Hà Nội, Ngày 24/01/2020

Yếu tố tác động đến chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất 

Ngày đăng: 13/12/2019   04:16
Mặc định Cỡ chữ
Để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá thì việc thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ phục vụ sản xuất nông nghiệp sang xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị hạ tầng kinh tế - xã hội là tất yếu. Bài viết đề cập phân tích các yếu tố tác động đến chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất của chính quyền địa phương, qua đó đề xuất một số giải pháp góp phần giải quyết việc làm cho nông dân ở những khu vực này.
Ảnh minh họa: internet

1. Các yếu tố tác động từ phía chính quyền địa phương

1.1. Sự quyết tâm của lãnh đạo địa phương về giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất

Giải quyết việc làm luôn là vấn đề cấp bách ở bất kỳ một quốc gia hay địa phương nào. Việc xây dựng một hệ thống chính sách việc làm phù hợp để giúp lao động địa phương có việc làm ổn định luôn cần sự quyết tâm của các nhà lãnh đạo. Vấn đề tạo việc làm và sự quyết tâm của các cấp ủy đảng và chính quyền là những điều kiện tiên quyết cho chính sách việc làm của địa phương. Thực tế cho thấy, những địa phương thiếu quyết tâm của lãnh đạo trong giải quyết việc làm thường dẫn đến tình trạng thất nghiệp dai dẳng.

1.2. Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội là yếu tố ảnh hưởng căn bản đến chính sách việc làm. Là một kế hoạch mang tính chất định hướng cho chính sách giải quyết việc làm, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội có vai trò định hướng phát triển kinh tế - xã hội về mặt không gian, là cơ sở để xây dựng chính sách tạo việc làm ở địa phương. Vì vậy, chất lượng của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách giải quyết việc làm.

1.3. Hoạch định và tổ chức thực thi chính sách việc làm của chính quyền địa phương

Quá trình thực hiện chính sách việc làm bắt đầu từ giai đoạn hoạch định cho đến giai đoạn tổ chức thực thi chính sách của chính quyền địa phương. Quá trình này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung chính sách việc làm được ban hành.

Hoạch định chính sách là điều kiện tiên quyết quyết định nội dung chính sách. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) khuyến nghị: trong quá trình hoạch định, các cơ quan hoạch định cần đảm bảo những điều kiện sau: 1) Năng lực hoạch định chính sách tốt; 2) Thực hiện một cách khoa học quá trình hoạch định chính sách: căn cứ sát thực vào tình hình địa phương, tính tới sự khác biệt của lao động ở các khu vực địa lý khác nhau, căn cứ vào sự phát triển kinh tế - xã hội, những tiềm năng và có cơ hội có thể huy động của địa phương; 3) Thu hút sự tham gia của người dân và các tổ chức tại địa phương trong đề xuất các sáng kiến về chính sách và sáng kiến tổ chức thực thi chính sách.

Tuy nhiên, hoạch định chính sách chỉ là điều kiện cần, tổ chức thực thi chính sách tốt mới là điều kiện đủ để chính sách đi vào cuộc sống và được người dân đồng tình, ủng hộ. Mặt khác, những bài học rút ra từ tổ chức thực thi chính sách giúp các nhà quản lý có được thông tin phản hồi để tiếp tục hoàn thiện chính sách, đặc biệt là thông tin phản hồi từ khâu giám sát và đánh giá chính sách.

1.4. Năng lực tài chính của địa phương

Chính sách việc làm luôn thể hiện những tham vọng của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, năng lực tài chính của địa phương nhiều khi không cho phép chính quyền địa phương thực hiện các chính sách nhiều tham vọng, dù biết rằng chính sách đó phù hợp với nhu cầu của các bên liên quan, đặc biệt là người lao động. Một địa phương có sự phát triển kinh tế mạnh, nguồn thu ngân sách lớn là yếu tố quyết định đến một chính sách việc làm có tính bao phủ rộng hơn là chính sách chỉ có tính chất ưu tiên.

2. Yếu tố tác động từ môi trường kinh tế, chính trị, xã hội

2.1. Đặc điểm của lao động địa phương

Đặc điểm của lao động địa phương là cơ sở cho hoạch định chính sách việc làm và gián tiếp ảnh hưởng đến nội dung của chính sách việc làm. Sự tăng trưởng mạnh về quy mô của lực lượng lao động địa phương sẽ tạo sức ép lớn cho chính sách việc làm. Các đặc điểm nhân khẩu học như cơ cấu giới tính, cơ cấu tuổi của lực lượng lao động, cơ cấu dân tộc, tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến chính sách việc làm. Trình độ dân trí, hồ sơ giáo dục, trình trạng thu nhập, xuất thân của người lao động, thói quen và truyền thống văn hóa của người dân địa phương… đều là những đặc điểm cần quan tâm khi hoạch định chính sách việc làm. Nếu xây dựng chính sách việc làm không tính tới các đặc điểm này có thể dẫn đến chính sách sai, không phù hợp với đặc điểm lao động địa phương.

2.2. Sự phát triển kinh tế của các địa phương lân cận

Sự phát triển kinh tế ở các địa phương lân cận ảnh hưởng đến chính sách việc làm của địa phương trên hai khía cạnh.

Thứ nhất, kinh tế địa phương lân cận phát triển hay không sẽ thu hút việc di cư lao động đi và di cư lao động đến, vì vậy chính sách việc làm của địa phương phải tính tới đặc điểm của lao động di cư đi, lao động ở lại địa phương và lao động di cư đến.

Thứ hai, phát triển kinh tế địa phương lân cận sẽ ảnh hưởng đến các chính sách kinh tế tạo việc làm ở địa phương xét trên khía cạnh thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào địa phương để tạo việc làm, cũng như hợp tác kinh tế với các địa phương lân cận để tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất.

2.3. Chiến lược và chính sách việc làm quốc gia

Những định hướng từ chiến lược và chính sách việc làm quốc gia là cơ sở cho những mục tiêu và các giải pháp chính sách việc làm ở địa phương. Chính sách việc làm quốc gia có thể tạo ra những cơ hội và những thách thức cho chính sách việc làm ở địa phương. Những vấn đề về việc làm mà chính sách việc làm quốc gia đã giải quyết có thể giảm gánh nặng cho chính sách việc làm địa phương. Tuy nhiên, có những vấn đề việc làm đặc thù của từng địa phương mà chính sách việc làm quốc gia không thể bao quát được, vì vậy cần có những nội dung giải quyết các vấn đề đặc thù này trong phạm vi chính sách của địa phương.

2.4. Sự phi tập trung hóa trong ban hành chính sách việc làm

Sự phi tập trung hóa trong ban hành chính sách là điều kiện thúc đẩy sự linh hoạt chính sách của địa phương để giải quyết các vấn đề việc làm có tính chất địa phương. Tuy nhiên, phạm vi phi tập trung hóa phù hợp sẽ ảnh hưởng đến mối quan tâm của địa phương cũng như năng lực của chính quyền địa phương trong giải quyết việc làm. Một thể chế tập trung hóa sẽ dẫn đến sự không linh hoạt, bị động và “chờ đợi” của địa phương trong các vấn đề về việc làm. Sự phi tập trung rộng mở tạo thuận lợi cho chính sách việc làm linh hoạt ở địa phương, như chủ động hợp tác với các đối tác trong đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chủ động trong xác định đối tượng và mức hỗ trợ giải quyết việc làm, trong lựa chọn các giải pháp phát triển kinh tế địa phương, huy động các nguồn lực cho thực thi chính sách việc làm…

2.5. Sự hỗ trợ và phối hợp của các tổ chức có liên quan

Ngoài chính quyền địa phương thì các tổ chức có liên quan khác đóng vai trò không thể thiếu trong đề xuất cũng như triển khai chính sách việc làm. Một số tổ chức chính trị - xã hội như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam. Bên cạnh đó, các tổ chức cung cấp dịch vụ việc làm, các trường cao đẳng, đại học, các trung tâm dạy nghề, các tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là những tổ chức ảnh hưởng trực tiếp tới việc hoàn thiện và triển khai chính sách việc làm. Một số tổ chức cộng đồng, các tổ chức xã hội, các cơ quan phát thanh truyền hình, báo chí cũng là những lực lượng có tác động lớn đến xây dựng và thực thi chính sách việc làm.

2.6. Các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương

Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến đặc điểm dân cư, đặc điểm lao động cũng như những lợi thế, bất lợi đối với phát triển kinh tế - đó là những thông tin ảnh hưởng đến mục tiêu và giải pháp chính sách việc làm. Địa phương có xuất phát điểm kinh tế cao, điều kiện kinh tế thuận lợi, ổn định sẽ là cơ hội cho chính sách việc làm và ngược lại. Môi trường xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ tới chính sách việc làm qua yếu tố trình độ dân trí, gia tăng dân số tự nhiên, gia tăng dân số cơ học, phong tục, tập quán vùng miền…

3. Giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương trong giải quyết việc làm.

Giải quyết việc làm cần sự vào cuộc đồng bộ của hệ thống chính trị, các cấp, các ngành. Đó không phải là việc riêng của các cơ quan chuyên môn, mà cần đến sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương từ tỉnh đến xã, phường, thị trấn. Đặc biệt, cần phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị, địa phương. Địa phương nào có tỷ lệ thất nghiệp cao, thiếu việc làm nhiều cần xem xét đến trách nhiệm người đứng đầu, đưa tiêu chí giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện đời sống người dân là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo, điều hành và bố trí, sử dụng, đãi ngộ cán bộ…

Hai là, xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đảm bảo chất lượng.

Địa phương cần chú trọng xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo tính khoa học, khả thi và phù hợp khả năng đáp ứng các nguồn lực. Theo đó, cần có quy hoạch cụ thể các sản phẩm chủ lực, quy hoạch các điểm, cụm, khu công nghiệp. Tránh co cụm vào một vài đơn vị cấp huyện, mà cần tính toán đến các yếu tố về giao thông, cơ sở hạ tầng, đến tập quán lao động sản xuất của người dân. Với những địa phương có sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đặc trưng địa phương cần có biện pháp để quảng bá, giới thiệu sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, từ đó tạo được công ăn việc làm bền vững cho lao động nông thôn.

Tránh sự phát triển theo hướng tự phát, dẫn đến manh mún trong sản xuất, đầu tư. Đồng thời, cần có cơ chế để các địa phương trao đổi, học hỏi kinh nghiệm hay, những mô hình tốt trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, nhất là với những địa phương có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.

Ba là, đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Các địa phương cần đánh giá nhu cầu việc làm của người lao động, đồng thời gắn với công tác phân tích dự báo để mở các lớp dạy nghề cho lao động nông thôn được phù hợp. Ưu tiên những ngành nghề có thời gian học tập ngắn, phân khúc đối tượng học nghề, mở rộng đào tạo những nghề để người lao động nông thôn có thể làm trong thời gian nhàn rỗi giữa mùa vụ như thêu, ren, đan lát, may mặc...

Bốn là, mở rộng các hình thức xuất khẩu lao động.

Tổ chức tốt hoạt động dịch vụ việc làm. Hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm cần chú trọng đến hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, thông tin thị trường lao động. Tăng cường phối hợp hoạt động giữa các trung tâm giới thiệu việc làm, giữa trung tâm với các doanh nghiệp, người sử dụng lao động. Đặc biệt, chú trọng giới thiệu về văn hóa, truyền thống, luật pháp của các nước nhận lao động Việt Nam sang làm việc, tránh tình trạng lao động Việt Nam không được tiếp nhận do không hòa nhập và thiếu hiểu biết về văn hóa, phong tục, tập quán của nước sở tại.

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng của địa phương cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các đơn vị giới thiệu việc làm, xúc tiến xuất khẩu lao động tránh để xảy ra tình trạng lừa đảo người lao động của một số công ty nhằm thu lợi bất chính. Tăng cường kết nối thông tin về xuất khẩu lao động thông qua các cơ quan chức năng từ cấp tỉnh đến huyện và xã đảm bảo sự chính thống của các thông tin xuất khẩu lao động.

Năm là, hoàn thiện và thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi phát triển sản xuất, tạo việc làm, chính sách hỗ trợ học nghề, hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, ưu tiên cho người nghèo.

Tiếp tục thực hiện chiến lược, các chương trình, đề án về việc làm và dạy nghề, cần nghiên cứu xây dựng chương trình việc làm cho người thất nghiệp, thiếu việc làm. Chính sách việc làm phải phát huy được các nguồn lực của xã hội vào việc tạo việc làm và đảm bảo việc làm. Thực hiện các cơ chế, chính sách ưu đãi (gồm những giải pháp ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ về đất đai và ưu đãi tín dụng, hỗ trợ về đào tạo nhân lực chất lượng cao thuộc ngành nghề mũi nhọn) để khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo với các hình thức khác nhau như đặt hàng với các cơ sở đào tạo, tự tổ chức đào tạo nhân lực và thành lập các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp để đào tạo nhân lực cho bản thân doanh nghiệp và cho xã hội. Huy động các nguồn vốn của người dân để đầu tư xây dựng cơ sở đào tạo, tổ chức các loại quỹ khuyến học, khuyến tài...

Sáu là, xử lý kịp thời hành vi vi phạm pháp luật đất đai, đặc biệt là tình trạng quy hoạch treo.

Cần kiểm tra, thanh tra thường xuyên tình hình sử dụng đất đai và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, xử lý dứt điểm việc chuyển mục đích sử dụng đất tùy tiện, lấn chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái phép. Đồng thời, phải xác định rõ trách nhiệm và có chế tài cụ thể đối với các ngành, các cấp, tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Từ đó, phát hiện ngăn chặn và xử lý nghiêm những trường hợp phê duyệt dự án không theo quy hoạch, kế hoạch và quy hoạch “treo”; giao đất, cho thuê đất không đúng thẩm quyền; buông lỏng quản lý để người sử dụng đất tự chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật.

Bảy là, tạo mặt bằng sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư và đấu giá quyền sử dụng đất đối với các dự án đầu tư để loại bỏ cơ chế xin - cho.

Thực trạng hiện nay, một số nhà đầu tư rất thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh, nhưng các khu công nghiệp cả nước mới lấp đầy 45% diện tích, do đó phải đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng để tạo quỹ đất cho các nhà đầu tư tại các khu công nghiệp, hoặc thu hồi các phần đất sử dụng không hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức để tạo quỹ đất cho doanh nghiệp.

Chính sách việc làm của địa phương chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố theo hướng tích cực hay tiêu cực, trực tiếp hay gián tiếp, ở phạm vi rộng hay hẹp. Do đó, các chủ thể chính sách của chính quyền địa phương phải có khả năng trực quan tốt, có sự phán đoán, nhạy bén linh hoạt, có khả năng phân tích, đánh giá một cách logic, khoa học. Điều này giúp cho việc hoạch định và tổ chức thực thi chính sách việc làm đạt các mục tiêu đặt ra./.

---------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Sáng kiến quản lý về giới và chính sách kinh tế ở châu Á - Thái Bình Dương: việc làm và thị trường lao động, Trung tâm Vùng Châu Á - Thái Bình Dương, Thái Lan, (2012).

2. John Maynard Keynes (1994), “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất, tiền tệ”, Nxb Giáo dục, sách dịch.

3. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Giáo trình Chính sách kinh tế - xã hội, Nxb Khoa học kỹ thuật, 2012.

4. Peter Aucoin (1971), Lý thuyết và nghiên cứu về hoạch định chính sách, Nxb Macmillan,Toronto, Canada.

5. Thomas R Dye (2012), Understanding Public Policy, Pearson.

6. Học viện Chính trị khu vực I (2010), Giáo trình môn Đường lối, chính sách, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.  

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng

8. Luật Đất đai năm 2013.

 

ThS Lương Thị Quyên - Trưởng khoa, Khoa Nhà nước và pháp luật, Trường Chính trị tỉnh Hải Dương

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Hà Nội: Chú trọng cải cách hành chính về tài nguyên, đất đai

Ngày đăng 21/01/2020
Năm 2020, ngành tài nguyên môi trường Thủ đô tiếp tục chú trọng công tác cải cách hành chính, như đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tăng tỷ lệ giải quyết thủ tục hành chính qua mạng; giảm phiền hà, tăng sự hài lòng của người dân.

Chuyển biến trong thực hiện trách nhiệm nêu gương ở Đảng bộ thành phố Nam Định

Ngày đăng 20/01/2020
Thời gian qua, Đảng bộ thành phố Nam Định đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định về nêu gương của Trung ương, của Tỉnh ủy nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Hà Nội: Kiên quyết thu hồi Quyết định bổ nhiệm cán bộ không đủ điều kiện theo quy định

Ngày đăng 20/01/2020
Để siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, chấn chỉnh công tác tổ chức cán bộ đối với các cơ quan, đơn vị thuộc Thành phố, thời gian tới, Hà Nội sẽ thường xuyên rà soát điều kiện tiêu chuẩn bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý; kiên quyết thu hồi quyết định bổ nhiệm hoặc không bổ nhiệm lại đối với những trường hợp không đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định.

Cử tri ủng hộ thành lập xã Bình Lộc, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa

Ngày đăng 17/01/2020
Báo cáo của UBND tỉnh Khánh Hòa gửi Bộ Nội vụ và các cơ quan có liên quan về việc sáp nhập đơn vị hành chính hai xã Diên Bình, Diên Lộc để thành lập xã mới là xã Bình Lộc thuộc huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa cho thấy, đa số cử tri ủng hộ việc sáp nhập này.

Quảng Bình: Thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Ngày đăng 17/01/2020
Năm 2019, cấp ủy, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh Quang Bình đã huy động sức mạnh tổng hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở (QCDCCS), gắn với công tác xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh. Nhờ vậy, việc thực hiện QCDCCS trên một số nhiệm vụ chính trị trọng tâm, ở các loại hình cơ sở, lĩnh vực tiếp tục đi vào nền nếp và ngày càng phát huy hiệu quả.

Tiêu điểm

Tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt

Trong những năm qua, Đảng ta đã có nhiều chỉ đạo quan trọng nhằm tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, như: Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/01/2012 một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc (ĐBTQ) lần thứ XII của Đảng; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”.v.v. Nhà nước đã thể chế hóa thành pháp luật để thống nhất thực hiện trong toàn hệ thống chính trị và xã hội.