của xã hội, lần đầu tiên quan điểm chủ động giữ nước trong thời bình được chính thức xác lập trong đường lối quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh, đó là: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”(6). Quan điểm này là sự kế thừa, phát huy truyền thống “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”(7), góp phần thống nhất nhận thức tư tưởng và hành động trong quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh để giữ nước ngay từ trong thời bình, thể hiện tầm nhìn chiến lược mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Đó là quan điểm, đường lối của Đảng ta thể hiện tính đồng bộ của quản lý nhà nước nói chung, biểu hiện trong chỉ đạo chiến lược, của hệ thống pháp luật Việt Nam, trong từng chủ trương, chính sách cụ thể ở mỗi lĩnh vực, trong mối quan hệ giữa các ngành, các cấp, các địa phương trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân.

Quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh phải được thực hiện trên cơ sở luật pháp, kế hoạch, chính sách thống nhất, có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Điều đó đòi hỏi quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh phải có tính khoa học, đồng bộ và tính pháp lệnh rất cao. Trước hết, phải có kế hoạch tổng thể được xác định trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng ngành, từng địa phương; đồng thời, phải có sự phân công, phân cấp quản lý đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành, từng vùng lãnh thổ. Do tính đặc thù nghiêm ngặt của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, cần phải xác định rõ ràng, cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm lãnh đạo, quản lý của từng cấp, từng ngành, từng vùng; mối quan hệ giữa các cấp, các ngành; cơ chế lãnh đạo, điều hành, chỉ huy trong các tình huống, trong từng nhiệm vụ;... 

Vì vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh, trong thời gian tới cần nắm vững những nội dung cơ bản sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh. 

Chú trọng việc cụ thể hóa từng vấn đề thành các chủ trương, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh; đồng thời, xác định các cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo ở từng cấp cho phù hợp. Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng cần chủ động phối hợp với các cơ quan thuộc các ban, bộ, ngành có liên quan nghiên cứu, cụ thể hóa chức năng, mối quan hệ, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước. Trong tình hình hiện nay, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh, cần coi trọng xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất; thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực; từng bước hoàn thiện phương thức, cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quốc phòng; chú trọng kiện toàn cơ quan, cán bộ làm công tác quốc phòng ở các bộ, ngành, v.v.

Hai là, triển khai đồng bộ, thống nhất việc quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh; gắn với tăng cường tiềm lực và sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. 

Đây là nội dung quan trọng, làm cơ sở, nền tảng để giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, dựa vào nội lực là chính trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh. Các cấp, ngành, lực lượng, địa phương và toàn dân cần tập trung đầu tư, phát triển và nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên từng khu vực, địa bàn và cả nước. 

Ba là, tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân vững mạnh cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. 

Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại là nội dung cốt lõi, biện pháp quan trọng nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh. Trước hết, cần nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, chú trọng nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật cho các lực lượng, nhất là khả năng làm chủ vũ khí, trang bị, phương tiện chiến đấu mới của các đơn vị tiến thẳng lên hiện đại; kết hợp chặt chẽ giữa đầu tư, mua sắm vũ khí, trang bị mới với cải tiến, nâng cao hiệu quả sử dụng các loại vũ khí, trang bị hiện có.

Bốn là, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, an ninh.

Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh sẽ góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước; ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ xung đột vũ trang, chiến tranh, giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước. Qua đó, đưa quan hệ, hợp tác quốc phòng, an ninh đi vào chiều sâu, gia tăng mức độ đan xen lợi ích chiến lược với tất cả các nước, nhất là với các đối tác chiến lược, các nước láng giềng, các nước trong khu vực ASEAN; tránh xung đột, đối đầu, bị cô lập, phụ thuộc. 

Quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh có vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hiện nay. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nắm vững mục tiêu, yêu cầu, nội dung, cơ chế quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh; nắm vững các phương pháp quản lý theo ngành, địa phương, kết hợp chặt chẽ giữa quản lý ngành với quản lý lãnh thổ; nắm vững các biện pháp giáo dục quốc phòng, an ninh. Đồng thời, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, từng bước hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước, hoàn chỉnh hệ thống chính sách, pháp luật, hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh; góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

------------------------------------------

Ghi chú:

(1),(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG-ST, H.2016, tr.71, tr.149.

(2),(3),(4),(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG-ST, H.2016, tr.147-148, tr.148, tr.148, tr.147-148.

(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.2000, tr.317.

 

Trung tướng, TS Lê Huy Vịnh - Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Vai trò của khoa học tổ chức đối với tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam

Ngày đăng 17/02/2020
Khoa học tổ chức có đối tượng nghiên cứu là cấu trúc, chức năng, hệ thống quy luật, nguyên tắc vận hành và các điều kiện cần và đủ để tổ chức đạt được hiệu quả hoạt động, do đó có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức. Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước hiện nay, việc nghiên cứu và vận dụng những quan điểm, nguyên tắc của khoa học tổ chức vào việc hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước là rất cần thiết.

Quy định số 214-QĐ/TW có ý nghĩa quan trọng đối với công tác cán bộ trước thềm Đại hội XIII của Đảng

Ngày đăng 11/02/2020
Cùng với việc tiếp tục gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Quy định số 214-QĐ/TW là cơ sở quan trọng để nhận xét, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, giới thiệu cán bộ ứng cử chính xác và khách quan, chuẩn bị nhân sự cho đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng.

Tầm quan trọng của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược

Ngày đăng 10/02/2020
Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác cán bộ, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Bài viết tập trung bàn về tầm quan trọng của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược - nhiệm vụ then chốt trong công tác xây dựng đảng, cần có quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị.

Tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình nhằm tránh giảm sốc thị trường lao động và ứng phó quá trình già hóa dân số ở Việt Nam

Ngày đăng 10/02/2020
Kỳ họp thứ Tám, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi năm 2019). Đây là Bộ luật được dư luận xã hội, đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hết sức quan tâm, nhất là về việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu theo quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu. Bài viết cung cấp những thông tin về vấn đề này nhằm tạo sự thống nhất cao trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện Bộ luật Lao động (sửa đổi).

Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức nữ ở Việt Nam

Ngày đăng 06/02/2020
Việt Nam là một trong những nước tích cực thực hiện bình đẳng giới trong xây dựng chính sách, pháp luật, đã phê chuẩn và chính thức trở thành thành viên của CEDAW (Công ước quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979) vào năm 1982. Việc thúc đẩy bình đẳng giới và vấn đề lồng ghép bình đẳng giới đối với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức nữ trong xây dựng pháp luật là điều cần thiết, nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương, đồng thời đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và pháp luật quốc tế về bình đẳng giới.