Hà Nội, Ngày 29/03/2020

Tinh gọn bộ máy, tăng hiệu quả hoạt động

Ngày đăng: 08/01/2020   02:51
Mặc định Cỡ chữ
Qua 2 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đã thực sự đem lại những kết quả rất tích cực, rõ nét trong toàn hệ thống.

Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Bộ Chính trị đã ban hành Kế hoạch số 07-KH/TW, ngày 27/11/2017 triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW. Để sớm đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống, Ban Bí thư đã tổ chức hội nghị trực tuyến và yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các địa phương, cơ quan, đơn vị tổ chức nghiên cứu, học tập, phổ biến quán triệt Nghị quyết đến đội ngũ cán bộ chủ chốt các địa phương, cơ quan, đơn vị và toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị. Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng chỉ đạo các cấp ủy cụ thể hóa nội dung của Nghị quyết thành kế hoạch, chương trình hành động, đề án phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng địa phương, cơ quan, đơn vị; xác định rõ nhiệm vụ thường xuyên, nhiệm vụ theo lộ trình, thời gian thực hiện và nhiệm vụ cụ thể của các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy...

Việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW gắn chặt với việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị khóa XI về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Qua 2 năm thực hiện Nghị quyết đã đem lại những kết quả rất tích cực, từ việc xây dựng thể chế đến những kết quả cụ thể có thể định lượng đo đếm được, cụ thể như:

1. Xây dựng và ban hành văn bản về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế

Có thể đánh giá: Hệ thống các văn bản để triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW được ban hành tương đối đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các chủ trương mà Nghị quyết đã đề ra.

Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 24/12/2018 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; Kết luận số 17-KL/TW, ngày 11/9/2018 về tình hình thực hiện biên chế, tinh giản biên chế của các tổ chức trong hệ thống chính trị năm 2015-2016; mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2017-2021; Kết luận số 34-KL/TW, ngày 07/8/2018 của Bộ Chính trị về thực hiện một số mô hình thí điểm theo Nghị quyết số 18-NQ/TW.

Ban Bí thư ban hành Quy định số 04-Qđi/TW, ngày 25/7/2018 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương…

Quốc hội ban hành Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 về tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; ban hành Luật Công an nhân dân (sửa đổi); Nghị quyết số 580/2018/UBTVQH14, ngày 04/10/2018 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thí điểm hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh[1]; Nghị quyết số 653/2019/UBTVQH14, ngày 12/3/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021. Đồng thời, Quốc hội đã bổ sung vào chương trình xây dựng pháp luật năm 2019 để sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan để thực hiện đổi mới, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy[2].

Chính phủ xây dựng và ban hành Nghị quyết số 10/NQ-CP, ngày 03/02/2018 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Kế hoạch số 07-KH/TW ngày 27/11/2017 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nghị quyết số 32/NQ-CP, ngày 14/5/2019 của Chính phủ ban hành kế hoạch thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021. Đồng thời ban hành các Nghị định như: Nghị định số 61/2018/NĐ-CP, ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính; Nghị định số 113/2018/NĐ-CP, ngày 31/8/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giản biên chế; Nghị định số 161/2018/NĐ-CP, ngày 29/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 24/2010/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức; Nghị định số 158/2018/NĐ-CP, ngày 22/11/2018 quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính; Nghị định số 34/2019/NĐ-CP, ngày 24/4/2018 sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố. Đồng thời đang hoàn thiện các dự thảo nghị định của Chính phủ sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các nghị định về tổ chức bộ máy theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW đã báo cáo Bộ Chính trị [3].

2. Kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy sau 2 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW

a) Các ban, bộ, ngành, đoàn thể, cơ quan Trung ương

- Về tổ chức hành chính: đã giảm 04 cơ quan, đơn vị; giảm 26 cục, vụ thuộc ban, bộ, ngành Trung ương; giảm 2.785 phòng và tương đương; giảm 3.866 cán bộ lãnh đạo, quản lý[4] .

- Về đơn vị sự nghiệp: Giảm 80 đơn vị và 207 cán bộ lãnh đạo, quản lý (Chi tiết tại biểu 03A, 04A). 

b) Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Về tổ chức hành chính: Giảm 4.139 tổ chức và 9.893 cán bộ lãnh đạo, quản lý.

- Về đơn vị sự nghiệp: Giảm 4.162 đơn vị và 6.229 cán bộ lãnh đạo, quản lý[5].

c) Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Kết luận số 34-KL/TW, ngày 07/8/2018 của Bộ Chính trị, nhiều cấp ủy đã chủ động triển khai thí điểm thực hiện các mô hình mới về tổ chức bộ máy và kiêm nhiệm chức danh để tinh gọn đầu mối cơ quan, đơn vị, giảm số lượng cán bộ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể địa phương; triển khai sắp xếp lại tổ chức chi cục thuế, kho bạc nhà nước... theo khu vực liên huyện. Một số địa phương đã hợp nhất các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện[6].

2.1. Về sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và thôn, tổ dân phố

Cả nước có 46 tỉnh, thành phố thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021[7]. Đến nay, Bộ Nội vụ đã thẩm định 35/46 đề án của các tỉnh, thành phố[8]; Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành nghị quyết sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của 10 tỉnh[9]. Sau khi sắp xếp sẽ giảm 05 đơn vị hành chính cấp huyện[10]; 556 đơn vị hành chính cấp xã. Các địa phương đã sắp xếp giảm 10.140 thôn, tổ dân phố.

2.2. Về tinh giản biên chế  

Cả nước giảm khoảng 236.000 biên chế, tương ứng giảm khoảng 6,5% so với biên chế thực tế tại thời điểm 30/4/2015 . Trong đó: (1) Cán bộ, công chức (từ cấp huyện trở lên) giảm trên 22.000 người, tương ứng giảm khoảng 6,3%. (2) Viên chức (từ cấp huyện trở lên) giảm trên 69.000 người, tương ứng giảm khoảng 3,8%. (3) Các loại hợp đồng lao động khác giảm trên 18.000 người, tương ứng giảm khoảng 11,%. (4) Cán bộ, công chức cấp xã giảm khoảng 1.000 người, tương ứng giảm khoảng 0,4%. (6) Số người hoạt động không chuyên trách ở xã, thôn, tổ dân phố giảm khoảng 126.000 người, tương ứng giảm khoảng 13,6%. Trong đó, tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 và Nghị định số 113/2018/NĐ-CP, ngày 31/8/2018 của Chính phủ được khoảng 47.000 biên chế. Gồm: (1) Do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy chiếm khoảng 13,6%. (2) Do cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức theo vị trí việc làm nhưng không thể bố trí được việc làm khác chiếm khoảng 16,3%. (3) Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm chiếm khoảng 15,3%. (4) Do phân loại, đánh giá chiếm khoảng 41,9%. (5) Các trường hợp còn lại chiếm khoảng 13,1%.

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn gắn với tinh giản biên chế đã góp phần tiết kiệm chi thường xuyên (riêng năm 2019 giảm khoảng 10.000 tỷ đồng kinh phí hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị[11]), tăng chi cho đầu tư phát triển, giảm nợ công[12]; đồng thời, vẫn bảo đảm tăng lương cơ sở 7%/năm.

Từ những kết quả trên và qua theo dõi, phản ánh của các địa phương, cơ quan, đơn vị, có thể rút ra một số vấn đề nổi lên, như sau:

Một là: Sau 02 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW các địa phương, cơ quan, đơn vị đã tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt nghị quyết, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao và nhận thức ngày càng sâu sắc hơn trong toàn thể cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp do Trung ương. Từng cấp, từng ngành đã triển khai, tổ chức thực hiện đồng bộ, quyết liệt, khoa học, nghiêm túc, bài bản, chặt chẽ, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình bước đi phù hợp với nhiều cách làm hay, sáng tạo, phát huy vai trò từng địa phương, cơ quan, đơn vị, đạt kết quả bước đầu quan trọng, tạo chuyển biến tích cực, có sức lan tỏa.

Tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị từng bước được đổi mới, sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, giảm cấp trung gian, giảm nhiều đầu mối bên trong, nhất là giảm số lượng tổ chức và lãnh đạo, quản lý cấp phòng khối chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp và trong các cục, vụ ở cơ quan Trung ương; tích cực rà soát, sắp xếp giảm số lượng ban chỉ đạo, ban quản lý dự án. Nhiều địa phương tổ chức lại đảng bộ khối doanh nghiệp cấp tỉnh; xây dựng đề án và thực hiện phát triển tổ chức đảng, đảng viên trong các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài nhà nước.

Các địa phương đã chủ động thực hiệp sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ, công chức, viên chức; giải quyết chế độ, chính sách đối với những người dôi dư.

Biên chế của cả hệ thống chính trị giảm mạnh, cơ bản đảm bảo lộ trình tinh giản biên chế; việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế đã đi vào thực chất gắn với việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy, phân loại, đánh giá, rà soát và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Hai là: Để tiếp tục triển khai các nội dung của Nghị quyết, cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Tiếp tục xây dựng, rà soát, bổ sung, sửa đổi các quy định, hướng dẫn của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước để thực hiện một số nội dung mới về tổ chức bộ máy, biên chế đã được đề ra trong Nghị quyết số 18-NQ/TW.

- Đẩy nhanh niệc sắp xếp theo hướng tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm đầu mối trực thuộc các cơ quan, đơn vị để khắc phục tình trạng trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ giữa các vụ, đơn vị trong cùng một cơ quan; giảm tối đa số lượng phòng trong vụ.

- Đầu tư nguồn lực để nghiên cứu xây dựng Đề án sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo đúng mục tiêu, lộ trình đề ra.

Ba là: Khẩn trương ban hành chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức tự nguyện thôi việc, nghỉ công tác chờ đủ tuổi nghỉ hưu...để tạo động lực, khuyến khích thực hiện. Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm gắn với cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức và xác định tổng biên chế cần có của địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị./.

-----------------------------------------------------

Ghi chú:

[1] Thực hiện tại 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm: 10 địa phương bắt buộc là Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bắc Kạn, Hà Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà Tĩnh, Lâm Đồng, Tây Ninh, Tiền Giang và 02 địa phương tự nguyện thực hiện là Yên Bái và Long An.

[2] Như: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Kiểm toán Nhà nước, Luật Công đoàn… ; đồng thời đã giao các cơ quan chức năng dự thảo các luật này.

[3] Nghị định số 123/2016/NĐ-CP quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ; Nghị định số 10/2016/NĐ-CP quy định về cơ quan thuộc Chính phủ; các Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; Nghị định số 55/2012/NĐ-Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập.

[4] Kể cả đã chuyển chi cục quản lý thị trường cấp tỉnh về Tổng cục Quản lý thị trường, Bộ Công thương làm tăng số lượng lãnh đạo cấp cục thuộc tổng cục và 1.057 lãnh đạo phòng, đội thuộc chi cục thuộc Cục của Bộ Công thương. Đồng thời, giảm 1.057 lãnh đạo phòng, đội thuộc chi cục của các địa phương.

[5] Số lượng cấp trưởng, cấp phó của đơn vị sự nghiệp (không thống kê cấp trưởng, cấp phó các đầu mối bên trong đơn vị sự nghiệp).

[6] Sơn La, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Nghệ An, Phú Yên, Kon Tum, Bình Thuận, Bình Phước, Long An.

[7] Trong đó, 42 tỉnh, thành phố có đơn vị hành chính thuộc diện phải thực hiện với 20 đơn vị hành chính cấp huyện, 638 ĐVHC cấp xã; 04 tỉnh (Sơn La, Tây Ninh, Bình Thuận, Kiên Giang) chủ động thực hiện sắp xếp 28 đơn vị hành chính cấp xã.

[8] Hải Phòng, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ninh, Hòa Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên  - Huế, Quảng Nam, Gia Lai, Lâm Đồng, Phú Yên, Bình Thuận, Bến Tre, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Hậu Giang.

[9] Điện Biên, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Bình Thuận, Phú Yên.

[10] Cao Bằng giảm 03 đơn vị hành chính cấp huyện; Hòa Bình giảm 01 đơn vị hành chính cấp huyện; Quảng Ngãi giảm 01 đơn vị hành chính cấp huyện.

Yên Bái và Điện Biên, mối tỉnh điều chỉnh địa giới hành chính của 01 đơn vị hành chính cấp huyện nhưng không làm giảm đơn vị hành chính.

[11] Báo cáo số 229-BC/BCSĐ, ngày 30/8/2019 của Ban Cán sự đảng Bộ Tài chính.

Các năm 2017 và 2018 dự toán chi quản lý hành chính các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương được xác định trên cơ sở số biên chế được cấp có thẩm quyền giao; các địa phương do hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định trong tổng chi ngân sách địa phương được Quốc hội thông qua, trên cơ sở số biên chế của địa phương.

[12] Theo Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội về tình hình KT-XH năm 2019 và Kế hoạch năm 2020:

- Tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2016 đạt 22,9%, năm 2017 đạt 25%, năm 2018 (chưa bao gồm số chi từ các nguồn tăng thu ngân sách địa phương tiền sử dụng đất và xổ số kiến thiết) đạt 25,4%; năm 2019 đạt 26,6%.

- Nợ công năm 2019 là 56,1% GDP; năm 2016 là 64,6% GDP.

 

Nguyễn Văn Tùng - Ban Tổ chức Trung ương

Theo: dangcongsan.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đường lối hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước

Ngày đăng 11/03/2020
Tư tưởng chủ yếu của đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta là: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nâng cao vị thế đất nước, vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo trong các cơ quan nhà nước ở Việt Nam

Ngày đăng 10/03/2020
Phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo của các cơ quan nhà nước để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp là việc xây dựng nền tảng hệ giá trị nhằm thúc đẩy sự đam mê, khát vọng, động lực kinh doanh, sự tự tin, biết chấp nhận rủi ro để bắt đầu một sự nghiệp, phát triển sản phẩm mới, thị trường mới; nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh của mọi cá nhân, tổ chức đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn tự soi, tự sửa

Ngày đăng 28/02/2020
Trong công tác xây dựng đội ngũ, Đảng ta luôn động viên cán bộ, đảng viên tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Trang bị, rèn luyện phẩm chất, bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Ngày đăng 21/02/2020
Trước yêu cầu của thời kỳ nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phẩm chất, bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược đang trở thành một trong những vấn đề cấp thiết. Bài viết khẳng định tầm quan trọng và đề xuất giải pháp trang bị, rèn luyện phẩm chất, bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Thành tựu và những bài học kinh nghiệm trước Đại hội Đảng XIII

Ngày đăng 17/02/2020
Chúng ta đã bước vào năm 2020, năm cuối cùng để hoàn thành các chương trình, mục tiêu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng. Nếu đánh giá giai đoạn 10 năm của hai nhiệm kỳ vừa qua bằng các số liệu và sự kiện, có thể nhận thấy sự tương phản rõ ràng của những gam màu sáng - tối, qua đó cũng thấy sáng rõ những bài học kinh nghiệm quý báu...