Hà Nội, Ngày 16/12/2019

Trao quyền tự chủ đại học của Nhật Bản và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngày đăng: 02/12/2019   03:52
Mặc định Cỡ chữ
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập nêu rõ: đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm tinh gọn, có cơ cấu hợp lý, có năng lực tự chủ, quản trị tiên tiến, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; giữ vai trò chủ đạo, then chốt trong thị trường dịch vụ sự nghiệp công; cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu có chất lượng ngày càng cao. Bài viết nghiên cứu một số vấn đề về trao quyền tự chủ đại học của Nhật Bản, từ đó rút ra những kinh nghiệm đối với Việt Nam.

1. Thực trạng nền giáo dục ở Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những quốc gia có nền giáo dục hiện đại và phát triển so với các nước khu vực và trên thế giới. Nếu như năm 1949, lần đầu tiên Nhật Bản có công dân được nhận giải Nobel vật lý thì chỉ trong vòng 15 năm (2000-2014) đã có 13 nhà khoa học người Nhật Bản được nhận giải Nobel trong các lĩnh vực, chỉ xếp sau Mỹ và Anh(1). Năm 2018, Giáo sư Tatsuku Honjo đã được trao giải Nobel y học(2). Kết quả đó có nguyên nhân do những chính sách phát triển hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng của Nhật Bản.

Luật Giáo dục cơ bản của Nhật Bản quy định rằng sự độc lập, tự chủ, giá trị của giáo dục và nghiên cứu của các tổ chức giáo dục đại học sẽ được tôn trọng. Nguyên tắc tự chủ tự trị này đã được đảm bảo bởi quyết định của Tòa án tối cao Nhật Bản(3).

Hệ thống giáo dục đại học ở Nhật Bản được đổi mới căn bản và mạnh mẽ từ năm 2004, được xây dựng và quản lý dựa trên các nguyên tắc độc lập, tự chủ và tự do sáng tạo. Đây chính là một trong những nguyên nhân để lý giải thành công của các nhà khoa học Nhật Bản trong việc giành được các giải Nobel khoa học, là kết quả của nền giáo dục đại học khai phóng.

Giáo dục đại học của Nhật Bản bao gồm ba cấp độ: cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ, ngoài ra còn có hệ thống các trường cao đẳng dạy nghề. Thời gian đào tạo đối với mỗi cấp bậc là khác nhau: đối với bậc cử nhân là 4 năm, thạc sĩ là 2 năm, tiến sĩ là 5 năm và đào tạo nghề là 2 năm. Các trường đại học về cơ bản được chia thành ba loại: đại học quốc gia; đại học công lập và đại học tư.

- Các trường đại học quốc gia được thành lập ở tất cả các địa phương nhằm cải tiến, phát triển cân bằng của giáo dục đại học và nghiên cứu học thuật Nhật Bản, đóng vai trò quan trọng như các trung tâm nghiên cứu địa phương. Từ năm 2004, các trường này được công nhận như các công ty, tập đoàn nhằm nâng cao tính độc lập, tự chủ để tăng cường các hoạt động đào tạo và nghiên cứu.

- Các trường đại học công lập được thành lập và quản lý bởi chính quyền địa phương, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp cơ hội giáo dục đại học, các trung tâm tri thức và văn hóa trong cộng đồng tại địa phương.

- Các trường đại học tư thục chiếm khoảng 80% số lượng các trường đại học trên toàn Nhật Bản và có khoảng 80% sinh viên đại học theo học. Mỗi trường đại học tư thục quảng bá cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu một cách riêng biệt, độc đáo dựa trên các giá trị cốt lõi. Các trường này đóng vai trò quan trọng cả về số lượng và chất lượng trong sự phát triển giáo dục đại học của Nhật Bản.

Theo đó, tất cả các trường đại học quốc gia (trước đây là một bộ phận của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ - MEXT) đã được tổ chức lại thành các tập đoàn. Việc cải cách các trường đại học quốc gia nhằm mục đích đẩy mạnh sự độc lập và tự chủ, cải thiện hoạt động giáo dục và nghiên cứu; điều đó cho phép mỗi trường đại học quốc gia trở nên độc lập, có quyền quyết định về các vấn đề nhân sự, ngân sách, tự quản lý theo trách nhiệm và có quyền tự định đoạt dưới sự lãnh đạo của chủ tịch trường.

2. Mô hình tập đoàn trong quản trị đại học ở Nhật Bản 

Tổng công ty, tập đoàn đại học quốc gia được điều hành thông qua hệ thống Hội đồng quản trị, bao gồm chủ tịch và người được ủy thác, thành lập các bộ phận quản lý, giáo dục và các ban điều hành cần thiết khác. Tập đoàn đại học quốc gia sẽ mời những người bên ngoài tham gia thành viên của Hội đồng trường và trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý.  

2.1. Về bộ máy tổ chức 

2.1.1. Hội đồng quản lý

Là cơ quan hoạt động theo chế độ thảo luận tập thể về các vấn đề liên quan đến quản lý tập đoàn. Mỗi tập đoàn đại học quốc gia phải xây dựng một kế hoạch hoạt động trung hạn dựa trên các mục tiêu cho giai đoạn 6 năm đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ đề ra, tự thúc đẩy hoạt động giáo dục và nghiên cứu của trường theo kế hoạch đó. Những nỗ lực trong việc thành lập mô hình tập đoàn nhằm thúc đẩy độc lập, tự chủ của các trường đại học của Nhật Bản.

Mỗi trường đại học quốc gia có Chủ tịch trường và bộ máy điều hành. Khác với trước kia là một hội đồng thì nay được thành lập 03 hội đồng trong mỗi trường, gồm: 1) Hội đồng quản trị là bộ phận cao nhất có quyền quyết định về tài chính và do Chủ tịch trường đứng đầu; 2) Hội đồng quản lý, điều hành có trách nhiệm quyết định các vấn đề về hành chính, điều hành hoạt động của trường; 3) Hội đồng giáo dục và nghiên cứu thực hiện những nhiệm vụ liên quan đến đào tạo và nghiên cứu. Như vậy, đã có sự phân công trách nhiệm giữa ba hệ thống cơ quan này nhưng Chủ tịch là người có quyền ra quyết định cuối cùng dựa trên sự hỗ trợ của Hội đồng quản trị(4).

Để tập trung quyền lực cho Chủ tịch và Hội đồng quản trị trường, các trường đại học quốc gia đã giảm các cuộc họp mang tính chất ra quyết định tập thể, ví dụ như trước khi áp dụng chế độ tự chủ, các trường thường thành lập các tiểu ban để tham gia quyết định các nội dung có liên quan. Ví dụ: Đại học giáo dục Aichi đã giảm số lượng các cuộc họp từ 19 xuống còn 7 cuộc họp/năm; giảm số lượng các ủy ban từ 36 xuống 24, số lượng thành viên các ủy ban từ 400 xuống còn 100 người(5).

Việc tăng quyền quyết định cho Chủ tịch trường và giảm các quyết định mang tính chất tập thể đã thể hiện rõ tầm quan trọng của chế độ lãnh đạo cá nhân, đảm bảo mọi vấn đề được quyết định nhanh và Chủ tịch là người đứng đầu chịu trách nhiệm về các quyết định của mình. Tuy nhiên, các trường đại học quốc gia của Nhật Bản cũng phải đối mặt với thách thức trong việc lựa chọn được Chủ tịch trường là người có năng lực điều hành, quản lý bởi vì hầu hết họ là những người làm công tác chuyên môn, giảng dạy nên thiếu những kinh nghiệm, kỹ năng trong lãnh đạo điều hành. 

2.1.2. Hội đồng quản lý/Hội đồng hành chính: là hội đồng có cả các chuyên gia bên ngoài trường tham gia vào điều hành quản lý ở nhiều nội dung khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi trường. 

2.2. Về ngân sách

Tự chủ về tài chính là một trong những điều kiện tiên quyết đảm bảo quyền độc lập, tự chủ của các tập đoàn đại học quốc gia ở Nhật Bản. Hiện nay, nguồn kinh phí cho các trường đại học ở Nhật Bản chủ yếu được chia thành ba loại: kinh phí chi cho hoạt động thường xuyên; kinh phí cạnh tranh dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học của mỗi cá nhân; nguồn trợ cấp cho sinh viên. Nhà nước sẽ cấp các khoản kinh phí này cho các trường đại học quốc gia. Bên cạnh đó, Nhật Bản áp dụng chính sách phân bổ ngân sách dựa trên sự cạnh tranh giữa các trường đại học quốc gia, đại học công lập và đại học tư thục thông qua các nguồn kinh phí tài trợ (các dự án). Các trường đại học cần phải đẩy mạnh cải cách, xây dựng các dự án để xin các nguồn tài trợ từ Chính phủ Nhật Bản.

Ngân sách phân bổ cho mỗi trường đại học sẽ được thực hiện dưới dạng trợ cấp hoạt động một lần, trong đó bao gồm cả tiền lương của nhân viên. MEXT sẽ phân bổ ngân sách dựa trên kế hoạch và mục tiêu trung hạn mà mỗi trường đã xây dựng. Sau khi được Bộ trưởng Bộ giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ chấp thuận, các trường đại học quốc gia sẽ nhận được ngân sách (trợ cấp hoạt động) tương ứng với kế hoạch trung hạn(6). Do đó, việc phân bổ ngân sách cho các trường đại học công lập của Nhật Bản dựa trên đề án thực hiện kế hoạch trung hạn và theo hình thức trợ cấp hoạt động, nghĩa là các trường có quyền chủ động trong việc sử dụng nguồn trợ cấp (bao gồm cả tiền lương của nhân viên) theo kế hoạch đã được phê duyệt.

Tăng nguồn thu là một trong những điều kiện để đảm bảo tự chủ cho các trường đại học quốc gia. Học phí và lệ phí tuyển sinh hiện nay là nguồn thu nhập riêng cho các tập đoàn đại học quốc gia. Mỗi trường được phép tăng học phí và lệ phí tuyển sinh lên tới 10% so với tiêu chuẩn do MEXT quy định. Trên cơ sở mức học phí sàn và lệ phí tuyển sinh do MEXT quy định, các trường có thể chủ động quyết định mức thu để đảm bảo có đủ nguồn ngân sách, bên cạnh các khoản trợ cấp của Chính phủ.

Ngoài ra, một số trường đại học còn tăng nguồn thu thông qua hoạt động hợp tác ba bên giữa Chính phủ - trường học - doanh nghiệp và có nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau được thực hiện dựa trên ý tưởng đề xuất của các trường đại học. Hầu hết các trường đại học đều đẩy mạnh hoặc tăng số lượng văn phòng cấp phép có liên quan đến công nghệ và các hoạt động hợp tác khác. 

2.3. Về nhân sự

Các giáo viên và nhân viên của trường đại học quốc gia không phải là công chức. Quy định không áp dụng chế độ công chức nhằm cho phép các trường đại học quốc gia có thể áp dụng chế độ tuyển dụng, hệ thống thang bảng lương và các điều kiện khác có liên quan đến nhân sự một cách linh hoạt hơn. Tất cả nhân viên không thuộc biên chế của trường, khoa thì được bổ nhiệm bởi chủ tịch trường, còn những chuyên viên cao cấp như tổng thư ký hay giám đốc do Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ quyết định.

Hiện nay, các giảng viên, nhân viên sẽ do chủ tịch trường ra quyết định bổ nhiệm. Các trường đều áp dụng cách thức tuyển dụng dựa vào quyết định tuyển dụng giáo viên của các khoa (các trường chuyên ngành).

Quyền tự chủ trong quyết định số lượng người lao động (biên chế) cũng là một trong những nội dung cải cách của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ. Trước cải cách, biên chế được quy định cụ thể về số lượng và từng vị trí việc làm, do đó các trường không có quyền chủ động trong việc quyết định số lượng nhân viên, hay đổi mới tổ chức nhân sự nếu không được phép. Sau khi đổi mới mô hình hoạt động, các trường có quyền chủ động trong việc quyết định nhân sự phù hợp với nguồn ngân sách dưới sự điều hành, chỉ đạo của chủ tịch trường để có thể khai thác tối đa nguồn nhân lực. Một số trường đại học xóa bỏ chế độ biên chế nhân sự cho từng khoa mà áp dụng chế độ quản lý chung cho toàn trường để có thể luân chuyển, bổ sung nhân sự giữa các khoa. 

3. Quản lý chất lượng đào tạo đại học(7) 

Quản lý chất lượng đào tạo đại học là một trong những yêu cầu quan trọng trong quản trị đại học hiện đại ở Nhật Bản, được thực hiện thông qua các hoạt động sau:

- Kiểm toán: để quản lý chất lượng, mỗi trường đại học quốc gia cần có bộ phận kiểm toán (kiểm toán nội bộ). Mỗi bộ phận kiểm toán cần có ít nhất 02 kiểm toán viên có vị trí như giám đốc để kiểm toán toàn bộ các hoạt động. Mặc dù hệ thống kiểm toán nội bộ không hoạt động hiệu quả ở tất cả các trường đại học của Nhật Bản nhưng một số trường đã sử dụng kết quả kiểm toán một cách tích cực để nâng cao chất lượng quản lý của mình. Từ năm 2004, đã có 41/93 trường thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ, ví dụ như Trường đại học Yokohama đã thành lập bộ phận kiểm toán gồm có 8 nhân viên dưới sự điều hành của chủ tịch trường để thực hiện hoạt động kiểm toán nội bộ và kiểm toán bên ngoài.

- Đánh giá các hoạt động: đánh giá nhân viên (đánh giá cá nhân): sau khi cải cách, các trường đại học quốc gia đều xây dựng hệ thống đánh giá nhân viên. Bên cạnh cách đánh giá truyền thống dựa trên các đồng nghiệp, thì các trường đại học áp dụng cách đánh giá dựa trên bằng chứng để đánh giá giảng viên như số lượng các công trình nghiên cứu, thông qua đó nâng cao chất lượng các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy.v.v. Một số trường đại học áp dụng cách đánh giá ở cấp độ đơn vị thay cho đánh giá cá nhân. Tuy nhiên, việc đánh giá này cũng thông qua thông tin của mỗi cá nhân được cập nhật trên hệ thống dữ liệu để đánh giá hoạt động của đơn vị đó.

- Ủy ban đánh giá tập đoàn đại học quốc gia (trực thuộc MEXT):  Ủy ban sẽ đánh giá kết quả hoạt động của từng tập đoàn dựa vào kết quả năm học và việc hoàn thành các kế hoạch trung hạn do tập đoàn đề ra. Ủy ban thực hiện hoạt động đánh giá thông qua hoạt động tự đánh giá, giám sát của mỗi trường đại học. Hoạt động đánh giá hàng năm của Ủy ban được dựa trên 5 cấp độ/tiêu chí: 1) Mức độ cải tiến và tối ưu hóa tập đoàn; 2) Cải thiện các hạng mục tài chính; 3) Tự giám sát, đánh giá và công bố thông tin (công khai, minh bạch thông tin); 4) Các vấn đề kinh doanh khác; 5) Nâng cao chất lượng nghiên cứu giáo dục và các dịch vụ liên quan khác.

Kết quả đánh giá của Ủy ban có ý nghĩa quan trọng đối với các trường đại học quốc gia vì đây là điều kiện để được xem xét cấp kinh phí cho các hoạt động cụ thể theo kế hoạch trung hạn đã đề ra.

4. Một số kinh nghiệm đối với Việt Nam

Qua nghiên cứu chế độ tự chủ đối với các trường đại học quốc gia ở Nhật Bản, có thể rút ra một số kinh nghiệm trong việc cải cách giáo dục đại học và xây dựng mô hình quản trị đại học hiện đại ở Việt Nam, góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 6, khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập như sau:

Thứ nhất, cần nghiên cứu việc trao quyền tự chủ cho các trường trong việc xây dựng các kế hoạch hoạt động theo yêu cầu phát triển của xã hội: đào tạo đại học gắn liền với nhu cầu của thị trường, các trường đại học cần chủ động xây dựng kế hoạch phát triển cho các giai đoạn trung hạn và dài hạn, đảm bảo chuẩn đầu ra đáp ứng các yêu cầu của nhà tuyển dụng trong và ngoài nước. Các chương trình đào tạo cần được cải tiến cho phù hợp với các chương trình đào tạo tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, dần xóa bỏ khoảng cách trong các chương trình đào tạo (chương trình đào tạo hội nhập).

Thứ hai, các trường đại học cần đổi mới mô hình quản trị theo dạng tập đoàn hay doanh nghiệp, trong đó đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy các trường đại học được vận hành theo bộ máy của một tập đoàn, công ty có chủ tịch và hội đồng quản trị, bên cạnh đó có hệ thống các Hội đồng quản lý, Hội đồng giáo dục và nghiên cứu, bộ phận giúp việc, có sự phân công rõ trách nhiệm, quyền hạn. Chủ tịch tập đoàn là người có quyền đưa ra các quyết định và chịu trách nhiệm về các quyết định đó. Cơ chế này đảm bảo việc tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu, giảm các quyết định mang tính chất tập thể (giảm số lượng các cuộc họp quyết định các vấn đề theo đa số).

Thứ ba, áp dụng cơ chế cạnh tranh trong việc phân bổ ngân sách nhà nước và quyền tự chủ về tài chính cho các trường. Hiện nay xu hướng tự chủ ở các trường đại học lớn ở Việt Nam là phấn đấu tự chủ 100% về nguồn tài chính. Tuy nhiên, nếu áp dụng tự chủ 100% có thể dẫn đến tình trạng một số trường không thu hút được sinh viên, không thể có đủ nguồn thu; hoặc phải tăng mức học phí tối đa để đảm bảo nguồn thu. Hai khả năng này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến người học cũng như không đảm bảo cho một số ngành đào tạo đặc thù. Kinh nghiệm của Nhật Bản là không xóa bỏ hoàn toàn phần ngân sách nhà nước cấp, mà việc cấp ngân sách sẽ được thực hiện trên cơ sở kế hoạch hoạt động của mỗi trường cũng như mục tiêu mà cơ quan quản lý đã đề ra để đảm bảo việc phân bổ và sử dụng ngân sách hiệu quả.

Các trường đại học cần được tự quyết định và chủ động về khai thác, tìm kiếm các nguồn tài chính; cách thức sử dụng các nguồn tài chính và tài sản hiện có, đầu tư cho tài sản tương lai; cân đối các nguồn tài chính thu, chi nhằm đảm bảo hệ thống tài chính minh bạch, tuân thủ pháp luật và không vụ lợi(8). Các trường có quyền tự chủ trong quyết định các nguồn thu và mức chi theo quy chế chi tiêu nội bộ của trường. Thực tiễn hiện nay có những mức chi áp dụng theo quy định của Bộ Tài chính dẫn đến khó có chính sách đột phá trong chi trả tiền lương, thưởng cho đội ngũ giảng viên, nhân viên. Do đó, tự chủ về tài chính là điều kiện cần thiết để các trường có thể xây dựng các chiến lược phát triển, tăng nguồn thu, tiết kiệm chi phí, để sử dụng nguồn tài chính hiệu quả.

Thứ tư, cơ chế tự chủ cần đảm bảo cho các trường đại học có quyền chủ động quyết định về biên chế (số lượng người lao động): có chính sách thu hút nhân tài (không chỉ theo hình thức tuyển dụng viên chức như hiện nay), có cơ chế trả lương theo vị trí việc làm và không áp dụng hệ thống thang bảng lương theo thâm niên. Chủ động trong việc tuyển dụng và sử dụng nhân sự là điều kiện để các trường thu hút được những người đang làm việc ở các công ty tư nhân, ở nước ngoài trở thành các giảng viên, chuyên gia trong các trường đại học.

Thứ năm, xây dựng cơ chế kiểm tra và đánh giá chất lượng đào tạo của các trường đại học: tự chủ tạo điều kiện cho các trường đại học chủ động trong học thuật, đào tạo và nghiên cứu. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn cần giữ vai trò quản lý chất lượng đào tạo của các trường. Bên cạnh việc quy định các trường đại học tự kiểm soát và tự đánh giá thì việc thành lập một cơ quan kiểm tra, đánh giá chất lượng dựa trên bộ tiêu chí cụ thể là hết sức cần thiết. Các tiêu chí đánh giá phải được xây dựng theo chuẩn của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong nước, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển trong khu vực, đảm bảo yêu cầu hội nhập và toàn cầu hóa. Nhà nước cần phải thay đổi phương thức quản lý các trường đại học bằng cách tập trung vào đánh giá kết quả hoạt động và không can thiệp quá sâu vào các công việc nội bộ của trường. Nâng cao quyền chủ động của mỗi trường, đồng thời quy định rõ trách nhiệm, bảo đảm xử lý nghiêm minh các vi phạm./. 

-----------------------------------

Ghi chú:

(1) Vì sao người Nhật giành nhiều giải Nobel khoa học? http://nghiencuuquocte.org/2017/02/ 20/vi-sao-nguoi-nhat-gianh-nhieu-giai-nobel-khoa-hoc/

(2) Chân dung những nhà khoa học đạt giải Nobel năm 2018, http://plo.vn/video-photo-hi-hoa/ infographic/chan-dung-cac-nha-khoa-hoc-dat-giai-nobel-nam-2018-796418.html

(3) Vụ giáo dục đại học, Bộ Giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ Nhật Bản  http:// www.mext.go.jp/en/policy/education/highered/title03/detail03/__icsFiles/afieldfile/2012/06/19/1302653_1.pdf

(4),(5),(6) Jun OBA (RIHE, Hiroshima University), Incorporation of National Universities in Japan and its Impact upon Institutional Governance, accessed https://home.hiroshima-u.ac.jp/oba/docs/ incorporation 2006.pdf, tr.5.

(7) Tham khảo thông tin và dịch từ tài liệu của Jun OBA (RIHE, Hiroshima University), Incorporation of National Universities in Japan and its Impact upon Institutional Governance, accessed https://home. hiroshima-u.ac.jp/oba/docs/incorporation2006.pdf

(8) GS.TSKH Đỗ Trung Tá, Một số trao đổi về tự chủ giáo dục đại học ở Việt Nam, http://vien phuongdong-ordi.vn/mot-so-trao-doi-ve-tu-chu-giao-duc-dai-hoc-o-viet-nam/truy cập ngày 10/10/2018.

 

TS. Phan Thị Lan Hương - Trường Đại học Luật Hà Nội

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Những quy định về nghĩa vụ của công chức trong pháp luật Trung Quốc - kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngày đăng 12/11/2019
Bài viết phân tích các quy định về nghĩa vụ của công chức trong pháp luật Trung Quốc và so sánh với các quy định về nghĩa vụ của công chức trong pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật hai nước đối với nghĩa vụ của công chức. Điểm tương đồng lớn nhất trong quy định của luật pháp hai nước là công chức đều có hai nhóm nghĩa vụ chính: nghĩa vụ với Đảng, Nhà nước và nhân dân, nghĩa vụ trong thực thi công vụ. Qua đó rút ra một số kinh nghiệm cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công chức của Việt Nam.

Xu hướng mới trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ ở một số quốc gia trên thế giới

Ngày đăng 07/11/2019
Chính phủ là thiết chế quan trọng trong mô hình chính thể của mỗi quốc gia. Bài viết tập trung phân tích về xu thế quản trị công mới trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ ở một số quốc gia trên thế giới, từ đó có những gợi ý mang tính tham khảo đối với việc sửa đổi Luật tổ chức Chính phủ ở Việt Nam.

Về quyền làm chủ của nhân dân thông qua cơ chế tự quản địa phương ở một số quốc gia trên thế giới

Ngày đăng 09/10/2019
Quyền làm chủ của nhân dân là một trong những giá trị tiến bộ của nhân loại. Một trong những phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là thông qua cơ chế tự quản địa phương, theo đó bộ máy chính quyền tự quản tại địa phương được thiết lập nhằm phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương. Bài viết phân tích cơ chế tự quản địa phương của một số quốc gia trên thế giới, qua đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Hệ thống công chức và đào tạo công chức với sự phát triển của đất nước Hàn Quốc

Ngày đăng 30/08/2019
Hàn Quốc được biết đến là một trong các con rồng châu Á, từ một nước nghèo nàn chỉ trong vòng 4 thập niên đã trở thành nước thuộc khối OECD, có nhiều chỉ số về kinh tế, xã hội thuộc nhóm đầu thế giới. Đóng góp vào thành công đó có vai trò của những người lãnh đạo đất nước và của hệ thống công chức, công vụ tiên tiến, hiệu quả của đất nước. Đó là điều khiến nhiều quốc gia khác mong muốn học tập Hàn Quốc. Bài viết này là tổng hợp từ chuyến học tập, trao đổi kinh nghiệm đào tạo công chức của Đoàn cán bộ các cơ quan, bộ ngành Việt Nam tại Hàn Quốc cuối tháng 11/2018.

Kinh nghiệm cải cách hành chính dưới tiền đề số hóa tại Nhật Bản

Ngày đăng 28/08/2019
Khi các hoạt động kinh tế và lối sống của người dân đang dần thay đổi và trải qua quá trình chuyển đổi thông qua việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số, các cơ quan hành chính công cũng đang thúc đẩy các nỗ lực số hóa.

Tiêu điểm

Tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt

Trong những năm qua, Đảng ta đã có nhiều chỉ đạo quan trọng nhằm tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, như: Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/01/2012 một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc (ĐBTQ) lần thứ XII của Đảng; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”.v.v. Nhà nước đã thể chế hóa thành pháp luật để thống nhất thực hiện trong toàn hệ thống chính trị và xã hội.