Hà Nội, Ngày 16/12/2019

Một số suy nghĩ về xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược

Ngày đăng: 29/11/2019   04:23
Mặc định Cỡ chữ
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt của công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Từ Đổi mới (năm 1986) đến nay, nhất là sau hơn 20 năm thực hiện “Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, trước những đòi hỏi của giai đoạn cách mạng mới, đặc biệt là Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương lần thứ 7, khóa XII về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, cần phải có những nghiên cứu, đề xuất giải pháp mang tính đột phá nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu mà Đảng đề ra tại Nghị quyết số 26-NQ/TW.

1. Những thành tựu và hạn chế trong nhận thức lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ và cán bộ cấp chiến lược

1.1. Những thành tựu

1.1.1 Về đội ngũ cán bộ

Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã khẳng định rõ vị trí, vai trò rất quan trọng của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương (HNTW) lần thứ 3, khóa VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”. Như vậy, Đảng khẳng định phải xây dựng cho được đội ngũ cán bộ ngang tầm, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đã chia đội ngũ cán bộ thành bốn “loại”: cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân; cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang; cán bộ khoa học, chuyên gia; cán bộ quản lý kinh doanh. Nghị quyết đã xác định rõ các tiêu chuẩn cơ bản của đội ngũ cán bộ và cụ thể hóa tiêu chuẩn đối với từng loại cán bộ(1).

1.1.2. Về công tác cán bộ

Nghị quyết HNTW lần thứ 3, khóa VIII nêu 5 quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ, đó là: 1) Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; 2) Quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc; 3) Gắn việc xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng tổ chức và đổi mới cơ chế, chính sách; 4) Thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân, nâng cao trình độ dân trí để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ; 5) Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định rõ: “Đảng lãnh đạo… bằng công tác tổ chức. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị”. Điều lệ của Đảng quy định: “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ”. 

Kết luận số 37-KL/TW ngày 02/02/2009 của HNTW lần thứ 9, Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW) khóa X đã cụ thể hóa Nghị quyết HNTW lần thứ 3 khóa VIII, nêu 6 quan điểm chỉ đạo, nhấn mạnh đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc (ĐBTQ) lần thứ XII của Đảng đã xác định nội dung cơ bản của công tác cán bộ hiện nay là: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ… bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và chặt chẽ giữa các khâu, liên thông giữa các cấp; trong đó có quy chế đánh giá đúng đắn, khách quan đối với cán bộ…; đổi mới công tác bầu cử trong Đảng, phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ… để lựa chọn những người thực sự có đức, có tài giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài; tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ”.

Đại hội ĐBTQ lần thứ XII của Đảng xác định: tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Thể chế hóa, cụ thể hóa các nguyên tắc về: 1) Quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; 2) Quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ; 3) Quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu; 4) Giữa đức và tài; 5) Giữa kế thừa và phát triển; 6) Giữa sự quản lý thống nhất của Đảng với phát huy đầy đủ trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống chính trị; 7) Giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể; 8) Giữa phân cấp, phân quyền và kiểm tra, giám sát, kiểm soát để thực hiện thống nhất, đồng bộ trong Đảng và hệ thống chính trị.

Trong quá trình thực hiện Chiến lược cán bộ và nghị quyết các Đại hội ĐBTQ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cơ quan Trung ương đã ban hành nhiều quy định, quy trình về công tác cán bộ trong các nhóm công việc: đánh giá cán bộ; quy hoạch cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; luân chuyển cán bộ; tuyển chọn, bố trí, sử dụng, bầu cử, bổ nhiệm cán bộ; bảo vệ chính trị nội bộ; chính sách cán bộ; phân công, phân cấp quản lý cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng,… và tổ chức thực hiện thống nhất trong toàn Đảng(2).

1.2. Một số vấn đề nhận thức chưa đủ rõ

1.2.1. Về đội ngũ cán bộ

Một là, chưa nhận thức rõ về vị trí, vai trò của các loại cán bộ, dẫn tới chưa có cơ chế, chính sách phù hợp để xây dựng từng loại cán bộ đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Nghị quyết HNTW lần thứ 3, khóa VIII phân chia đội ngũ cán bộ thành 4 loại, nhưng trong quá trình thực hiện chưa được cụ thể hóa, chưa quan tâm xây dựng cán bộ khoa học, công nghệ, chuyên gia, cán bộ quản lý kinh tế cho các thành phần kinh tế, cán bộ cấp chiến lược…

Hai là, chưa có sự thống nhất trong nhận thức về đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đồng nhất cán bộ cấp chiến lược với cán bộ cao cấp trong lãnh đạo và quản lý (cán bộ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý)(3). Chưa thấy hết vai trò, tầm ảnh hưởng của cán bộ tham mưu cấp chiến lược, các chuyên gia khoa học, công nghệ hàng đầu, các nhà quản trị, quản lý kinh tế, các tướng lĩnh trong quân đội, công an… trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Ba là, chưa xác định rõ các nội dung, yêu cầu về năng lực, phẩm chất, uy tín ngang tầm nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là trong điều kiện nhiệm vụ chính trị đã thay đổi. Chưa phân biệt rõ ràng trong nhận thức và sử dụng cán bộ lãnh đạo chính trị với cán bộ quản lý, công chức; giữa công chức với viên chức, nên chưa có sự phân biệt trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, chính sách đãi ngộ, quy định tuổi về hưu(4).

1.2.2. Về công tác cán bộ

Thứ nhất, chưa thể chế hóa, cụ thể hóa các nguyên tắc về 09 mối quan hệ mà Đại hội ĐBTQ lần thứ XII của Đảng đã chỉ ra.

Thứ hai, nhận thức về vai trò của nhân dân trong công tác cán bộ chưa đầy đủ, chưa thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng đội ngũ cán bộ. Trên thực tế, chưa thực sự tôn trọng ý kiến phản ánh của nhân dân đối với cán bộ. Việc phát huy vai trò của nhân dân trong công tác cán bộ còn nhiều hạn chế. 

Thứ ba, nhận thức và các quy định về phát huy dân chủ trong công tác cán bộ còn nhiều hạn chế. Nhiều nội dung trong quy trình công tác cán bộ còn khép kín, chưa thực sự dân chủ, công khai, minh bạch, thiếu sự giám sát của tập thể và nhân dân, tạo cơ hội cho các tệ nạn chạy chức, chạy quyền, bổ nhiệm người nhà thay cho người tài nảy sinh và phát triển.

Thứ tư, nhận thức về quy trình bổ nhiệm, đánh giá cán bộ còn nặng về hình thức, cứng nhắc, khép kín, khó phát hiện và bổ sung người tài, người ngoài đảng vào bộ máy lãnh đạo, quản lý. Nhận thức về sử dụng cán bộ chưa thật khoa học, hợp lý.

Thứ năm, nhận thức về luân chuyển cán bộ còn nặng về hướng để bổ nhiệm, đề bạt cán bộ, coi nhẹ yêu cầu rèn luyện, đào tạo cán bộ trong thực tiễn, chưa tạo môi trường thuận lợi để cán bộ phát huy khả năng, sở trường trong thời gian luân chuyển.

Thứ sáu, nhận thức về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa ngang tầm; quá chú trọng quy mô số lượng, coi nhẹ chất lượng, chạy theo bằng cấp, chưa chú trọng đào tạo theo chức danh; chưa kịp thời bổ sung nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng trước yêu cầu, nhiệm vụ và bối cảnh mới. Chế độ học tập lý luận chính trị còn nhiều bất cập.

Thứ bảy, nhận thức về phân cấp quản lý cán bộ giữa cấp trên và cấp dưới chưa đầy đủ, chưa phù hợp với thực tiễn. Một số việc có hiện tượng bao cấp, bao sân của cấp trên đối với cấp dưới, không bảo đảm quyền làm chủ, sự chủ động tích cực và sáng tạo của cấp dưới.

Thứ tám, nhận thức và thực hiện công bằng, bình đẳng trong chính sách cán bộ chưa đầy đủ, thực hiện chưa thống nhất, nhất là trong chế độ nhà đất, phụ cấp ngành nghề, tiền lương, cán bộ chuyên trách đảng, đoàn thể, cán bộ quản lý các doanh nghiệp nhà nước…

Thứ chín, hệ thống kiểm tra, giám sát quyền lực của cán bộ thiếu hiệu quả, trách nhiệm giải trình của cán bộ chưa rõ ràng, nghiêm túc dẫn đến tình trạng đánh giá cán bộ chưa thật chặt chẽ, công bằng, tạo kẽ hở cho nạn chạy chức, chạy quyền.

1.3. Những bất cập về nhận thức cần tháo gỡ trong xây dựng đội ngũ cán bộ

Một là, cần thống nhất nhận thức về cán bộ cấp chiến lược. Hiện nay chưa có sự thống nhất nhận thức về cán bộ cấp chiến lược, dẫn đến chưa có cơ chế, chính sách rõ ràng, cụ thể đối với đội ngũ này.

Hai là, cần phân định rõ các loại cán bộ, các yêu cầu về số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn… trong giai đoạn hiện nay. Công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ phải phục vụ nhiệm vụ chính trị. Nhiệm vụ chính trị đã thay đổi thì cần phải điều chỉnh tiêu chuẩn về năng lực, phẩm chất, về cơ cấu đội ngũ cán bộ cho phù hợp.

Ba là, cần thống nhất nhận thức về nội dung, các khâu trong công tác cán bộ quy trình bảo đảm khoa học, hợp lý để hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế kinh tế thị trường đến công tác cán bộ. Xác định rõ các yêu cầu đổi mới về quy hoạch, đánh giá, luân chuyển, sử dụng cán bộ đúng sở trường, chuyên môn, nghiệp vụ. Đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng về lý luận và chuyên môn, nghiệp vụ theo chức danh cho các loại cán bộ. Triển khai nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt thống nhất trong toàn Đảng thông qua hệ thống các nhà trường của Đảng.

Bốn là, cần xác định đúng chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan làm công tác cán bộ để tập trung xây dựng cơ quan và cán bộ làm công tác cán bộ trong sạch, liêm khiết, công tâm, đủ bản lĩnh; kiên quyết đấu tranh chống suy thoái, tự diễn biến, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ. 

Năm là, cần nhận thức rõ hơn việc đầu tư cho đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược là một nhân tố gốc của cách mạng.

Sáu là, cần nhận thức đầy đủ, rõ ràng hệ thống kiểm soát, giám sát cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược.

2. Những thành tựu về xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược

2.1. Về đội ngũ cán bộ 

2.1.1. Những kết quả nổi bật

Theo các quy định về bằng cấp, trình độ đào tạo của đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị hiện nay đã được nâng lên cả về trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị. Số cán bộ có trình độ sau đại học tăng lên rõ rệt(5).

Đa số cán bộ các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ được phẩm chất đạo đức, có tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, kỷ luật. Một số cán bộ lãnh đạo các cấp có tư duy đổi mới, năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, là những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến trên các cương vị công tác. Cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, nhất là cán bộ các địa phương đã được luân chuyển, rèn luyện, thử thách trên nhiều cương vị lãnh đạo, trải qua các môi trường công tác, có kinh nghiệm thực tế. 

Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị là nhân tố có tính quyết định trong việc tổ chức thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng, hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước…

2.1.2. Những hạn chế

Về số lượng: đội ngũ cán bộ các cấp quá đông so với 20 năm trước. Trong mấy năm gần đây, số lượng cán bộ, công chức, viên chức tăng lên rất nhanh(6). Trong khi đó, đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, chuyên gia, nhất là chuyên gia đầu ngành đang suy giảm nhanh; cán bộ quản lý kinh tế cho các thành phần kinh tế chưa được đào tạo đầy đủ, sử dụng chưa hiệu quả. 

Về chất lượng và cơ cấu: 

- Đội ngũ cán bộ đông nhưng không mạnh, chưa đồng bộ về cơ cấu, độ tuổi, chưa bảo đảm tính kế thừa, chuyển tiếp; thiếu sự liên thông, đặc biệt từ cán bộ đảng, đoàn thể sang quản lý nhà nước, từ cấp xã, phường lên quận, huyện…(7). 

- Năng lực tham mưu của đội ngũ cán bộ, kể cả cấp chiến lược chưa ngang tầm nhiệm vụ. Năng lực tư duy khoa học, nhất là tư duy chiến lược còn nhiều hạn chế(8)… Không ít cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu tiên phong, gương mẫu; tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình chưa cao, chưa sâu sát, gắn bó với nhân dân.

- Một bộ phận không nhỏ cán bộ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thậm chí có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham nhũng, làm suy giảm uy tín của cả hệ thống chính trị, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, niềm tin của nhân dân, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.

2.2. Về công tác cán bộ 

2.2.1. Những kết quả nổi bật

Một là, sau hơn 20 năm thực hiện "Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH", Trung ương đã ban hành nhiều quy định, quy chế để thực hiện thống nhất trong toàn Đảng; các cấp ủy, tổ chức đảng đã cụ thể hóa các văn bản phù hợp với thực tế và tổ chức thực hiện, bảo đảm đồng bộ, liên thông. 

Hai là, các khâu trong quá trình thực hiện công tác cán bộ đã không ngừng được hoàn thiện, với nhiều quy định chung rất cụ thể, chặt chẽ(9). 

Công tác phân loại, đánh giá cán bộ được tiến hành hàng năm, nhiệm kỳ và trước khi quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, bầu cử theo quy định. Lần đầu tiên đã tổ chức việc lấy phiếu tín nhiệm trong các cơ quan dân cử và cán bộ lãnh đạo các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội(10). 

Ba là, quy hoạch cán bộ được thực hiện ở tất cả các cấp, số lượng đông, thực hiện quy hoạch “động” và “mở”; lần đầu tiên có quy hoạch vào Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương, các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016-2021 và các khóa tiếp theo. 

Bốn là, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được coi trọng, bao gồm cả cán bộ nguồn và đào tạo ở nước ngoài; nội dung, hình thức có bước đổi mới(11).

Năm là, công tác luân chuyển cán bộ được thực hiện khá nền nếp, đa số cán bộ luân chuyển đã có sự trưởng thành. 

Sáu là, công tác tuyển dụng được phân cấp, có nhiều đổi mới và chủ yếu thông qua thi tuyển, đảm bảo công khai, minh bạch, chặt chẽ hơn. 

Bảy là, quy chế bầu cử trong Đảng được bổ sung, hoàn chỉnh, phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh mới. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được đổi mới với những quy định chặt chẽ, hợp lý hơn. 

Tám là, việc thực hiện chính sách cán bộ, chính sách tiền lương có bước đổi mới, góp phần ổn định cuộc sống cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. 

Chín là, quản lý cán bộ được phân cấp mạnh mẽ, xác định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể cấp ủy và cá nhân người đứng đầu. 

Mười là, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng, thực thi pháp luật Nhà nước trong công tác cán bộ có chuyển biến, được dư luận và nhân dân đánh giá tích cực.

2.2.2. Những hạn chế

Thứ nhất, công tác cán bộ chưa có sự thống nhất giữa các khâu và thực hiện chưa đồng bộ từ trên xuống dưới. Quy định nhiều nhưng thực hiện chưa nghiêm, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ. Một số quy định còn chắp vá, không đồng bộ.

Thứ hai, việc chấp hành các nguyên tắc tổ chức của Đảng về công tác cán bộ chưa nghiêm túc và còn bị vi phạm, dẫn đến tình trạng không rõ ràng về thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân người đứng đầu, cấp trên chưa làm gương để cấp dưới noi theo.

Thứ ba, trong đánh giá cán bộ chưa thực sự tôn trọng ý kiến của nhân dân, của cơ sở; chưa thực sự dựa vào kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, thiếu công khai, minh bạch. Đánh giá không đúng cán bộ do tổ chức đảng, cấp ủy đảng mất sức chiến đấu, nể nang, dĩ hòa vi quý, bị chi phối bởi lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”.

Thứ tư, việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ ở nhiều nơi thiếu tầm chiến lược; còn khép kín; chưa liên thông giữa ngành với địa phương; nguyên tắc quy hoạch “động” và “mở” có nơi, có lúc còn bị lợi dụng. Quy hoạch chưa gắn với kế hoạch luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Quy hoạch cán bộ cấp chiến lược chưa được coi trọng, dẫn đến tình trạng hẫng hụt cán bộ.

Thứ năm, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn thiếu tính chiến lược, dài hạn. Nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức đào tạo chậm được đổi mới; còn chồng chéo, trùng lặp, nặng về lý luận, nhẹ về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng lãnh đạo, quản lý, xử lý tình huống. Tình trạng chạy theo bằng cấp diễn ra ở nhiều nơi. Nhiều trường hợp học chỉ đối phó với tiêu chuẩn hóa chức danh. Chưa thực hiện được việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh và ngạch công chức. 

Thứ sáu, quy định chưa rõ ràng và thực hiện chưa nghiêm, thống nhất về luân chuyển và chính sách đối với cán bộ được luân chuyển. Chủ trương luân chuyển, bố lãnh đạo, quản lý không là người địa phương chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Một số trường hợp luân chuyển không đúng đối tượng để xảy ra tiêu cực, gây dư luận xấu. Cơ chế luân chuyển chưa tạo điều kiện cho cán bộ được luân chuyển bộc lộ, phát huy phẩm chất và năng lực của mình trong thực tiễn. Luân chuyển cán bộ từ Trung ương xuống địa phương chưa có kế hoạch, gây khó khăn cho cấp dưới trong thực hiện đào tạo, sắp xếp, bố trí cán bộ, ngay cả sau luân chuyển…

Thứ bảy, việc tuyển chọn, tiến cử cán bộ chưa có quy định rõ ràng, chưa thực sự chọn được người thực tài, thực đức. Việc đưa con em cán bộ lãnh đạo không đủ tiêu chuẩn, bổ nhiệm nhanh, “thần tốc” vào bộ máy nhà nước có xu hướng tăng. Đã xuất hiện những tiêu cực trong các cơ quan làm công tác cán bộ, tạo nên tình trạng “cán bộ đi tìm tổ chức", đề bạt cán bộ thiếu dân chủ. Trong bổ nhiệm cán bộ còn nặng về cơ cấu; bổ nhiệm lại còn mang tính hình thức. Số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, cấp ủy, ban thường vụ các cấp tăng lên qua các nhiệm kỳ đại hội, nhưng chất lượng có mặt còn hạn chế, bất cập. Việc thí điểm thi tuyển chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện chậm. Cơ chế phát hiện, tuyển chọn, trọng dụng nhân tài chậm được ban hành; chưa thu hút được cán bộ có chất lượng cao và để “chảy máu” chất xám.

Thứ tám, việc bố trí, sử dụng cán bộ còn nhiều điểm chưa hợp lý, phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ và ngành, nghề được đào tạo; người sử dụng không được tham gia lựa chọn, bổ nhiệm, thi hành kỷ luật cán bộ, công chức do mình sử dụng.

Thứ chín, chế độ tiền lương, thu nhập, phúc lợi xã hội của cán bộ hiện nay còn bất hợp lý. Việc duy trì chế độ phụ cấp cho một số ngành, nghề dẫn đến sự bất hợp lý so với tiền lương.

Thứ mười, phân cấp quản lý cán bộ còn nhiều hạn chế, chưa tạo được sự chủ động, sáng tạo của cấp dưới; còn chồng chéo giữa các bộ, ngành, đảng ủy khối. Việc kiểm tra, giám sát cán bộ, thi hành kỷ luật Đảng, Nhà nước chậm đổi mới, có lúc không nghiêm, để xảy ra tiêu cực. Việc quy định tuổi nghỉ hưu của cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, chuyên gia đầu ngành như hiện nay ít nhiều đã làm thu hẹp khả năng lựa chọn cán bộ chủ chốt và lãng phí năng lực, “chất xám” của đội ngũ tinh hoa.

2.3. Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ 

Một là, hệ thống thể chế công tác cán bộ nhiều nhưng thiếu chặt chẽ, thậm chí bị bóp méo, không bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả. Nhiều trường hợp bổ nhiệm cán bộ sai bị phát hiện đều được khẳng định là đúng quy trình, đúng quy định. Vì vậy, cần xem xét lại nội dung của các quy trình, quy định, đồng thời kiểm soát chặt chẽ, duy trì nghiêm kỷ luật từ trên xuống, từ trong Đảng cho đến ngoài xã hội.

Hai là, đội ngũ cán bộ ngày càng tăng nhưng hiệu lực, hiệu quả xử lý công việc còn thấp và chậm. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cồng kềnh với nhiều tầng nấc trung gian, cơ cấu đội ngũ cán bộ có sự chồng chéo, trùng lặp, cản trở lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ. Do đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ tinh gọn, có chất lượng gắn với đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị hoạt động hiệu lực, hiệu quả.  

Ba là, đội ngũ cán bộ có bằng cấp ngày càng cao, nhưng năng lực, phẩm chất và uy tín chưa ngang tầm nhiệm vụ. Vì vậy, cần xem xét lại nội dung, chất lượng, cách tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng và chất lượng của các loại bằng cấp. Xem xét lại các quy định sử dụng cán bộ, trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi cấp… để phát huy được tính chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ.  

Bốn là, tình trạng thiếu đồng bộ của đội ngũ cán bộ. Trên thực tế, công tác cán bộ 20 năm qua hầu như chỉ tập trung vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, quản trị cho các thành phần kinh tế chưa được quan tâm đào tạo và sử dụng hiệu quả. Đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ, quản lý kinh tế, quản trị… còn thiếu, nhất là các cán bộ chuyên gia giỏi, đầu ngành. 

Năm là, tổ chức bộ máy làm công tác cán bộ chậm đổi mới, một số mặt chưa phù hợp với yêu cầu của tình hình mới. Hiện tượng tiêu cực “cán bộ đi tìm tổ chức”, bổ nhiệm, đề bạt sai trước hết là trách nhiệm thuộc về cấp ủy và các cơ quan làm công tác cán bộ. Chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “lợi ích nhóm” trong Đảng và xã hội trước hết phải chống từ trong các cơ quan làm công tác cán bộ, nhất là người đứng đầu(12).

3. Định hướng nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới

3.1. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng về yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín 

Thứ nhất, nâng cao hơn nữa nhận thức, tạo sự thống nhất trong toàn Đảng về vị trí, vai trò, sự cần thiết xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân. Phát huy dân chủ trong Đảng, sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của nhân dân đối với công tác cán bộ. 

Thứ hai, nâng cao nhận thức của cấp ủy và người đứng đầu về trách nhiệm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Tăng cường trách nhiệm, củng cố các cơ quan tham mưu, chuyên trách làm công tác cán bộ; nâng cao chất lượng và đảm bảo công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. 

Thứ ba, khẩn trương xác định rõ tiêu chuẩn của từng loại cán bộ trong giai đoạn mới.

3.2. Thống nhất nhận thức về cán bộ cấp chiến lược 

Cán bộ cấp chiến lược là những người có tố chất đặc biệt về phẩm chất, năng lực, uy tín, cụ thể là:

Về phẩm chất, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có lý tưởng, đạo đức cách mạng trong sáng, có khát vọng mãnh liệt đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững; sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; có uy tín cao, được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng.

Về năng lực, có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược, nắm bắt được xu hướng của thời đại; có khả năng hoạch định; đề xuất chiến lược, chính sách của Đảng, Nhà nước, quốc gia – dân tộc. Có phương pháp tiếp cận các vấn đề cần giải quyết một cách khoa học; có khả năng tổ chức giải quyết các nhiệm vụ chính trị; có khả năng sáng tạo; phát hiện, sử dụng và phát huy tối đa năng lực, sở trường của cán bộ; biết phát hiện, sử dụng người tài.

Về uy tín, có khả năng truyền cảm hứng, tạo động lực, khuyến khích cán bộ cấp dưới sáng tạo; có khả năng lôi cuốn, tập hợp, dẫn dắt lực lượng, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống, tổ chức để thực hiện tốt nhất chức trách, nhiệm vụ được giao.

3.3. Đổi mới căn bản công tác cán bộ 

Một là, đổi mới nội dung và phương pháp đánh giá cán bộ.

Đánh giá cán bộ phải đánh giá cả năng lực, phẩm chất và uy tín. Đánh giá phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả thực hiện từng công việc bằng những sản phẩm cụ thể, có tính định lượng. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đối với cán bộ cấp chiến lược, việc đánh giá còn phải căn cứ vào kết quả đổi mới, sáng tạo; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm; khả năng thích ứng nhanh với tình hình thực tiễn, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành.

Việc đánh giá cán bộ phải làm thường xuyên, hàng năm, trước khi kết thúc nhiệm kỳ hoặc chuyển công tác. Người đứng đầu đánh giá bằng văn bản đối với cấp phó và cán bộ dưới quyền trực tiếp để từng thành viên trong tập thể lãnh đạo thảo luận, quyết định theo đa số và công khai kết quả. Đánh giá để bổ nhiệm và bầu cử phải trực tiếp khảo sát, gặp gỡ trao đổi với các tổ chức, cá nhân có liên quan và ý kiến phản ánh, đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bản thân tự đánh giá; tập thể đánh giá; cấp trên đánh giá; cấp dưới đánh giá; nhân dân đánh giá.

Có cơ chế để nhân dân tham gia xây dựng và giám sát cán bộ; nhân dân phát hiện, tiến cử những người có đức, có tài cho đội ngũ cán bộ; nhân dân lựa chọn, bầu cử những người lãnh đạo trực tiếp của mình. Có chế độ quy định cán bộ tự phê bình, lắng nghe và tiếp thu những ý kiến của nhân dân, sửa chữa những khuyết điểm mà nhân dân nêu ra.

Hai là, đổi mới việc tuyển dụng, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ.

Thành lập Trung tâm tuyển dụng công chức quốc gia để thống nhất việc thi tuyển công chức cho cả hệ thống chính trị theo tiêu chuẩn, tiêu chí chung.

Quy hoạch cán bộ phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ cụ thể của cơ quan, đơn vị và thực trạng đội ngũ cán bộ hiện có. Đặc biệt, chú trọng tạo được nguồn cán bộ, tập trung vào cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị - xã hội, cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang, cán bộ khoa học và chuyên gia, cán bộ quản lý kinh doanh. Mỗi cấp, mỗi ngành phải có kế hoạch tạo nguồn cán bộ.

Xây dựng chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng đối với từng loại cán bộ. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ trước khi bổ nhiệm. Sắp xếp lại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Trung ương, tập trung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo các cấp. Xây dựng chiến lược phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược.

Thực hiện luân chuyển đối với các chức danh tương đương để đào tạo, bổ sung kiến thức toàn diện và kinh nghiệm thực tiễn cho cán bộ; những trường hợp có triển vọng phát triển được dự kiến bố trí vào chức vụ cao hơn thì luân chuyển vào các chức danh cấp trưởng ở những địa bàn, lĩnh vực trọng yếu, có nhiều khó khăn, phức tạp. Thực hiện thống nhất việc bố trí một số chức danh lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu  cấp ủy và chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương.

Ba là, đổi mới công tác bầu cử, bổ nhiệm cán bộ.

Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Quy chế bầu cử trong Đảng theo hướng bầu trực tiếp ban thường vụ, bí thư, phó bí thư; công khai, minh bạch hồ sơ nhân sự; ứng cử viên phải trình bày chương trình hành động, cam kết trách nhiệm. Thực hiện bầu cử có số dư đối với tất cả các chức danh.

Xây dựng, thực hiện cơ chế tiến cử cán bộ theo hướng: người đứng đầu, từng thành viên lãnh đạo và cấp ủy viên các cấp có trách nhiệm tiến cử người có đủ năng lực, phẩm chất và uy tín vào các vị trí lãnh đạo, quản lý phù hợp của hệ thống chính trị và chịu trách nhiệm về sự tiến cử đó. Người đứng đầu các cấp phải có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng người thay thế mình.

Bổ sung, hoàn thiện quy định và thực hiện việc bỏ phiếu tín nhiệm trong Đảng và những người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp bầu hoặc phê chuẩn.

Bổ sung, hoàn thiện quy định từ chức, miễn nhiệm chức vụ, đình chỉ và cho thôi chức vụ bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất giữa các quy định của Đảng và Nhà nước.

Bốn là, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát và quản lý cán bộ.

Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, kiểm soát, giám sát quyền lực và liêm chính của cán bộ. Đẩy mạnh phân cấp quản lý cán bộ.

Năm là, hoàn thiện hệ thống chính sách cán bộ.

Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong sử dụng, quản lý, chính sách đối với tất cả các loại cán bộ. Việc bố trí và sử dụng cán bộ phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở trường. Phát hiện, lựa chọn và giới thiệu những người đủ tiêu chuẩn trong các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế tham gia vào đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị.

Có chính sách bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần tạo động lực làm việc, sáng tạo, cống hiến cho đội ngũ cán bộ. Cải cách chế độ tiền lương, đảm bảo tiền lương thật sự trở thành nguồn thu nhập cơ bản của cán bộ, đủ tái sản xuất mở rộng sức lao động.

Sáu là, đổi mới và chỉnh đốn tổ chức bộ máy làm công tác cán bộ.

Việc xây dựng đội ngũ cán bộ phải tiến hành đồng thời với việc đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đổi mới phương thức hoạt động, cơ chế, chính sách, lề lối làm việc. 

Khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán, không rõ trách nhiệm, đặc biệt là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “lợi ích nhóm” trong công tác cán bộ. Nâng cao phẩm chất, trình độ, kiến thức và năng lực của đội ngũ làm công tác cán bộ; có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn những người công tâm, trung thực, trong sáng, có kinh nghiệm làm công tác cán bộ.

Đổi mới phong cách và phương pháp làm công tác cán bộ. Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, chú trọng tổng kết thực tiễn, xây dựng khoa học về tổ chức cán bộ. Trang bị các phương tiện làm việc hiện đại cho cơ quan tổ chức cán bộ. Đồng thời, xử lý kịp thời, nghiêm minh những vi phạm trong công tác cán bộ.

Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ; nâng cao hiệu lực và hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước. Bảo đảm quyền giám sát của nhân dân đối với cán bộ, công chức và bộ máy quản lý nhà nước.

3.4. Một số vấn đề cần tập trung thực hiện trong những năm còn lại của nhiệm kỳ khóa XII

Một là, tập trung rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp. 

Nghiên cứu số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy viên và ban thường vụ các cấp theo hướng tinh gọn, chất lượng cao. Nghiên cứu có nên có Ủy viên Trung ương dự khuyết không, nếu có cần làm rõ tính chất, tiêu chuẩn của Ủy viên Trung ương dự khuyết. Chuẩn bị tốt công tác nhân sự phục vụ Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng.

Hai là, rà soát, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách hiện hành trong công tác cán bộ.

Tập trung hoàn thiện theo hướng đơn giản hóa, rõ ràng, dễ thực hiện các quy chế, quy định về công tác cán bộ. Cải tiến việc lấy phiếu tín nhiệm cán bộ. Cụ thể hóa quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Tiếp tục đổi mới một số chính sách sử dụng và quản lý cán bộ, đảng viên, như đối với cán bộ có vấn đề về lịch sử chính trị; nhà công vụ; đối với cán bộ xã, phường, thị trấn; thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, các nhà khoa học trẻ để bổ sung cán bộ cho các lĩnh vực công tác...

Ba là, hoàn thiện công tác nghiên cứu, sớm ban hành một số quy định mới để thống nhất thực hiện tại Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng, bao gồm: đại hội các cấp trực tiếp bầu ban thường vụ và bí thư, phó bí thư. Đại hội Đảng toàn quốc bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư; nhất thể hoá một số tổ chức và chức danh lãnh đạo đảng, chính quyền ở các cấp; thống nhất quy định thi tuyển chọn cán bộ lãnh đạo cấp vụ và cấp phòng; thực hiện chế độ thực tập và tập sự lãnh đạo.

Bốn là, triển khai xây dựng các đề án về:

Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược; thực hiện chiến lược quốc gia về nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Ban hành tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể các loại cán bộ. Xây dựng mô hình, thiết kế tổng thể cơ cấu đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị. 

Đổi mới nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp đào tạo các loại cán bộ ở các cấp, bao gồm cả việc sắp xếp lại tổ chức, xác định lại nhiệm vụ của các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Xây dựng và ban hành quy chế dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ.

Xây dựng cơ chế đảng viên và nhân dân tham gia công tác cán bộ; nhân dân tham gia giám sát cán bộ và công tác cán bộ. Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng./.

-----------------------------------------------------

Ghi chú:

(1) "Tiêu chuẩn chung của các loại cán bộ được xác định là: có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước…

(2) Ban Chấp hành Trung ương khóa X có Kết luận số 37-KL/TW. Trong 2 năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành các Quyết định số 55, 89, 90, 98, 102, 109; các Kết luận số 12, 13, 30, 32, 33, 36 liên quan đến công tác cán bộ.

(3) Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XII của Đảng có đề cập đến “Đội ngũ cán bộ cấp Trung ương, cấp chiến lược chưa được tập trung xây dựng. Chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu, tư vấn cấp chiến lược”. Trong quân đội phân chia thành cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch, chiến thuật…

(4) Hiện nay, cán bộ, chuyên gia hàng đầu cơ bản đã nghỉ hưu ở tuổi 60-65 (trừ các trường hợp giảng dạy trong các học viện, nhà trường). Đa số các chuyên gia còn sức khỏe và năng lực làm việc, nhưng không được sử dụng (rất ít các đề tài nghiên cứu, đặt hàng với họ). Thực tế, chúng ta đang lãng phí một lượng chất xám rất lớn trong số các cán bộ khoa học đã nghỉ hưu.

(5) Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, số cán bộ có trình độ sau đại học tăng gần gấp hai lần sau 5 năm (từ năm 2009 đến năm 2014), chiếm 7,3% tổng số cán bộ trong hệ thống chính trị.

(6) Đội ngũ cán bộ, bao gồm công chức, viên chức và cán bộ không chuyên trách cấp xã tính đến tháng 3/2017 có 4.050.884 người, gấp 3 lần so với năm 1997.

(7) Cơ cấu không hợp lý, nặng về cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhẹ về cán bộ chuyên môn, chuyên gia. Bộ phận phục vụ ngày càng nhiều hơn.

(8) Qua thảo luận, có ý kiến cho rằng, trong đội ngũ cán bộ hiện nay, kể cả cán bộ cấp chiến lược còn nhiều nghịch lý: 1) Hiểu biết hạn hẹp, nhưng lười học, lười đọc; 2) Không giỏi, nhưng thích đăng đàn, giáo huấn; 3) Năng lực yếu, nhưng không chịu sử dụng người tài; 4) Bố trí, sử dụng cán bộ không quan tâm đến người tâm huyết công việc, chỉ sử dụng những người chạy chọt, nịnh nọt; 5) Cán bộ lý luận thì thiếu thực tiễn, cán bộ thực tiễn thì yếu lý luận; 6) Cán bộ chiến lược, nhưng thiếu tầm tư duy chiến thuật; 7) Cán bộ lãnh đạo nhiều, nhưng thiếu thủ lĩnh; 8) Nhiều cán bộ cấp chiến lược không rõ chủ thuyết, không có “chủ kiến” và thiếu chủ động; 9) Tín nhiệm trong dân thấp, nhưng tín nhiệm trong Đảng cao; 10) Đọc nhiều (chủ yếu đọc những tài liệp cấp dưới chuẩn bị), nói ít (ít nói theo tư duy, chính kiến của mình).

(9) Đó là các khâu: đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, tuyển chọn, sử dụng, phân công, phân cấp quản lý, kiểm tra, giám sát, kỷ luật, bảo vệ chính trị nội bộ và thực hiện chính sách cán bộ. 

(10) Quy định số 262-QĐ/TW ngày 08/10/2014 của Bộ Chính trị.

(11) Từ năm 2009 đến 2017, đã có 18.558 cán bộ đi nghiên cứu, học tập ở nước ngoài, trong đó theo Đề án 165 là 16.505 người.

(12) Tư tưởng này đã được thể hiện rõ trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc tổng kết năm 2017 của ngành Tổ chức, xây dựng Đảng./.

 

PGS.TS Nguyễn Viết Thông - Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ của Đảng

Ngày đăng 13/12/2019
Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta, nhất là trong công tác cán bộ. Nguyên tắc tập trung dân chủ đảm bảo cho Đảng trở thành một tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động, trên cơ sở đó trí tuệ của toàn Đảng - cội nguồn tạo nên sức mạnh của Đảng, được phát huy một cách tối đa. Vì vậy, trong công tác tổ chức, cán bộ - công tác then chốt của Đảng càng phải coi trọng và thực hiện nghiêm nguyên tắc này. Bài viết đề xuất một số giải pháp góp phần đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện hiệu quả, phát huy vai trò của nguyên tắc cơ bản, nền tảng trong công tác tổ chức, cán bộ của Đảng. 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương của cán bộ, đảng viên

Ngày đăng 11/12/2019
Nêu gương chính là việc thực hành để những giá trị của đạo đức và tài năng của người lãnh đạo được lan tỏa, dẫn dắt, truyền cảm hứng thúc đẩy mọi hành động của cấp dưới và người dân. Việc xây dựng phong cách nêu gương của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, qua đó chỉ dẫn cụ thể các hình thức nêu gương… là nội dung chính của bài viết.

Xây dựng chính quyền thân thiện ở Việt Nam hiện nay

Ngày đăng 09/12/2019
Chính quyền thân thiện là những hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước nhằm loại bỏ rào cản để gần gũi hơn và phục vụ nhân dân tốt hơn. Xây dựng chính quyền thân thiện là việc thực hiện các hoạt động của chính quyền nhằm thực hiện cải cách hành chính. Bài viết nêu lên những nội dung cơ bản đối với việc xây dựng chính quyền thân thiện, làm cho nền hành chính hoạt động hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở nước ta.

Tăng cường công tác xây dựng Đảng trong các cơ quan báo chí nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của báo chí

Ngày đăng 05/12/2019
Với vai trò là vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng và Nhà nước, báo chí cách mạng Việt Nam luôn gắn bó, đồng hành với sự nghiệp của Đảng và dân tộc; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là phương tiện quan trọng tuyên truyền phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; là diễn đàn để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, quản lý xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tôn chỉ, mục đích của báo chí cách mạng Việt Nam: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới”(1). Người cho rằng, muốn làm cách mạng, trước hết phải truyền bá tư tưởng cách mạng - tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, phải vận động, tổ chức và tập hợp lực lượng cách mạng. Báo chí cách mạng chính là công cụ để thực hiện các nhiệm vụ đó. Tư tưởng đó của Người tiếp tục được quán triệt, vận dụng, phát triển trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về báo chí, truyền thông. Nghị quyết Trung ương 5, khóa X (Nghị quyết số 16-NQ/TW) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, đã nhấn mạnh: “Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; phải bảo đảm tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo chí”.

Xây dựng hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam làm cơ sở hoàn thiện chuẩn mực đạo đức công vụ

Ngày đăng 02/12/2019
Hệ giá trị văn hóa là sản phẩm của con người, của sự phát triển xã hội và văn hóa mỗi thời đại. Thiếu hệ giá trị văn hóa sẽ thiếu đi công cụ điều tiết xã hội, dễ dẫn tới sự thiếu định hướng. Trước tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, các giá trị văn hóa và con người Việt Nam nói chung, hệ chuẩn mực đạo đức công vụ của cán bộ, công chức nói riêng cũng bị tác động theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam, trong đó có đạo đức công vụ sẽ góp phần chủ động ngăn chặn, phòng ngừa những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Tiêu điểm

Tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt

Trong những năm qua, Đảng ta đã có nhiều chỉ đạo quan trọng nhằm tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, như: Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/01/2012 một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc (ĐBTQ) lần thứ XII của Đảng; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”.v.v. Nhà nước đã thể chế hóa thành pháp luật để thống nhất thực hiện trong toàn hệ thống chính trị và xã hội.