Hà Nội, Ngày 24/01/2020

Học tập và làm theo văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh trong đội ngũ cán bộ, giảng viên các nhà trường công an nhân dân

Ngày đăng: 20/12/2019   04:45
Mặc định Cỡ chữ
Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh là sự tổng hợp các giá trị văn hóa truyền thống, kết hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại, là hệ thống hành vi thực hiện các khuôn mẫu mang lý tưởng kết tinh những giá trị và chuẩn mực của xã hội và cộng đồng mà Người hướng tới. Vì vậy, việc học tập và làm theo văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh giúp cán bộ, giảng viên các trường công an nhân dân tự điều chỉnh, tự thích ứng với công việc giảng dạy, rèn luyện các quy tắc, chuẩn mực; đồng thời làm cơ sở định hướng cho việc giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống cho lực lượng công an nói chung và cán bộ, giảng viên các trường công an nhân dân nói riêng.

1. Văn hóa ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cả dân tộc và nhân loại tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa thế giới. Người kết tinh trong mình những tinh hoa của truyền thống dân tộc, chắt lọc những giá trị đặc sắc của hai nền văn hóa Đông - Tây qua các thời đại lịch sử, lại được ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường với sức cổ vũ của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Song những nhân tố khách quan đó mới chỉ là những điều kiện cần, chưa phải điều kiện đủ. Nhờ những nỗ lực đặc biệt và nghị lực phi thường trong cuộc đời lao động, học tập và đấu tranh, với năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành tư chất của một triết gia, nhà tư tưởng lớn sau này của Việt Nam và thế giới.

Là Danh nhân văn hóa thế giới, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh hội tụ đầy đủ những tinh hoa văn hóa của nhân loại và của dân tộc, là điển hình của nhân cách con người Việt Nam. Một trong những đặc trưng cơ bản của văn hóa Hồ Chí Minh được thể hiện đậm nét, mang dấu ấn riêng, đặc thù và rất Hồ Chí Minh đó là văn hóa ứng xử. Văn hóa ứng xử của Người là kết tinh giá trị cao đẹp nhất của văn hóa Việt Nam, thể hiện tầm vóc, trí tuệ lớn lao và tình cảm sâu sắc trong những mối quan hệ hết sức đa dạng, phong phú và phức tạp đối với chính mình, với con người và với thiên nhiên.

1.1. Ứng xử với mình của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh là sự phản ánh đời sống xã hội Việt Nam, thông qua nhận thức, ứng xử và quá trình thực tiễn hoạt động cách mạng của Người. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại ấn tượng sâu sắc cho tất cả những ai từng được gặp Người. Nhân cách lớn và cuộc đời vĩ đại của Người đã tạo nên phong cách ứng xử rất mẫu mực. Với mình, Người luôn gương mẫu thực hiện các đức tính: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Không chỉ vậy, ở Người còn thấy được sự giản dị, tế nhị và khiêm nhường. Lúc sinh thời cũng như khi chuẩn bị đi xa, ở Người vẫn là sự thanh đạm, thanh cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn truyền tinh thần lạc quan cho những ai được sống gần Người, được tiếp xúc với Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có cách ứng xử với bản thân rất bình dị, tự nhiên, lạc quan trong những hoàn cảnh khó khăn, khổ cực nhất. Người luôn thoát ra khỏi cuộc sống bị đọa đầy đau khổ về thể xác để tìm đến khát khao của tự do cho tinh thần cách mạng. Theo Người, ứng xử với mình là phải đưa mình vào nguyên tắc ứng xử có tính bắt buộc cao, phải thống nhất giữa nói và làm, nhằm mục đích cuối cùng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong thực hành văn hóa ứng xử, Người làm nhiều hơn nói, chỉ lặng lẽ kiên trì hoặc nêu gương, luôn nhất quán tư tưởng: trung với nước, hiếu với dân: “cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó”(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giáo dục bằng tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Người không màng đến danh lợi cá nhân và luôn cho rằng nếu như những phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư được bồi dưỡng thường xuyên sẽ làm cho con người vững vàng trước mọi thử thách.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi khinh sự xa hoa, yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tiết kiệm và thanh cao. Cả cuộc đời của Người là vì hạnh phúc của mọi người, không một chút riêng tư. Lúc sắp từ biệt thế giới này, Người cũng chỉ nghĩ đến việc chăm lo hạnh phúc cho mọi người mà không màng danh vọng, không ham bia đá, tượng đồng.

1.2. Ứng xử với người của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong hoạt động cách mạng cũng như đời sống hàng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng xử với mọi người luôn có tình, có lý. Trong tình yêu thương đó có chỗ cho mọi người, không quên, không sót một ai, từ người già cho đến các cháu thiếu niên, nhi đồng, các chiến sĩ làm nhiệm vụ nơi tiền tuyến... Tình yêu của Người dành cho cả đồng bào trong nước cũng như những người nước ngoài, thậm chí đó còn là tình thương với những con người lầm đường lạc lối. Tất cả được thể hiện thông qua văn hóa ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh với con người.

Một trong những biểu hiện văn hóa ứng xử với quần chúng nhân dân là giây phút Người dừng lại giữa chừng khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập để hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không”. Thật là bất ngờ, nhưng cũng thật bình dị, gần gũi tiêu biểu cho văn hóa ứng xử của Người với quần chúng nhân dân. Chỉ câu nói đó đã làm cho mọi người biết bao cảm động. Nó có giá trị hơn biết bao bản tuyên bố hay những lời hứa hẹn, bởi vì nó còn lại mãi trong lòng dân tộc về một phong cách ứng xử giản dị giữa lãnh tụ với quần chúng nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lãnh tụ có tinh thần quý trọng nhân dân, muốn trực tiếp lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Qua phong cách ứng xử của Người cho thấy tầm văn hóa của một con người, của một dân tộc. Phong cách ứng xử của Người là kết tinh cao đẹp nhất của ứng xử văn hóa Việt Nam.

Nhân dân Việt Nam từ già đến trẻ, ở mọi tầng lớp, thế hệ, dân tộc đều gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng hai tiếng Bác Hồ, ai cũng thấy Người gần gũi với mình. Dù bận rất nhiều việc lớn của Đảng và Nhà nước, nhưng đến với quần chúng, đến với con người bình thường là nhu cầu thường trực của Bác. Người đã đi thăm hàng trăm cơ sở, đơn vị vũ trang ngay trên bãi tập hay ngoài trận địa. Người đã có mặt ở hàng trăm công trường, nhà máy, nông trường, hợp tác xã… Dấu chân Người đã để lại ở nhiều địa phương, từ thị xã đến nông thôn, từ trung du đến đồng bằng, từ miền núi đến các hải đảo xa xôi.

Trong văn hóa ứng xử của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao truyền thống kính già, yêu trẻ, tôn trọng phụ nữ, thể hiện một phong cách khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp của một nhân cách văn hóa lớn.

Với các cháu thiếu niên, nhi đồng, Người cũng luôn dành những tình cảm thương yêu, quý mến và chăm lo cho các cháu. Người lo lắng, quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất để các cháu được học hành, vui chơi để phát triển.

Với thiếu niên, nhi đồng trong nước, Người giáo dục các cháu phải yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, đoàn kết, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm. Ngoài việc chăm lo, yêu quý các cháu, Người còn hướng cho các cháu những công việc có ích cho Tổ quốc, cho kháng chiến như giúp đỡ đồng bào, giúp tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm… và điều quan trọng là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp các cháu nhận ra giá trị, ý nghĩa trong những việc làm có ích của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đánh giá cao công lao, vai trò to lớn của chị em phụ nữ. Người viết: Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ. Người luôn dành tình cảm ưu ái, tấm chân tình cho phụ nữ. Người đề nghị Đảng và Chính phủ phải quan tâm hơn nữa đến chị em phụ nữ, tạo điều kiện cho họ được đóng góp và tham gia các công việc chung trong chính quyền, đoàn thể: “Phụ nữ là phân nửa xã hội, nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người”(2). Vì vậy, Người thường chọn những bông hoa đẹp nhất tặng các đại biểu nữ trong các buổi tiệc hay trong những cuộc gặp.

Đối với bộ đội, chiến sĩ, Người luôn dành tình cảm yêu thương nhất. Bởi đây là những con người luôn phải chịu đựng muôn vàn khó khăn, vất vả, những hy sinh lớn lao cho đất nước, dân tộc.

Với bạn bè quốc tế, Người luôn ứng xử với tình cảm thủy chung, trước sau như một, như một người thân chân tình nhất, nên Người cũng nhận được từ bạn bè quốc tế niềm yêu thương quý trọng nhất. Với tình cảm chân thành, Người đã trao gửi và tiếp nhận được nhiều tình cảm, sự giúp đỡ quý báu của bạn bè quốc tế.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn nêu cao tinh thần khoan dung, độ lượng với kẻ thù, luôn tìm cái chung, cái đồng nhất để các bên đều chấp nhận được. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, một mặt Người đòi hỏi mỗi người dân là một chiến sĩ dũng cảm đánh thắng địch trên chiến trường; mặt khác, phải có tinh thần nhân đạo đối với tù binh, phải phân biệt rõ bạn, thù, nhưng cũng luôn tìm mọi cách để bớt thù, thêm bạn.

Chúng ta có thể thấy, trên con đường hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trải qua những bước thăng trầm của hoàn cảnh, với bao tình huống éo le, phức tạp phải giải quyết; đã gặp gỡ, tiếp xúc với đủ hạng người sang, hèn trong xã hội; với các loại đối tượng khác nhau: từ đồng chí, đồng bào trong nước, bạn bè quốc tế năm châu, những lãnh tụ hàng đầu của cách mạng thế giới đến những tên thực dân cáo già quỷ quyệt… Người đã để lại cho chúng ta một gia tài vô giá về văn hóa ứng xử.

1.3. Ứng xử với thiên nhiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Mỗi người đều có cuộc sống riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vậy, cuộc sống riêng của Người mang những nét đặc sắc riêng tạo nên cách ứng xử văn hóa giữa Người với thiên nhiên. Đó là tình yêu thiên nhiên, chăm sóc, bảo vệ thiên nhiên, hòa đồng với vạn vật trong cuộc sống.

Những năm tháng đi tìm đường cứu nước, dù phải làm thuê đủ mọi việc vất vả trên con tàu vượt đại dương, Người vẫn thường dậy thật sớm để xem mặt trời mọc, chờ mặt trời lên trên biển để có phút ngắm biển, ngắm trời, say mê trước cảnh hùng vĩ của thiên nhiên để tâm hồn vọng về quê hương đất nước.

Dù phải làm đủ mọi nghề để kiếm sống và hoạt động cách mạng, Người vẫn tìm cách để đi thăm nhiều nơi, tìm hiểu tận mắt nhiều đất nước, nhiều dân tộc.

Trở về Tổ quốc, hoạt động ở núi rừng Việt Bắc, Người tìm cho mình thú vui cùng cảnh vật thiên nhiên, sống gần gũi, hòa đồng với thiên nhiên. Trong kháng chiến, những nơi Người ở luôn đảm bảo trên có núi, dưới có sông, có cỏ cây, hoa lá. Người luôn sống chan hòa với thiên nhiên, không thích “chế ngự thiên nhiên”, “cải tạo thiên nhiên” mà chủ trương sống chan hòa cùng thiên nhiên, cứ theo tự nhiên mà sống, hết sức giản dị, xóa bỏ mọi nghi thức và muốn đắm mình trong cảnh vật thiên nhiên.

Ngày 28/11/1959, với bút danh Trần Lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tết trồng cây” đăng trên báo Nhân dân. Vào dịp tết Nguyên đán năm 1960, chính Người đã mở đầu tết trồng cây bằng việc trồng một cây tại công viên Lênin. Từ đó cho đến khi qua đời, để duy trì, cổ vũ và phát triển phong trào, mỗi dịp tết đến xuân về, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tham gia Tết trồng cây. Mùa xuân năm 1965, Người đã nêu lên một quan niệm mới về mùa xuân “Mùa xuân là Tết trồng cây”, đây cũng chính là thái độ ứng xử với thiên nhiên của Người.

Mùa xuân năm 1969, tổng kết 10 năm Tết trồng cây, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: Tết trồng cây đã trở thành tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta. Thật xúc động khi thấy trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không quên căn dặn mọi người: Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào thì phải tốt cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp.

Cách ứng xử với thiên nhiên và môi trường là một nét đẹp của văn hóa Hồ Chí Minh, thể hiện tầm nhìn xa, trông rộng của Người hướng tới sự phát triển bền vững.

2. Học tập và làm theo văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh của cán bộ, giảng viên các trường công an nhân dân hiện nay

Đối với lực lượng công an nhân dân, để hoàn thành sứ mệnh lịch sử do Đảng và Nhà nước giao phó về giữ gìn an ninh quốc gia, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và các vi phạm về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, cần tạo sự chuyển biến sâu sắc, mạnh mẽ từ nhận thức đến hành động của cấp ủy, lãnh đạo công an các cấp, cũng như trong toàn thể cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân về yêu cầu xây dựng lực lượng công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh, kỷ luật, kỷ cương, văn hóa; chú trọng xây dựng văn hóa giao tiếp, ứng xử văn minh, lịch sự của cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân; thực hiện các tiêu chí về “văn hóa giao tiếp, ứng xử” của lực lượng; đồng thời thực hiện các quy định về chuẩn mực đạo đức và văn hóa giao tiếp, ứng xử trong xây dựng nhân cách của người cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân theo Sáu điều Bác Hồ dạy; hướng tới mục tiêu xây dựng lực lượng Công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Văn hóa ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh giữ vị trí nền tảng, làm cơ sở định hướng cho việc giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống cho cán bộ, giảng viên các trường công an nhân dân. Thông qua đó, giúp mỗi cán bộ, giảng viên tự điều chỉnh, tự thích ứng với công việc, giảng dạy, rèn luyện điều lệnh, quy tắc, chuẩn mực của người chiến sĩ công an nhân dân. Cán bộ, giảng viên các trường Công an nhân dân đã không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, học tập và làm theo Sáu điều Bác Hồ dạy công an nhân dân cũng như học tập và làm theo văn hóa ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cụ thể là:

2.1. Về văn hóa ứng xử đối với bản thân

Mỗi cán bộ, giảng viên các trường công an nhân dân cần thấy rõ ý thức trách nhiệm của cá nhân trước tập thể, cộng đồng; trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân; tinh thần tận tụy vì nhiệm vụ; giữ gìn và phát huy truyền thống lịch sử của dân tộc, truyền thống cách mạng của Đảng, Nhà nước và Công an nhân dân; nâng cao ý thức trách nhiệm của bản thân trong việc xây dựng môi trường cơ quan, đơn vị văn hóa; biểu dương tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện tư cách người công an cách mạng theo Sáu điều Bác Hồ dạy, thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự “cần, kiệm, liêm, chính”, quán triệt tư tưởng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh “trung với nước, hiếu với dân”, ý thức trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; thể hiện giá trị “chân, thiện, mỹ” trong văn hóa giao tiếp, ứng xử.

2.2. Về văn hóa ứng xử với nhân dân

Học tập văn hóa ứng xử với nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp cho cán bộ, giảng viên các trường công an nhân dân nhận thức đầy đủ về mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhân dân; truyền thống dựa vào nhân dân, kính trọng lễ phép với nhân dân; tôn trọng vai trò tự chủ và thành quả của quần chúng nhân dân trong việc tham gia phối hợp, giúp đỡ công an nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Nêu cao tinh thần trách nhiệm và tâm huyết phục vụ nhân dân, thái độ chân thành, lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân; từ đó truyền lửa vào trong các bài giảng, làm cho học viên hiểu sâu sắc những bài học về mối quan hệ gắn bó mật thiết “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Bên cạnh đó, thực hiện những hành vi đẹp trong giao tiếp, ứng xử kính trọng, lễ phép với nhân dân, ý thức trách nhiệm cao của bản thân với lợi ích chung và lợi ích thiết thực của nhân dân. Giá trị văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh còn giúp cho mỗi cán bộ, giảng viên các nhà trường công an chấn chỉnh những hành vi giao tiếp, ứng xử thiếu văn hóa, hành vi quan liêu, tham nhũng, thái độ thờ ơ, hách dịch, nhũng nhiễu, xa dân, gây khó khăn, phiền hà đối với nhân dân trong khi thi hành nhiệm vụ.

Những giá trị văn hóa ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được cụ thể hóa trong các cuộc vận động: “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh; xây dựng nếp sống văn hóa, vì nhân dân phục vụ”; “Xây dựng phong cách người công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ”. Lực lượng công an nhân dân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, cho nên cán bộ, giảng viên các trường công an nhân dân phải gần dân, kính trọng và lễ phép với nhân dân. Kính trọng, lễ phép với nhân dân không chỉ dừng lại ở lòng tôn trọng, gần gũi, bảo vệ, chăm lo lợi ích của nhân dân mà phải hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, biết được những trăn trở, bức xúc trong nhân dân, từ đó từng bước tháo gỡ, giúp đỡ nhân dân. Đây là tiền đề để xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa lực lượng công an với nhân dân.

2.3. Về văn hóa ứng xử với thiên nhiên

Sự hòa quyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiên nhiên giúp cho cán bộ, giảng viên các trường công an nhân dân hiểu được rằng con người dù vĩ đại bao nhiêu nhưng vẫn nhỏ bé trước thiên nhiên; còn thiên nhiên vốn dĩ hiền hòa và rộng mở với con người, song cũng có thể nổi giận bất cứ lúc nào nếu con người không dành cho thiên nhiên sự tôn trọng, bảo vệ cả trong nhận thức và hành động. Cho nên, mỗi cán bộ, giảng viên trong các nhà trường luôn phải xác lập quan hệ ứng xử hài hòa, đồng tiến giữa con người và tự nhiên, thay đổi nhận thức của mình về vai trò của tự nhiên, rằng nếu thiếu thiên nhiên thì sẽ không có sự tồn tại, phát triển của con người, cũng như không có lịch sử xã hội; cần có những hành động khoa học, phù hợp với quy luật vận động, phát triển khách quan của tự nhiên, phải tính toán đến lợi ích chung của cả cộng đồng. Từ nâng cao nhận thức về môi trường thiên nhiên, mỗi cán bộ, giảng viên công an nhân dân cần có phương thức khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên tiết kiệm, hiệu quả hơn.

Văn hóa ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh thâu thái được cái gần gũi, tế nhị với độ sâu sắc lịch lãm, cái dung dị đời thường với tầm cao tư duy bác học. Sự hòa quyện trong phong cách ứng xử của Người đạt tới nghệ thuật “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Chúng ta có thể tìm thấy trong văn hóa ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh sự chắt lọc, cô đúc tất cả những gì là chân, thiện, mỹ trong tinh hoa xử thế của nhân loại. Học tập và làm theo văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta lại thấy “yêu Bác lòng ta trong sáng hơn”. Tình yêu thương và tấm lòng bao dung nhân ái của Người như vẫn đang cổ vũ, thôi thúc chúng ta làm nên những điều tốt đẹp, lập nên những chiến công xuất sắc trên trận tuyến bảo vệ an ninh quốc gia, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội./.

-------------------------------------------

Ghi chú:

(1) Hồ Chí Minh, CD Rom toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H.2000, tr.272.

(2) Hồ Chí Minh, CD Rom toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H.2000, tr.300.

 

ThS. Nguyễn Thị Thế - Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Tạo bước đột phá trong xây dựng văn hóa, con người ở nước ta hiện nay

Ngày đăng 20/01/2020
Việc giáo dục các giá trị truyền thống sẽ góp phần quan trọng cho sự phát triển đất nước hiện nay. Kinh nghiệm chỉ ra rằng nếu không hiểu biết chúng ta từ đâu tới thì cũng khó xác định chúng ta sẽ đi về đâu, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

“Trồng cây” và “trồng người” như lời Bác dặn

Ngày đăng 15/01/2020
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “trồng cây” và “trồng người” đều quan trọng, có ý nghĩa lịch sử sâu sắc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - tấm gương mẫu mực về nói đi đôi với làm

Ngày đăng 14/01/2020
Rèn luyện đạo đức cách mạng và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo tấm gương tiêu biểu, mẫu mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm có ý nghĩa thiết thực nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Những chỉ dẫn của Bác Hồ về cải tạo tư tưởng của đảng viên

Ngày đăng 10/01/2020
Trong bài viết “Tiêu chuẩn của người đảng viên” đăng trên Báo Nhân dân, số 2093, ngày 09/12/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng viên tốt thì Đảng mới mạnh”­ và Người nhấn mạnh, để trở thành đảng viên tốt thì trước hết không thể không cải tạo tư tưởng(1).

Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - Giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng

Ngày đăng 09/01/2020
Thực tiễn những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh rằng: Nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng chính là nhờ sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.

Tiêu điểm

Tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt

Trong những năm qua, Đảng ta đã có nhiều chỉ đạo quan trọng nhằm tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, như: Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/01/2012 một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc (ĐBTQ) lần thứ XII của Đảng; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”.v.v. Nhà nước đã thể chế hóa thành pháp luật để thống nhất thực hiện trong toàn hệ thống chính trị và xã hội.